MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC .....................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG MÔI GIỚI CỦA CÁC
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN........................................................................4
I. Những vấn đề cơ bản về Công ty chứng khoán.......................................4
1. Khái niệm Công ty chứng khoán...................................................................4
2. Vai trò của Công ty chứng khoán..................................................................5
3. Mô hình hoạt động của Công ty chứng khoán..............................................6
4. Các hoạt động cơ bản của các Công ty chứng khoán...................................7
II. Nội dung hoạt động môi giới của các Công ty chứng khoán................12
1. Hoạt động môi giới của Công ty chứng khoán.............................................12
2. Nội dung chủ yếu của hoạt động môi giới....................................................14
3. Quy trình nghiệp vụ hoạt động môi giới.......................................................17
III. Chất lượng hoạt động môi giới của Công ty chứng khoán.................21
1. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động môi giới...................................21
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động môi giới của các Công ty
chứng khoán.......................................................................................................24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG
KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN HABUBANK.........30
I. Khát quát về Công ty TNHH Chứng khoán Habubank........................30
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty...............................................30
2.Cơ cấu tổ chức, nhân sự của Công ty.............................................................31
3. Các hoạt động chính của Công ty..................................................................37
II. Thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH Chứng khoán
Habubank.......................................................................................................39
1. Thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty...................................................39
2. Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động môi giới của Công ty................51
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian nhằm thực
hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán là một
nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ một thị trường chứng khoán nào, nhất là
ở một thị trường non trẻ như ở Việt Nam. Thị trường càng phát triển thì các
Công ty chứng khoán càng phát triển các dịch vụ cho khách hàng. Đứng trên
vai trò là trung gian, là cầu nói giữa người mua và người bán, vai trò của các
công ty chứng khoán là rất quan trọng, đặc biệt là hoạt động môi giới chứng
khoán. Thị trường càng phát triển thì hoạt động môi giới càng phức tạp. Để
đáp ứng mục tiêu thoả mãn nhu cầu của khách hàng và tối đa hoá lợi nhuận
cho công ty, hoạt động môi giới phải chú trọng, đặc biệt là nâng cao chất
lượng mội giới
Nhằm mục đích nghiên cứu thị trường, nâng cao vai trò của các công ty
chứng khoán cũng như phát triển hoạt động môi giới chứng khoán, em đã
chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH
Chứng khoán Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội”
Đề tài có 3 chương, bao gồm:
Chương I: Lý luận về chất lượng hoạt động môi giới của các Công ty
chứng khoán.
Chương II: Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty
TNHH chứng khoán Habubank.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng
khoán tại Công ty TNHH chứng khoán Habubank.
Trình độ nhận thức cũng như năng lực bản thân có hạn, chuyên đề này
sẽ không tránh khỏi những hạn chế trong quá trình nghiên cứu, đánh giá cũng
như xem xét vấn đề, em kính mong các thầy cô xem xét, đóng góp ý kiến cho
em cũng như chuyên đề để chuyên đề có tính khả thi hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 3- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
Để tăng cơ hội đầu tư cho khách hàng cũng như là tăng thu nhập cho
Công ty chứng khoán thông qua việc đa dạng hoá các lĩnh vực hoạt động,
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 4- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
chức năng trung gian về vốn được thể hiện đặc biệt rõ nét thông qua nghiệp
vụ cầm cố, mua bán khống chứng khoán của công ty với khách hàng.
- Trung gian về thanh toán
Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện rõ nét trong việc thanh
toán giữa người phát hành và khách hàng, vì Công ty chứng khoán là một
thành viên trong hệ thống thanh toán lưu ký chứng khoán. Công ty thực hiện
việc tính toán kết quả cuối cùng sau khi có kết quả bù trừ giữa các nhà đầu tư
với nhau hoặc kết quả chuyển xuống từ trung tâm giao dịch.
- Trung gian trong đầu tư và rủi ro
Chủ thế có vốn nhàn rỗi không phải đều có khả năng phân tích, đầu tư
và trình độ hiểu biết cao. Xuất phát từ hạn chế đó, các quỹ đầu tư ra đời và
chủ thể của những chứng chỉ quỹ do quỹ đầu tư phát hành để huy động vốn là
những chủ thể có vốn nhàn rỗi và được hưởng lợi tức từ lợi nhuận mà các quỹ
đầu tư mang lại.
