Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện quá trình Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá và đẩy mạnh cải cách kinh tế nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội nhanh, có hiệu quả và bền vững, nước ta bước đầu đã đạt được những
thành tựu to lớn như: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát được kiềm
chế, đời sống nhân dân được cải thiện,… Để đạt được thành công như vậy,
sự đóng góp của các thành phần kinh tế là rất quan trọng, đặc biệt là doanh
nghiệp ngoài quốc doanh. Nền kinh tế thị trường hiện nay của nước ta là
môi trường thích hợp cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mở rộng và
phát triển. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã và đang khẳng định vai trò
quan trọng của mình trong sự phát triển đất nước.
Nhận thấy tiềm năng phát triển của DNNQD, các NHTM đã phải
thay đổi chính sách cho vay của mình, từ ưu tiên cho vay các Doanh nghiệp
quốc doanh sang mở rộng cho vay Doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đi đôi
với việc tăng số lượng các khoản cho vay đối với DNNQD, các NHTM
cũng phải quan tâm đến chất lượng của các khoản vay đó.
NHCT khu vực Cầu Giấy là một chi nhánh cấp I của NHCT Việt
Nam, mới thành lập từ năm 2001 nhưng đã và đang là một ngân hàng hoạt
động rất hiệu quả ở khu vực quận Cầu Giấy. Số lượng khách hàng tìm đến
vay ngân hàng là DNNQD cũng tăng dần qua các năm. Dư nợ cho vay thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tăng, đặt ra một vấn đề cho NHCT
Cầu Giấy là chất lượng các khoản cho vay DNNQD có thực sự tốt ? Nhận
thức được sự phát triển của DNNQD và tầm quan trọng của hoạt động cho
vay của ngân hàng, qua quá trình thực tập ở NHCT Cầu Giấy, em quyết
định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại chi nhánh NHCT khu vực Cầu Giấy”.
Lê Thanh Nga TCDN 44D
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.Các loại hình DNNQD
Có nhiều cách phân loại DNNQD song nếu phân theo loại hình doanh
nghiệp thì DNNQD bao gồm:
Doanh nghiệp tư nhân
Theo điều 141 Luật doanh nghiệp 2005 thì Doanh nghiệp tư nhân là
doanh nghiệp do một cá nhân là chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của
mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp tư nhân là
một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ. Chủ
doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty TNHH
Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì có hai loại hình Công ty TNHH:
+ Công ty TNHH có hai thành viên trở lên: là loại hình doanh nghiệp
mà các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh
nghiệp.
+ Công ty TNHH một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức làm
chủ sở hữu. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ
tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần
Tại điều 77, Luật doanh nghiệp 2005, Công ty cổ phần là một tổ chức
có tư cách pháp nhân. Đây là loại hình Công ty có tính tổ chức cao, hoàn
thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội cao, chịu trách nhiệm bằng tài sản
của Công ty. Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của
Công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp cho công ty. Vốn điều lệ của Công
ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Lê Thanh Nga TCDN 44D
3
Chuyên đề tốt nghiệp
ngoài). Đến năm 1999, con số này đã tăng lên con số 30500, tính bình quân
mỗi năm tăng khoảng 3252 doanh nghiệp tương ứng với tốc độ tăng
32%/năm. Tổng số DNNQD tăng nhanh chóng trong ba năm sau khi Luật
doanh nghiệp 1999 có hiệu lực được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.Số doanh nghiệp đang hoạt động phân theo khu vực kinh tế
Chỉ tiêu
31/12/01 31/12/02 31/12/03
Tổng số
51.680 62.908 72.012
1.Khu vực Nhà nước 5.355 5.364 4.845
2.Khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh
44.314 55.236 64.526
- Hợp tác xã 3.646 4.104 4.150
- Doanh nghiệp tư nhân 22.777 24.794 25.653
- Công ty hợp danh 5 24 18
- Công ty TNHH 16.291 23.485 30.164
- Công ty cổ phần 1.595 2.829 4.541
3.Khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài
2.011 2.308 2.641
( Nguồn: Niên giám Thống kê 2004, NXB Thống Kê )
Qua bảng trên, ta thấy rằng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu
vực có số lượng tăng nhanh nhất. DNNN đang giảm dần qua các năm còn
khu vực DNNQD đang tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân là 25,6% trong
giai đoạn 2001-2003, mỗi năm tăng khoảng 25,6% trong đó tăng nhanh nhất
là công ty cổ phần 99,3%, công ty TNHH là 49,9%. Mặt khác cũng có thể
thấy khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn,
gấp 10 lần khu vực Nhà nước và gần 25 lần khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Đặc biệt trong những năm gần đây, khi mà Nhà nước đang có
xuất để thu được lợi nhuận. Chính điều này tạo nên tính tự lực, năng động,
sáng tạo và tự chủ trong kinh doanh cho DNNQD.
Từ những đặc điểm của DNNQD, ta thấy rằng đây là một thành phần
kinh tế cần được hỗ trợ phát triển vì sự phát triển của thành phần này phù
hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam, tạo tiền đề phát triển cho toàn bộ nền
kinh tế.
