LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị
trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính
trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán (CTCK). Sự trưởng thành của các
công ty chứng khoán Việt Nam không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy
mô vốn mà còn thể hiện rõ nét qua phương thức và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Các CTCK cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của mình đối với sự phát triển chung
của nền kinh tế và của thị trường chứng khoán.
Năm 2007 là một năm phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán. Điều này
thể hiện trước hết ở quy mô của thị trường. Mục tiêu của Nhà nước là tới năm 2010,
vốn hoá của thị trường chiếm 35% GDP. Nhưng riêng năm nay, tổng giá trị vốn hoá
thị trường đã đạt trên 43% GDP. Sự trưởng thành vượt bậc của thị trường còn thể
hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty chứng khoán (hiện nay có khoảng trên 80
công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường) và con số hơn 330.000 tài khoản so
với hơn 100.000 tài khoản năm 2006. Mặc dù số lượng CTCK đi vào hoạt động năm
2007 tăng gấp 3-4 lần so với năm 2006, nhưng kết quả kinh doanh năm 2007 của
nhiều công ty vẫn khá tốt.
Sau quá trình tiếp thu kiến thức tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, và một thời
gian thực tập chuyên ngành tại Phòng Môi giới Công ty chứng khoán Ngân hàng
TMCP nhà Hà Nội (CTCK Habubank), em đã có cơ hội tìm hiểu thực tiễn công việc,
tổng quan về các phòng ban của CTCK Habubank nói chung và cụ thể về hoạt động
của phòng môi giới của Công ty nói riêng. Sau hai năm đi vào hoạt động, hoạt động
môi giới của CTCK Habubank đã dần khẳng định được vai trò của mình đối với hoạt
động của toàn công ty và đã đạt được một số thành công nhất định. Cùng với sự phát
triển ngày càng cao của thị trường chứng khoán và nhận thức của nhà đầu tư cũng
dần được nâng cao thì việc nâng cao chất lượng của CTCK nói chung và hoạt động
môi giới nói riêng là vô cùng quan trọng. Do đó em chọn nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới
tại Công ty chứng khoán Habubank”
2. Phạm vi nghiên cứu
doanh. Thị trường chứng khoán (TTCK) ra đời là một kênh dẫn vốn trực tiếp từ cực
có vốn này sang cực có vốn kia theo nguyên tắc đầu tư khi xã hội của sản xuất và
lưu thông phát triển ở giai đoạn cao, và có đủ điều kiện về môi trường pháp lý, môi
trường tài chính…
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà nơi đó diễn ra các giao dịch mua
bán, trao đổi các loại chứng khoán. Sản phẩm trên TTCK không giống với các hàng
hoá thông thường khác mà chúng là những hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư
bản gọi tắt là các chứng khoán. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi
ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Một TTCK ra đời và hoạt động hiệu quả thì phải cần các chủ thể tham gia kinh doanh
trên TTCK. Công ty chứng khoán ra đời là trung gian kết nối những người mua và
bán chứng khoán với nhau nhằm đảm bảo TTCK hoạt động một cách có trật tự, công
bằng và hiệu quả. Chính vì trung gian là một trong những nguyên tắc cơ bản của
TTCK nên phải có các nhà môi giới để đảm nhận khâu này.
Ở giai đoạn đầu của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với
nhau. Khi thị trường đã dần được hoàn thiện với sự tăng lên về khối lượng giao dịch,
quy mô thì các nhà môi giới riêng lẻ có xu hướng tập hợp theo một tổ chức nhất định
- chính là công ty chứng khoán.
Ở Việt Nam, khái niệm về Công ty chứng khoán có thể tìm hiểu trong Luật
chứng khoán số 70/2006/QH11 và được hiểu khái quát: Công ty chứng khoán là công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh
doanh theo giấy phép kinh doanh do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp.
Mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK có những đặc điểm khác nhau tuỳ vào
sự phát triển khác nhau của từng khối thị trường. Có thể khái quát mô hình tổ chức
kinh doanh của CTCK theo hai nhóm sau:
Thứ nhất là mô hình CTCK đa năng: theo mô hình này, CTCK được tổ chức
dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Theo đó các ngân hàng thương
mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh
doanh tiền tệ. Mô hình này được tổ chức dưới hai hình thức sau:
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Luật
chứng khoán ra đời năm 2006, và chính thức áp dụng từ 1/1/2007- là văn bản luật
cao nhất quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, quy định một số
nghĩa vụ của một CTCK như: thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và
giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch
với người có liên quan; quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt
tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của CTCK; ký hợp
đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, cung cấp
đầy đủ thông tin cho khách hàng; thu thập tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính,
mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng…
Các công ty chứng khoán ở các nước hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức
khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty hay mức độ phát triển
của thị trường. Tuy nhiên chúng vẫn có những đặc trưng cơ bản sau:
(1) Công ty chứng khoán đóng vai trò là một tổ chức trung gian tài chính, thể hiện ở
các khía cạnh
• Trung gian về thanh toán: do CTCK là một thành viên của hệ thống thanh toán
lưu ký nên nó là một trung gian thanh toán.Chức năng này được thể hiện thông
qua việc thanh toán giữa người phát hành và nhà đầu tư, giữa người mua và
người bán. Nếu người mua và người bán cùng mở tài khoản và cùng lưu ký tại
một công ty chứng khoán thì việc thanh toán sau giao dịch của họ đơn giản hơn
rất nhiều.
• Trung gian về rủi ro: trên TTCK luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các chủ thể tham
gia vào TTCK như: các CTCK, các nhà đầu tư… luôn phải đối mặt với các rủi
ro đó. Nhà đầu tư khi thực hiện kinh doanh chứng khoán trên TTCK có những
rủi ro như: rủi ro trong sự tăng giảm giá chứng khoán, rủi ro trong khi giao dịch.
… CTCK đóng vai trò là là người đứmg giữa và thực hiện các giao dịch cho
khách hàng sẽ giúp nhà đầu tư phân tán rủi ro bằng việc đầu tư vào các chứng
chỉ quỹ và trong giao dịch cũng có người được lợi và người gặp rủi ro.
• Trung gian giao dịch: xuất phát từ nhu cầu của những chủ thể có điều kiện về
vốn nhưng trình độ, khả năng phân tích còn hạn chế nên quỹ đầu tư chứng
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứng khoán mà
công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó. Tuy
nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được
chia ra làm hai khối tương ứng với hai khối công việc mà CTCK đảm nhận: khối I
và khối II. Trong đó,khối I là khối tư vấn và nghiên cứu- phân tích, khối II là khối
dịch vụ và hỗ trợ. Hai khối này thực hiện các công việc yểm trợ cho nhau.
(6) Một số đặc điểm khác
CTCK là một tổ chức trung gian đặc biệt hoạt động trên lĩnh vực khá nhạy
cảm nên chịu sự kiểm soát song hành của Nhà nước và hiệp hội kinh doanh chứng
khoán. Ở Việt Nam, CTCK chịu sự quản lý của Bộ tài chính và Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước. Nhà nước kiểm soát các CTCK bằng các văn bản quy phạm pháp
luật như các Nghị định, Luật chứng khoán và các thông tư hướng dẫn như: CTCK
phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo
quy định của UBCKNN; CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng
với tài sản của mình, không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế
chấp trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản; CTCK không được
dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanhm ngoại trừ trường hợp
số tiền đó phục vụ cho giao dịch của khách hàng…
1.1.1.3 Phân loại công ty chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán tồn tại rất nhiều loại hình công ty chứng khoán
hoạt động. Tuỳ vào từng tiêu thức mà người ta có các các phân loại khác nhau.
Nếu dựa trên tiêu thức lĩnh vực kinh doanh của CTCK , có quan điểm phân chia
CTCK thành các loại sau:
- Công ty môi giới chứng khoán là CTCK chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
- Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán là CTCK có lĩnh vực hoạt động chủ
yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá.
- Công ty kinh doanh chứng khoán là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự
doanh, có nghĩa là bỏ vốn và tự và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.
- Công ty trái phiếu là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.
hạn với các thành viên. Ngoài trách nhiệm trên phần vốn góp, các thành viên chịu
một phần trách nhiệm đối với một phần công nợ của công ty. Trách nhiệm này
được ghi rõ trong điều lệ của công ty, được pháp luật bảo hộ. Cũng có loại công
ty trách nhiệm hữu hạn một chủ, có nghĩa là, chỉ có một thành viên giữ vai trò
điều hành công ty và chịu trách nhiệm vô hạn và đầy đủ đối với các hoạt động
của công ty, còn các thành viên khác chỉ chịu hữu hạn trên phần vốn góp.