2. Vai trò của Công ty chứng khoán
Khi thực hiện các chức năng của mình trên thị trường, Công ty chứng
khoán có những vai trò sau:
- Huy động vốn
Nói một cách đơn giản, các Công ty chứng khoán là cầu nối, là kênh
dẫn vốn từ nơi có vốn nhàn rỗi sang bộ phận khác của nền kinh tế đang cần
huy động vốn. Các Công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua
các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
- Cung cấp một cơ chế giá cả
Thông qua sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, Công ty
chứng khoán có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư
có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư. Công
Hoạt động của các Công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác
hẳn với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì công ty
chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định
mô hình tổ chức kinh doanh của nó cũng có nhiều điểm khác nhau. Tuy
nhiên, có thể khái quát thành hai mô hình cơ bản hiện nay là:
3.1. Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ (hay mô hình phụ
thuộc)
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình
này chia làm hai loại:
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 6- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
- Loại đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập, hoạt động tách rời.
- Loại đa năng toàn phần: các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có
khả năng chịu đựng được các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt
khác, ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh
doanh chứng khoán.
Tuy vậy, mô hình cũng bộc lộ một số hạn chế như: không phát triển
được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt
động cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đồng thời, các
ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn thị trường, và các biến động trên TTCK,
nếu có, sẽ làm ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân
hàng do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh.
3.2 Mô hình chuyên doanh chứng khoán (hay mô hình độc lập)
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các
công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các
dịch được thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Thông qua các dịch vụ tư vấn đầu tư,
cung cấp thông tin cho khách hàng và chia sẽ những vấn đề về tâm lý trong
quá trình đầu tư với họ, hoạt động môi giới đã trở thành người bạn không thể
thiếu. Và khi khách hàng đã đặt niềm tin trọn vẹn vào nhân viên môi giới như
những người bạn thật sự thì đội ngũ nhân viên môi giới không những thông
thạo về các kiến thức chứng khoán mà cần có đạo đức nghề nghiệp. Vậy để
trở thành một nhân viên môi giới chuyên nghiệp thì cần có những điều kiện
sau:
- Kỹ năng truyền đạt thông tin
Hình thức tư vấn cho khách hàng là một phần của hoạt động môi giới.
Phẩm chất hay thái độ của người môi giới đối với công việc, với bản thân và
với khách hàng được truyền đạt rõ ràng tới hầu hết các khách hàng mà người
môi giới thực hiện giao dịch. Để thành công trong việc cung ứng dịch vụ,
người môi giới phải đặt lợi ích khách hàng lên trên hết và doanh thu của mình
chỉ là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính
và được thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng.
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng
Trong quá trình nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như mở
rộng và phát triển thị phần công ty, nhân viên môi giới luôn phải tự tìm kiếm
cho mình những nguồn khách hàng thật tốt và cả một nguồn những khách
hàng tiềm năng. Có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng nhưng tựu
trung lại là có 6 phương cách:
+ Những đầu mối được gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển
nhượng lại
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 8- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
+ Mạng lưới kinh doanh
+ Các chiến dịch viết thư
+ Các cuộc hội thảo
+ Gọi điện làm quen
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 9- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
mua bán cho chính chứng khoán mà công ty tính toán và lựa chọn, do đó
Công ty chứng khoán cần phải có nguồn vốn dồi dào cũng như đội ngũ nhân
viên chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cao, khả năng phân tích và đưa ra
chiến lược đầu tư hợp lý.