Lê Thanh Nga TCDN 44D
6
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.4.Vai trò của DNNQD trong nền Kinh tế thị trường
Những năm gần đây, với sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng,
DNNQD đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế. Vai trò của
DNNQD được khẳng định qua các khía cạnh sau:
Một là, DNNQD ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và là một bộ phận
đóng góp quan trọng cho Ngân sách Nhà nước, góp phần tăng thu nhập quốc
dân. Năm 2001, thu trong khu vực NQD chiếm 2,6% tổng số thu thì năm
tháng đầu năm 2005 con số này đã là 8,17%. Trong khu vực ngoài quốc
doanh, số thu các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao, năm 2001 là
36,6%, năm 2005 là 63,8%.
Hai là, DNNQD có khả năng tập trung mọi nguồn lực trong xã hội
vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh. Sự hình thành DNNQD đã tạo
điều kiện tập trung vốn, tri thức và nguồn nhân lực vào các ngành kinh tế
mới, các ngành kinh tế phát triển hay các ngành đòi hỏi trí tuệ cao và các
ngành dịch vụ.
Ba là, DNNQD góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp. DNNQD
hoạt động trong lĩnh vực công thương nghiệpvà dịch vụ phát triển góp phần
quan trọng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Hà Nội hiện nay
có hơn 25.000 DNNQD, bình quân mỗi doanh nghiệp giải quyết việc làm
cho 30 người thì đã giải quyết được hơn 750.000 lao động.
Bốn là, DNNQD góp phần duy trì và phát triển các làng nghề truyền
nào và lấy từ đâu?
* Vốn tự có của doanh nghiệp
Vốn tự có của doanh nghiệp là nguồn vốn ban đầu khi thành lập
doanh nghiệp do các cổ đông, chủ sở hữu đóng góp. Đối với các DNNQD,
theo Luật doanh nghiệp 2005, chủ doanh nghiệp phải có một số vốn ban đầu
để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Với Công ty cổ phần, vốn do các cổ
đông đóng góp là yếu tố quyết định hình thành vốn góp ban đầu của Công
Lê Thanh Nga TCDN 44D
8
Chuyên đề tốt nghiệp
ty. Còn đối với Công ty TNHH thì vốn tự có là phần vốn góp của các thành
viên sáng lập Công ty. Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn góp ban đầu do
chính chủ doanh nghiệp đầu tư.
Để duy trì và phát triển thì doanh nghiệp cần phải có thêm nguồn vốn
khác ngoài nguồn vốn tự tài trợ vì lợi nhuận để lại chỉ được dùng tái đầu tư
khi DNNQD đã và đang hoạt động có lãi, được phép tiếp tục đầu tư. Vì vậy,
không có một DNNQD nào chỉ sử dụng vốn tự có trong suốt quá trình hoạt
động của mình mà còn cần phải đi vay.
* Nguồn đi vay
Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, DNNQD có thể vay
thông qua hình thức tín dụng thương mại ,đi vay Ngân hàng hoặc phương
thức phát hành trái phiếu Công ty.
Tín dụng thương mại: Các doanh nghiệp thường khai thác nguồn tín
dụng thương mại qua quan hệ mua bán chịu, mua bán trả góp hay trả chậm
với đối tác và khách hàng. Đây là một phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt,
nhanh chóng và tạo khả năng mở rộng quan hệ hợp tác làm ăn một cách lâu
bền. Tuy nhiên, để có được nguồn vốn này thì doanh nghiệp phải có mối
quan hệ rộng và uy tín cao để có thể có được sự chấp thuận của người bán
đối với doanh nghiệp.
Tín dụng Ngân hàng: Các Ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vay vốn
nói chung và DNNQD nói riêng. Trong điều kiện tiếp xúc với thị trường bên
ngoài với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, mô hình tổ chức và phương pháp
quản lý mới, hiện đại… thì các DNNQD sẽ có nhiều ưu thế hơn vì đây được
coi là khu vực kinh tế năng động nhất trong nền kinh tế.
DNNQD đang có những chuyển biến mạnh mẽ, góp phần ngày càng
lớn vào sự phát triển của đất nước nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng của thành phần kinh tế này, nhiều khi sự phát triển còn mang tính tự
phát.
Lê Thanh Nga TCDN 44D
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.Cho vay Ngân hàng đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1.Giới thiệu về NHTM
1.2.1.1.Khái niệm
Để đưa ra một định nghĩa về NHTM, người ta thường dựa vào tính
chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết
hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.
Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: “ NHTM được coi là
Ngân hàng, là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận
của công chúng dưới dạng hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền
mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ
tài chính”.
Luật Ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: “ Những nhà
băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền kí thác, buôn bán vàng bạc,
hành nghề thương mại và các giá trị địa ố, các phương tiện tín dụng và hối
phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…
Ở Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cùng
với sự phát triển của các doanh nghiệp là sự phát triển của hệ thống Ngân
hàng. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và
các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế
suất. Hoạt động chính là cho vay, ngoài ra còn có hoạt động bảo lãnh và
hoạt động cho thuê tài chính.