Số lượng các thành viên của công ty bị giới hạn bởi pháp luật. Với công ty này,
số vốn đóng góp của các thành viên phải được đóng đủ khi được thành lập và được
ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát hành bất cứ một loại
chứng khoán nào. Việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện
tự do, còn đối với sự chuyển nhượng vốn góp cho người không phải là thành viên
phải được sự nhất trí của đa số các thành viên theo luật định. Đây là loại hình công
ty thích hợp với quy mô vừa và nhỏ.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
Theo nghị định 14 của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật chứng khoán quy định vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh
doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài
tại Việt Nam là:
Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
Bảo lãnh phát hành chứng khoán : 165 tỷ đồng Việt Nam;
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam;
Các CTCK phải có trụ sở, có trang thiết bị, thiết bị phục vụ cho kinh doanh
chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư
chứng khoán thì không phải đáp ứng các điều kiện về trang thiết bị. Sau đây là một
số hoạt động cơ bản của CTCK:
1.1.2.1 Hoạt động nghiêp vụ
a. Hoạt động môi giới chứng khoán
Khi thị trường chứng khoán càng phát triển ở trình độ cao thì các sản phẩm và
dịch vụ càng dồi dào về số lượng, đa dạng và phong phú về chủng loại, tinh tế và
một số yêu cầu nhất định như:
• Tách biệt quản lý: các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và
nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự
tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và các quy trình nghiệp vụ. Các
CTCK phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiện nghiệp vụ tự doanh.
Bên cạnh đó, các CTCK phải đảm bảo sự tách bạch giữa tài sản của khách
hàng với tài sản của chính công ty.
• Ưu tiên khách hàng: pháp luật các nước nói chung cũng như pháp luật các
nước nói riêng đều yêu cầu các CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách
hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch
của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc
này đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng
khoán
• Bình ổn thị trường: bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các
CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông
qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình
ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường. Các CTCK phải tuân thủ
một số quy định như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư… Mục đích của
các quy định này là nhằm bảo đảm một độ an toàn nhất định cho các CTCK
trong quá trình hoạt động, tránh sự đổ vỡ gây thiệt hại chung cho thị trường.
• Hoạt động tạo thị trường: các CTCK thông qua việc mua bán chứng khoán
cho chính mình với các chứng khoán mới chưa có thị trường giao dịch để tạo
thị trường cho các chứng khoán này, tạo tính thanh khoản cho chúng.
c. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Muốn tiến hành các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng một cách thành
công thì các tổ chức phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn và thực
hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán. Như vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành là
việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước
khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá
chứng khoán trong giai đoạn đầu khi phát hành. Trên thị trường tài chính, ngoài công
nước khác trên thế giới. Luật chứng khoán ra đời đã tách nghiệpvụ này sang cho các
quỹ đầu tư. Tuy nhiên, một số CTCK lớn vẫn hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này.
Rất nhiều nhà đầu tư ở Việt Nam có vốn nhưng lại chưa có kiến thức chuyên sâu về thị
trường chứng khoán nên họ tin tưởng giao phó tài sản của mình cho các CTCK và các
quỹ đầu tư. Một danh mục đầu tư phải chứa nhiều chứng khoán với những mức độ rủi
ro và lợi nhuận kỳ vọng khác nhau nhằm đem lại sự an toàn cho nhà đầu tư.
1.1.2.2 Các hoạt động khác
- Hoạt động tín dụng: đây là hoạt động thông dụng tại các thị trường chứng
khoán phát triển. Ở Việt Nam,hoạt động cho vay ký quỹ đã được áp dụng
trong nhiều công ty chứng khoán.
- Lưu ký chứng khoán: CTCK thực hiện việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán
của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy
định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán
trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở
tài khoản lưu ký chứng khoán tại các CTCK. Thực hiện dịch vụ lưu ký
chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản phí lưu ký
chứng khoán,phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
SGDCK TP. HCM hiện nay có 20 thành viên lưu ký, trong đó có 17 thành
viên lưu ký là các CTCK và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam.
- Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Nghiệp vụ này của
CTCK xuất phát từ nghiệp vụ quản lý hộ chứng khoán cho khách hàng.
CTCK theo dõi tình hình thu lãi,cổ tức của chứng khoán khi đến hạn và
đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài
khoản của họ.