4.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc Công ty chứng
khoán có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục
trước khi chào bán ra công chúng, tổ chức việc phân phối chứng khoán và
bình ổn giá TTCK vào giai đoạn đầu sau khi phát hành. Như vậy bảo lãnh
phát hành chứng khoán bao gồm cả việc tư vấn tài chính và phân phối chứng
khoán. Các hình thức bảo lãnh chứng khoán hiện hành là:
- Cam kết chắc chắn
- Cố gắng tối đa
- Tất cả hoặc không
- Bảo lãnh tối thiểu, tối đa
4.4 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư
Đa số định nghĩa tư vấn chứng khoán là những hoạt động tư vấn về giá
trị của chứng khoán nhằm thu phí. Có thể phân loại nghiệp vụ này theo một
số tiêu chí như:
- Theo hình thức của hoạt động tư vấn: có tư vấn trực tiếp và tư vấn gián
tiếp.
- Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn: tư vấn gợi ý, tư vấn ủy
quyền.
- Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: tư vấn cho người phát hành và tư
vấn đầu tư.
Khi hành động, nhà tư vấn cần tuân theo những nguyên tắc tối thiểu
sau:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá trị của chứng khoán
làm vật thế chấp cho khoản vay đó.
Rủi ro đối với Công ty chứng khoán là chứng khoán thế chấp có thể bi
giảm giá tới mức giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản vay ký quỹ. Nghiệp
vụ này thường đi kèm với nghiệp vụ môi giới, do vậy quy trình giao dịch về
căn bản là giống nhau.
4.6.2 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty
Hoạt động tư vấn đầu tư là việc cung cấp các thông tin, cách thức, đối
tượng chứng khoán, thời hạn, khu vực… và các vấn đề có tính chất quy luật
về hoạt động đầu tư chứng khoán.
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 11- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
Ngoài dịch vụ tư vấn dầu tư, các Công ty chứng khoán có thể sử dụng
kỹ năng để tư vấn cho các công ty về việc thâu tóm, sáp nhập, tái cơ cấu vốn
của công ty để đạt hiệu quả hoạt động tối ưu.
4.6.3 Nghiệp vụ quản lý thu nhập chứng khoán
Nghiệp vụ này của công ty chứng khoán xuất phát từ nghiệp vụ quản lý
hộ chứng khoán cho khách hàng. Công ty chứng khoán phải tổ chức theo dõi
tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi gửi báo cáo cho khách
hàng. Nhưng thông thường, Công ty chứng khoán thường lưu ký tại trung tâm
lưu ký chứng khoán.
Ngoài những nghiệp vụ trên, Công ty chứng khoán còn có thể thực hiện
một số hoạt động khác như cho vay chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, kinh
doanh bảo hiểm…
II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÁC CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
1. Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.1 Khái niệm môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới nói chung trong các nghành nghề là hoạt động làm
trung gian kết nối giữa người mua và người bán nhằm mục đích tạo sự thanh
khoản cho hàng hóa và để thu phí giao dịch. Vì thế hoạt động môi giới chứng
- Môi giới giao dịch: Đó là thành viên của một công ty chứng khoán
thành viên của một sở giao dịch. Họ làm việc và hưởng lương của CTCK và
được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các lệnh mua bán cho các
CTCK hay khách hàng của công ty trên sàn giao dịch. Các lệnh mua bán được
chuyển đến cho các nhà môi giới thừa hành và có thể là từ văn phòng công ty
hay cũng có thể từ các môi giới đại diện.
- Môi giới độc lập hay “môi giới hai đô la” : Chính là các nhà môi giới
làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng theo dịch vụ. Họ là thành viên tự
bỏ tiền ra thuê chỗ tại sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như các Công ty
chứng khoán thành viên khác của Sở giao dịch chứng khoán. Sở dĩ có điều
này là vì tại các sở giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách
hàng của một Công ty chứng khoán gửi tới nhiều lúc quá tải mà các nhân viên
môi giới của Công ty này không thể làm xuể, hoặc vì lý do nào đó vắng mặt.
Lúc đó Công ty chứng khoán sẽ “hợp đồng” với các nhà môi giới độc lập để
thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho loại môi giới này một
khoản tiền nhất định. Các nhà môi giới độc lập được trả cứ hai đô la cho một
lô tròn chứng khoán (100 cổ phiếu) nên người ta gọi quen thành “môi giới hai
đô la”.
Nhà tạo lập thị trường :Nhà tạo lập thị trường theo nghĩa hiểu thì đó là
“những người luôn thực hiện những giao dich mua đi bán lại cho một hoặc
một số loại thị trường nhằm mục đích tạo tính thanh khoản cho loại chứng
khoán đó”.
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 13- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
Hiện nay ở Việt Nam chỉ tồn tại một loại nhà môi giới là môi giới uỷ
nhiệm hay môi giới thừa hành. Các nhà môi giới này trực thuộc một công ty
chứng khoán. Một nhân viên của công ty chứng khoán muốn trở thành một
nhân viên kinh doanh chứng khoán thì họ phải cú chứng chỉ hành nghề do
UBCKNN cấp nếu có đủ các điều kiện sau:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không thuộc trường hợp
về cơ sở vật chất, con người và khung pháp lý để giao dịch của khách hàng
được thực hiện một cách chính xác và hiệu quả. Do đó, trong quá trình sử
dụng dịch vụ môi giới chứng khoán, các nhà đầu tư được hưởng các dịch vụ
về tài chính do Công ty chứng khoán cung cấp.
Hiện nay, hoạt động môi giới tại các Công ty chứng khoán đã đạt đến
trình độ “bán hàng tư vấn”. Sau quá trình giao dịch của khách hàng được thực
hiện xong, nhân viên tư vấn sẽ tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng có
tại Công ty chứng khoán, đồng thời đem lại những thông tin cũng như những
khuyến cáo về biến động của nền kinh tế đến khách hàng nếu những biến
động đó ảnh hưởng không tốt đến tình hình tài chính hay thái độ đầu tư của
khách hàng. Từ đó đề xuất những giải pháp gỡ rối cho khách hàng.
2.3 Tư vấn khách hàng và cung cấp thông tin
TTCK ngày càng phát triển thì chất lượng của hoạt động môi giới
chứng khoán ngày càng nâng cao, đặc biệt trong mảng tư vấn cho khách hàng.
Việc thu thập và xử lý thông tin để lập báo cáo đòi hỏi những khoản đầu tư rất
lớn về người và của do đó chỉ có các Công ty chứng khoán mới có khả năng
tài chính để trang trải. Những báo cáo này bao gồm:
- Phân tích diễn biến tổng thể thị trường
- Phân tích động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trường đó.
- Phân tích hoạt động của công ty trong từng khu vực
Theo từng yêu cầu cụ thể, nhân viên môi giới sẽ sử dụng những thông
tin kèm theo tư vấn để cung cấp cho nhà đầu tư. Những TTCK phát triển,
nhân viên môi giới luôn là những người đầu tiên đón nhận thông tin mới nhất
từ khắp nơi về lãi suất, thị trường và những thông tin khác liên quan đến cổ
phiếu và quyền lợi của khách hàng. Nếu không có nhân viên môi giới, nhà
đầu tư sẽ phụ thuộc vào nguồn thông tin đại chúng qua các báo cáo định kỳ về
loại cổ phiếu mà mình đang nắm. Nguồn thông tin đó có thể không cân xứng
làm ảnh hưởng lớn đến quyết định của nhà đầu tư. Chính vì lẽ đó, nhân viên
môi giới trở thành nhà tư vấn tài chính chuyên biệt cho khách hàng khi có đầy
đủ thông tin, luôn cập nhật và xử lý công phu.
phú, dịch vụ nghiên cứu thị trường được hình thành nhằm phân loại khách
hàng theo tiêu chí mà nhân viên môi giới yêu cầu.