Hoạt động của các CTCK trên thị trường chứng khoán vô cùng đa dạng, phụ
thuộc vào sự phát triển của thị trường. Nghiệp vụ của CTCK thực hiện theo đó cũng
phong phú, vừa có sự tách biệt đồng thời phải gắn kết, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát
triển và hoàn thiện. Hoạt động môi giới đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự tồn
tại của CTCK. Để hiểu rõ hơn về hoạt động môi giới, đề tài tiếp tục nghiên cứu ở
của các nhà đầu tư được các nhân viên môi giới của các CTCK tiếp nhận, kiểm tra và
nhập vào hệ thống của sàn giao dịch. Tồn tại các loại hình môi giới sau:
- Môi giới thông thường: là các nhà môi giới thực hiện các chức năng là một
đại diện cho khách hàng trong việc mua bán chứng khoán và hưởng phí môi
giới.
- Môi giới lập giá: có chức năng là duy trì thị trường liên tục về loại chứng
khoán mà họ phụ trách, do đó họ thực hiện hai hoạt động chính là môi giới và
tự doanh. Do phải duy trì thị trường liên tục nên khi thị trường không có
người mua thì họ phải đóng vai trò là người mua và khi không có người bán
thì họ phải là người bán.
- Môi giới hai đô la: chính là những người môi giới làm việc cho chính họ và
hưởng hoa hồng theo dịch vụ. Họ phải tự bỏ tiền ra thuê chỗ t ại sở giao dịch
giống như các CTCK thành viên khác.Vì các sở giao dịch luôn nhộn nhịp, số
lượng lệnh giao dịch của nhà đầu tư nhiều lúc quá tải mà các nhà môi giới
của các công ty không thể làm xuể. Khi đó các CTCK sẽ hợp đồng với các
nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho
những nhà môi giới này một khoản tiền nhất định. Đầu tiên các nhà môi giới
này được trả hai đô la cho một lô chứng khoán, nên người ta gọi là môi giới
hai đô la.
Hoạt động tạo lập thị trường trên thị trường OTC
Mục tiêu của các sở giao dịch là tạo lập một môi trường giao dịch chứng khoán
an toàn và hiệu quả, trong đó các nhà đầu tư phải được đối xử công bằng, được cung
cấp thông tin tương xứng nhằm hỗ trợ kịp thời cho các quyết định đầu tư.
Đối với các chứng khoán không niêm yết và được giao dịch trên thị trường phi
tập trung. Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh mua, bán chứng khoán nào đó trên OTC, nhà
môi giới sẽ chuyển lệnh này đến nhà kinh doanh (thuộc bộ phận kinh doanh của công
ty môi giới). Nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm người có thể bán hoặc mua số chứng khoán
đó. Thực tế có rất nhiều nhà môi giới sẵn sàng đặt bán một loại chứng khoán trên thị
trường OTC và như vậy, có thể có rất nhiều nhà tạo lập thị trường cho chứng khoán
đó với mức thách giá là khác nhau. Nhà kinh doanh bắt đầu thương lượng về giá cả
có những phẩm chất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc và với thái
độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Chính vì thế mà nghề
môi giới đòi hỏi phải nắm vững và sử dụng được thành thục bốn kỹ năng cơ bản.
Những kỹ năng này không tách rời nhau mà gắn bó, hỗ trợ cho nhau trong toàn bộ
quá trình hành nghề chứng khoán. Đó là: kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng tìm
kiếm khách hàng, kỹ năng khai thác thông tin ở khách hàng và kỹ năng bán hàng.
- Thứ nhất về kỹ năng truyền đạt thông tin: khi tiếp xúc với khách hàng cũng
như bản thân, thái độ hay phẩm chất của người môi giới được truyền đạt rõ
ràng. Để thành công trong việc cung ứng các dịch vụ mua bán chứng khoán,
người môi giới phải luôn đặt khách hàng kên trên hết và doanh thu của mình
là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và
phải được thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng.
- Thứ hai là kỹ năng tìm kiếm khách hàng: mỗi người môi giới với các phong
cách và tư duy làm việc khác nhau dẫn đến tồn tại nhiều cách để tìm kiếm
khách hàng. Có thể khái quát thành 6 phương pháp cơ bản sau: những đầu
mối gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại, những lời
giới thiệu khách hàng, mạng lưới kinh doanh, các chiến dịch viết thư, các
cuộc hội thảo, gọi điện làm quen.