2.4.3 Góp phần hình thành nền văn hoá đầu tư
Không những giảm chi phí giao dịch cũng như phát triển các sản phẩm
dịch vụ cho khách hàng, hoạt động môi giới còn đóng góp sức mình trong
việc hình thành nền văn hoá đầu tư, thông qua những đặc trưng chủ yếu sau:
- Ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 16- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
Khi TTCK phát triển, người có tài chính phần lớn lại chưa hiểu biết
nhiều về thị trường và cách đầu tư trên thị trường nên trở thành khách hàng
tiềm năng của các Công ty chứng khoán. Khi đó, nhân viên môi giới có trách
nhiệm tư vấn cho khách hàng để họ có cơ hội đầu tư và hưởng các dịch vụ đi
kèm. Người có tiền hiện nay sẽ ưu tiên đầu tư vào thị trường tài chính. Cho
nên nhân viên môi giới sẽ đảm nhận công việc trang bị kiến thức, kỹ năng đầu
tư trên thị trường, lựa chọn sản phẩm phù hợp mức độ tài chính và mức độ
chấp nhận rủi ro của khách hàng. Qua đó, nhà đầu tư được trang bị các kỹ
năng cần thiết để có thể đầu tư. Trong nền kinh tế hiện nay, việc đầu tư tiền
dư thừa vào các tài sản tài chính trở thành thói quen và cách cư xử chung của
cả cộng đồng; đó là một phần quan trọng của nền văn hoá đầu tư.
- Tạo thói quen và kĩ năng sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt là dịch
vụ môi giới
Tự nhà đầu tư có thể đánh giá được những lợi ích mà dịch vụ mang lại
qua đó nhà đầu tư sẽ tin tưởng vào nhân viên môi giới và chấp nhận trả phí để
hưởg những lợi ích đó. Trong quá trình hợp tác, nhà đầu tư sẽ nhân thấy nhân
viên môi giới nào hợp với mình, từ đó có thể tự phòng ngừa những hành vi
liên quan đến đạo đứa nghề nghiệp. Đồng thời xác định được nguyên nhân và
phân loại được rủi ro đẻ không quy kết trách nhiệm bớt hợp lý cho nhân viên
môi giới. Đây là kết quả của quá trình hoạt động lâu dài cũng là điều kiện để
nghề môi giới ngày càng phát triển.
giao dịch.
+ Bước 4: Tập hợp hồ sơ khách hàng (Hợp đồng, Giấy yêu cầu mở tài
khoản, bản sao Giấy CMND, thẻ giao dịch).
+ Bước 5: Phó trưởng phòng môi giới kiểm soát và ký;
+ Bước 6: Trưởng phòng môi giới kiểm tra, ký duyệt Giấy yêu cầu mở
tài khoản và Hợp đồng;
+ Bước 7: Nhân viên môi giới chuyển thẻ tài khoản, Hợp đồng cho
khách hàng;
+ Bước 8: Nhân viên môi giới lưu hồ sơ của khách hàng và khai báo
trên hệ thồng máy nội bộ.
Sau khi giúp khách hàng mở hợp đông giao dịch chứng khoán, nhân
viên môi giới hướng dẫn nhà đầu tư nộp tiền ký quỹ và giải đáp các thắc mắc
cũng như những yêu cầu của khách hàng.
- Bước 2: Nhận lệnh của khách hàng
Khi nhận lệnh của khách hàng, nhân viên môi giới có trách nhiệm kiểm
tra số dư tài khoản tiền và chứng khoán cho khách hàng để xem nhà đầu tư có
đặt mua bán vượt quá số tiền hay số chứng khoán mình có hay không. Nếu
phiếu lệnh hợp lệ, nhân viên môi giới có trách nhiệm nhập lệnh của khách
hàng vào hệ thống giao dịch của thị trường. Trong trường hợp lệnh của khách
hàng không nhập kịp trong đợt giao dịch thì phải thông báo cho khách hàng
và trả lại phiếu lệnh cho khách hàng.
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 18- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
Ngoài việc nhận lệnh trực tiếp từ khách hàng, nhân viên môi giới còn
nhận lệnh của khách hàng qua điện thoại, fax, hay hệ thồng máy điện tử. Tuỳ
thuộc vào sự phát triển của thị trường.
- Bước 3: Thực hiện lệnh của khách hàng
Khi phiếu lệnh được kiểm tra hợp lệ và nhập thành công vào hệ thống
máy nội bộ của công ty thì nhân viên môi giới có trách nhiệm thực hiện lệnh
của khách hàng vào hệ thống của thị trường.
tiền mặt trên tài khoản của khách hàng vì thế cũng thay đổi liên tục
+ Với việc hạch toán chứng khoán sẽ được thông qua Trung tâm lưu kí
chứng khoán. Việc chuyển đổi chứng khoán sở hữu ( mà ở đây chủ yếu là
chứng khoán ghi sổ) sẽ được Trung tâm lưu ký chuyển đổi giữa các tài khoản
với nhau theo hình thức thanh toán bù trừ đa phương hoặc song phương.
3.2 Quy trình môi giới khi đại diện cho khách hàng thực hiện giao dịch
- Bước 1: Nhân viên môi giới nhận lệnh từ khách hàng theo các hình
thức: nhận lệnh trực tiếp tại công ty, từ các đại lý hoặc nhận lệnh từ xa qua
Fax hoặc qua điện thoại.
- Bước 2: Nhân viên môi giới ghi số lệnh, giờ nhận lệnh. Sau đó nhập
lệnh vào hệ thống BOSC, đối chiếu thông tin về khách hàng và kiểm tra số
dư.
- Bước 3: Nhân viên môi giới duyệt lệnh theo hình thức uỷ quyền.
- Bước 4: Trưởng hoặc phó phòng duyệt lệnh vượt mức uỷ quyền cho
nhân viên môi giới.
- Bước 5: Nhân viên môi giới truyền lệnh đến đại diện giao dịch của công
ty tại sàn.
- Bước 6: Đại diện giao dịch nhận lệnh và nhập vào hệ thống của Trung
tâm Giao dịch chứng khoán.
- Bước 7: Nhân viên môi giới lập xác nhận kết quả khớp lệnh, Thông báo
kết quả giao dịch trình Phó trưởng phòng kiểm soát.
- Bước 8: Trưởng phòng ký duyệt Xác nhận kết quả khớp lệnh và thông
báo kết quả giao dịch.
Trong quá trình thực hiện giao dịch nhập lệnh thay khách hàng, nhân
viên môi giới cần chú ý:
- Lệnh của khách hàng không khớp trong đợt giao dịch trước sẽ được hệ
thống của TTGDCK tự động chuyển sang đợt tiếp theo cùng ngày nếu lệnh đó
khách hàng không thực hiện lệnh huỷ (trừ lệnh ATO).
- Đối với lệnh huỷ, nhân viên môi giới đối chiếu với lệnh gốc và thực
hiện huỷ lệnh trong hệ thống Ibroker nếu lệnh đó chưa được khớp hoặc chưa
hàng và đưa đến những khuyến cáo nhanh và cần thiết nhất. Tuy nhhiên cũng
có Công ty chứng khoán chỉ đơn thuần thực hiện lệnh mua, bán chứng khoán
để thu phí giao dịch như một khoản hoa hồng nhỏ. Những điều đó phản ánh
tính chuyên nghiệp của mỗi Công ty chứng khoán trong hoạt động môi giới.
- Khả năng hoạt động:
Các Công ty chứng khoán có thể cung cấp dịch vụ và thoả mãn những
đối tượng khách hàng nào, tính chuyên nghiệp của nhân viên môi giới, số
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 21- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
lượng khách hàng mà mỗi nhân viên môi giới có thể quan tâm thực sự, quy
mô sàn giao dịch của công ty, công nghệ cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật
phản ánh khả năng hoạt động của một Công ty chứng khoán.
- Mức độ tác động của hoạt động môi giới tới các hoạt động khác:
Hoạt động môi giới không thể phát triển tốt nếu đứng riêng lẻ một
mình. Khi hoạt động môi giới hoạt động với chất lượng tốt sẽ kéo theo các
hoạt động phân tích chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng
khoán…phát triển và ngược lại. Bởi vì những hoạt động đó thực hiện một số
nghiệp vụ nhằm bổ trợ cho hoạt động môi giới, giúp cho sản phẩm của hoạt
động môi giới hoàn thiện hơn.
1.2 Chỉ số định lượng
Chỉ số định lượng là những thông số có thể tính toán cụ thể để so sánh
và đánh giá chất lượng hoạt động môi giới thông qua những kết quả cụ thể.
- Doanh số từ hoạt động môi giới
Doanh số từ hoạt động môi giới: là tổng giá trị giao dịch khớp lệnh tại
một Công ty chứng khoán.