- Kỹ năng khai thác thông tin ở khách hàng: để nắm bắt được nhu cầu của các
nhà đầu tư thì một trong những nguyên tắc trong hành nghề môi giới là phải
tìm hiểu khách hàng để nắm bắt được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận
rủi ro của khách hàng.
- Kỹ năng bán hàng: người môi giới không chỉ cần chuẩn bị đầy đủ các kiến
thức về thị trường mà họ còn phải hoàn thiện các kỹ năng giao tiếp của
mình như: khả năng thuyết trình nắm bắt được tâm lý của người mua và bán
chứng khoán, khả năng truyền đạt thông tin… để khách hàng tin tưởng và sử
dụng sản phẩm mà công ty mình cung cấp. Ngoài ra các dịch vụ sau bán
hàng cũng vô cùng quan trọng vì qua đó, người môi giới củng cố được mối
quan hệ lâu dài với khách hàng.
1.2.1.3 Vai trò của hoạt động môi giới
một ưu thế rất lớn khi mà TTCK ngày một khắc nghiệt với việc kinh doanh
lớn với các CTCK.
- Góp phần phát triển các hoạt động khác của CTCK: hoạt động môi giới luôn
gắn kết chặt chẽ với các hoạt động khác của công ty. Chúng hỗ trợ cho nhau
để đem tới cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Do đó, khi chất lượng
của hoạt động môi giới càng được nâng cao thì đòi hỏi các hoạt động khác
cũng phải được hoàn thiện và nâng cao hơn để đem lại sự hoạt động hiệu
quả nhất cho công ty.
Với nhà đầu tư
Thông qua các nhà môi giới chứng khoán, cả người mua và người bán không
cần phải mất nhiều thời gian,tiền bạc, công sức để tìm được các đối tác và loại chứng
khoán phù hợp với mục đích của mình. Mặt khác, đặc trưng của TTCK là lợi nhuận
cao đi kèm với rủi ro cao, các chứng khoán có mức sinh lợi càng cao thì mức độ rủi
ro của nó càng cao, đòi hỏi nhà đầu tư phải có kiến thức và sự thận trọng khi tham
gia thị trường. Sự hiện diện của các nhà môi giới giúp cho họ có thêm một kênh để tư
vấn, thẩm định chất lượng hàng hóa chứng khoán giúp họ để tìm ra loại chứng khoán
nào phù hợp với yêu cầu. Mặt khác, với các nhà phát hành thì họ không phải mất quá
nhiều thời gian và chi phí để tìm ra các nhà đầu tư muốn mua chứng khoán của mình.
Các nhà môi giới còn thay mặt CTCK cung cấp thông tin liên quan đến thị
trường, đến các loại chứng khoán niêm yết và các thông tin khác một cách có chọn
lựa đến các nhà đầu tư. Dựa vào những thông tin này mà họ tiến hành phân tích và
đưa ra các quyết định về mua hay giữ chứng khoán theo các giá phù hợp.
Nhà đầu tư còn tìm đến các nhà môi giới để tìm hiểu về các dịch vụ của công ty
mình mở tài khoản và từ đó tiến tới sử dụng các dịch vụ này một cách có hiệu quả
nhất.
1.2.2 Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.2.2.1 Khái niệm chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
Khi thị trường chứng khoán ra đời và ngày càng phát triển thì hoạt động môi
giới cũng không ngừng được nâng cao. Hoạt động này ra đời xuất phát từ đòi hỏi
khách quan của thị trường và có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của
tính thanh khoản thì khi ấy hoạt động môi giới được coi là có hiệu quả và
chất lượng.
Như vậy, để chất lượng hoạt động môi giới của CTCK đạt tới tiêu chuẩn tốt
nhất thì hoạt động này phải kết hợp được các yếu tố mà nhà đầu tư, CTCK, TTCK,
người môi giới đòi hỏi để đạt tới một chất lượng tốt nhất, chuyên nghiệp nhất và tạo
được uy tín trên thị trường.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
Chất lượng hoạt động môi giới của một công ty chứng khoán phản ánh dưới
nhiều khía cạnh khác nhau. Để đánh giá được nó thì đề tài đưa ra một số chỉ tiêu sau:
a. Chỉ tiêu định tính
Thứ nhất là dựa vào mức độ hài lòng của khách hàng. Khi hoạt động môi giới
đem lại cho khách hàng sự thoả mãn từ các khâu mở tài khoản cho khách hàng, đến
các khâu tiếp theo như nhận lệnh của khách hàng, thực hiện lệnh, xác nhận kết quả
khớp lệnh, thanh toán… và các dịch vụ hỗ trợ đầu tư khác như cầm cố chứng khoán,
ứng trước tiền bán, thông tin doanh nghiệp…thì khi đó chất lượng hoạt động môi
giới của CTCK đã được khẳng định.
Thứ hai là dựa vào mức độ tin tưởng, thân thiện của khách hàng. Khi hoạt động
môi giới của CTCK hoạt động có hiệu quả và đem lại niềm tin cho khách hàng, đồng
thời họ sẽ thân thiện đón nhận những sản phẩm và dịch vụ mới của công ty thì đó
cũng chính là chỉ tiêu đánh giá được chất lượng của hoạt động môi giới.
Những chỉ tiêu này mang tính cảm tính, được phản ánh qua thăm dò, điều tra, khảo
sát, phỏng vấn các nhà đầu tư. Thông thường, các CTCK có bộ phận điều tra khảo sát
hoặc sổ góp ý, hoặc phần trao đổi trên web để các nhà đầu tư phản ánh thông tin về
chất lượng và thái độ phục vụ hoạt động môi giới của công ty.
Bên cạnh đó, chất lượng của hoạt động môi giới có thể thông qua việc đánh giá
của các nhà quản lý thị trường, của các chuyên gia, đánh giá của Hiệp hội…
b. Chỉ tiêu định lượng
Thứ nhất là doanh thu từ phí của hoạt động môi giới chứng khoán. Để đánh
giá hoạt động của một CTCK có hiệu quả hay không thì yếu tố này là vô cùng quan
trọng bởi vì doanh thu chủ yếu của các CTCK ở Việt Nam cũng như các nước trên
1.3.1.1 Mô hình tổ chức và cách thức quản lý
Yếu tố này rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của công ty.
Công ty tổ chức theo mô hình công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn phải
phù hợp với điều kiện của những người muốn thành lập, vào khả năng huy động vốn
và hình thức sở hữu của công ty đó. Theo đó mà cách thức tổ chức và quản lý các
phòng ban cũng khác nhau. Mô hình càng gọn nhẹ nhưng hoạt động có hiệu quả tức
là các hoạt động của nó cũng đang phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng. Hoạt
động môi giới sẽ đem lại chất lượng cao khi cách thức quản lý và tổ chức của công ty
chuyên nghiệp và chặt chẽ. Ngược lại, mô hình quản lý quá cồng kềnh sẽ là một bất
lợi đối với việc quản lý, và có thể sẽ không đưa được ra những hướng giải quyết
nhanh chóng để bộ máy vận hành một cách trôi chảy; và do đó ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động môi giới của công ty.
1.3.1.2 Chiến lược kinh doanh của công ty
Đó là những kế hoạch dài hạn mà trong năm, mười năm tới công ty sẽ thực hiện.
Nó bao gồm những kế hoạch phát triển bộ phận chủ chốt nào, hướng tới những mục
tiêu nào để vị thế của công ty ngày càng được nâng tầm. Hoạt động môi giới là một
hoạt động quan trọng của bất kỳ một CTCK nào, như vậy chiến lược phát triển công
ty trong tương lai chắc chắn không thể tách rời chiến lược phát triển hoạt động này.
Những mục tiêu mà công ty hướng tới có sát với khả năng thực tế hay không, có phù
hợp với hoàn cảnh và diễn biến thị trường không, có sát với khả năng hiện tại của
công ty hay không… đều rất quan trọng với việc nâng cao chất lượng của hoạt động
môi giới. Chính vì thế mà một CTCK không có những chiến lược cụ thể nhằm phát
triển các hoạt động của mình sẽ dẫn đến tình trạng công ty đó sẽ mất vị thế trên thị
trường và có thể phải sát nhập cùng công ty khác để có thể tiếp tục đứng trên TTCK.
Trong chiến lược phát triển của CTCK Habubank thì khách hàng luôn được đặt ở
vị trí hàng đầu. Điều này cho thấy công ty sẽ luôn cố gắng nỗ lực vì quyền lợi của
khách hàng, và như vậy sẽ tạo uy tín với nhà đầu tư. Bên cạnh đó, CTCK Habubank
sẽ liên tục mở rộng quy mô hoạt động để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách
hàng, phát triển đa dạng loại hình dịch vụ, hiện đại hóa phần mềm quản lý nhằm hỗ
trợ các giao dịch tự động… Như vậy trong chiến lược phát triển của CTCK