Doanh số từ hoạt động môi giới nếu tăng lên qua các năm thể hiện quy
mô hoạt động môi giới tăng lên, điều đó cho thấy hoạt động môi giới đang
trong giai đoạn phát triển và đang được mở rộng. Điều đó cũng phản ánh cho
thấy chất lượng hoạt động môi giới được nâng cao. Tuy nhiên cần phải kết
hợp phân tích các chỉ tiêu khác để đảm bảo việc ra quyết định chính xác.
từ hoạt động môi giới
Chỉ tiêu trên phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động môi giới, là chỉ
tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động môi giới.
- Tài sản đảm bảo
Là số dư tiền và số dư chứng khoản phù hợp với yêu cầu về giao dịch
đảm bảo cũng như yêu cầu về an toàn cho Công ty chứng khoán mà không
gây thiệt hại quá lớn cho khách hàng. Chỉ tiêu đó được công bố sẽ tăng độ an
toàn cho khách hàng và không làm giảm tính cạnh tranh, hấp dẫn của dịch vụ
môi giới của Công ty chứng khoán.
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 23- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362
Tỷ trọng doanh thu từ
hoạt động môi giới
Doanh thu từ hoạt động môi
giới
Tổng doanh thu
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động môi giới của các
Công ty chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một trong những hoạt động của Công ty chứng
khoán nên nó hoạt động trong mối quan hệ mật thiết và tương hỗ với các hoạt
động khác cũng như các chủ thể khác nhau trên thị trường. Do vậy, chất
lượng của hoạt động môi giới chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, bao gồm
các nhân tố chủ quan và khách quan.
2.1 Các nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là nhân tố mang tính nội tại từ bản chất của hoạt
động môi giới, đây là nhân tố chính có ảnh hưởng lớn tới chất lượng hoạt
động môi giới nói riêng và hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán nói
chung. Nhân tố này bao gồm các yếu tố:
- Uy tín và quy mô hoạt động của công ty:
Uy tín và quy mô hoạt động của công ty là yếu tố có ảnh hưởng không
tin càng chính xác, hợp pháp và cập nhật liên tục sẽ đem lại độ tin cậy cho
khách hàng khi nhân viên môi giới sử dụng để tư vấn.
Để hệ thống thông tin đạt hiệu quả thì mọi khâu trong nó đều phải đạt
hiệu quả, đặc biệt là khâu thu thập và xử lý thông tin. Đầu não của hệ thống
thông tin chính là bộ phận xử lý thông tin. Bộ phận này gồm yếu tố con người
và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ. Yếu tố con người càng chất lượng, trang
thiết bị kỹ thuật càng hiện đại thì nguồn thông tin đầu và cuối mà các Công ty
chứng khoán có được càng đảm bảo có chất lượng cao.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Các Công ty chứng khoán trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật càng hiện
đại, càng công nghệ cao thì thông tin càng được xử lý nhanh nhạy, hiệu quả
cũng như việc thực hiện yêu cầu của khách hàng dễ dàng, chính xác và tiết
kiệm thời gian.
- Mô hình tổ chức và cách thức quản lý:
Căn cứ vào khả năng huy động vốn và hình thức sở hữu của công ty mà
quyết định tổ chức công ty theo hình thứ TNHH hay cổ phần. Việc công ty
hoạt động theo một mô hình nào có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của
công ty và cách thức tổ chức hoạt động và quản lý các phòng ban là khác
nhau. Mô hình tổ chức phải phù hợp với các hoạt động khác của công ty.
Những yếu tố cần thiết mà mô hình công ty phải thoả mãn là: tính đơn giản,
gọn nhẹ nhưng hoạt động hiệu quả. Việc tách bạch các phòng ban chức năng
vừa tạo ra tính độc lập tương đối giữa các phòng ban với nhau, vừa tạo ra tính
tự chủ trong các phòng ban, đồng thời tạo ra tính chuyên môn hoá trong hoạt
động tại công ty.
Sinh viªn thùc hiÖn: Lª Hoµng DiÖp - 25- Líp: Tµi chÝnh Doanh nghiÖp 46B
M· SV: CQ 460362