* Hoạt động kinh doanh khác mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng
ngoài hai hoạt động chính là: dịch vụ thanh toán, tư vấn tài chính, kinh
doanh ngoại tệ, tài trợ ngoại thương…
1.2.2.Cho vay ngoài quốc doanh của NHTM
Cho vay là một trong những hoạt động kinh doanh truyền thống của
NHTM và đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng.
1.2.2.1.Khái niệm
Lê Thanh Nga TCDN 44D
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc NHNN thì cho vay được định nghĩa như sau: Cho vay là một
hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo
thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Như vậy, trong quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:
- Ngân hàng sẽ chuyển giao cho người vay một lượng giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay dưới hình thái hiện vật
như hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian
nhất định. Sau khi hết thời hạn theo thoả thuận phải hoàn trả người
cho vay.
- Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị ban đầu vì người đi
vay ngoài phần vốn gốc còn phải trả thêm phần lãi tính trên phần vốn
gốc theo lãi suất ngân hàng qui định.
1.2.2.2.Phân loại
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học để thiết lập các qui trình
cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Có nhiều
như nhu cầu mua sắm tài sản và các khoản cho vay tiêu dùng.
* Theo mức độ tín nhiệm đối với khác hàng:
Cho vay không có tài sản đảm bảo là hình thức ngân hàng cho khách
hàng vay dụa trên uy tín của khách hàng mà không cần tài sản cầm cố, thế
chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Cho vay có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay dựa trên cơ sở bảo
đảm như thế chấp hoặc cầm cố tài sản của khách hàng hay có sự bảo lãnh
của bên thứ ba. Đây là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ
hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất chưa chắc chắn.
* Căn cứ theo phương thức cho vay
Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến
của ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không
Lê Thanh Nga TCDN 44D
14
Chuyên đề tốt nghiệp
có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần vay, khách hàng phải
làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân
tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định qui mô cho vay, thời hạn
giải ngân, trả nợ, mức lãi suất và yêu cầu tài sản đảm bảo nếu cần.
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên quá trình luân
chuyển hàng hoá. Đầu năm hoặc quý, người vay phải làm đơn xin vay luân
chuyển, sau đó ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về phương
thức vay, hạn mức cho vay…Hạn mức cho vay có thể được thoả thuận trong
một năm hoặc vài năm, đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời gian
để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng. Vì thủ tục vay chỉ
phải thực hiện một lần nên rất thuận tiện cho khách hàng.
Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ cho vay theo đó ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức tín dụng có thể tính
cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, đó là số dư tại thời điểm tính. Trong kỳ, khách hàng
có thể thực hiện vay trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức
dụng từ các NHTM.
Thông qua hoạt động cho vay của NHTM, các DNNQD đã có đủ
nguồn bổ sung cho vốn lưu động và vốn cố định, yên tâm tiến hành tái đầu
tư mở rộng sản xuất. Với nhiều hình thức cho vay khác nhau, DNNQD có
nhiều cơ hội lựa chọn nguồn vốn và cách thức vay phù hợp nhất với loại
hình và qui mô doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói cho vay ngân hàng là
nguồn vốn hỗ trợ tốt nhất, đa dạng nhất để DNNQD có thể tiến hành quá
trình sản xuất kinh doanh một cách liên tục và phát triển.
* Cho vay ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các
DNNQD
Với một nguyên tắc cơ bản khi đi vay là người vay phải hoàn trả gốc
và lãi trong một thời gian nhất định, nếu quá hạn không trả được vốn vay thì
Lê Thanh Nga TCDN 44D
16
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp phải chịu tổn thất về kinh tế do lãi phạt quá hạn rất cao và sự
mất lòng tin của ngân hàng cho vay. Do đó bắt buộc doanh nghiệp phải tính
toán chi phí sản xuất, tốc độ vòng quay vốn, làm ăn có lãi để khi kết thúc
thời hạn vay vốn có thể đủ tiền để trả gốc, lãi và các khoản chi phí khác. Khi
kí kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải thực hiện vốn
vay đúng mục đích và ngân hàng sẽ giám sát quá trình hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Thêm vào đó, để thu hồi vốn và thu được lãi vay, đôi khi
ngân hàng còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Hoạt
động cho vay của ngân hàng không phải là việc rải đều vốn cho tất cả khách
hàng có nhu cầu mà chủ yếu tập trung những khách hàng làm ăn hiệu quả để
tránh rủi ro cho ngân hàng. Chính vì vậy, các DNNQD muốn vay vốn ngân
hàng lâu dài phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay để thu hồi dòng tiền
đầu tư ban đầu để có thể trả gốc, lãi cho ngân hàng và thu về được một
khoản lợi nhuận cho mình.
* Cho vay ngân hàng kích thích tính năng động, sáng tạo của các
quan hệ tín dụng luôn có sự ảnh hưởng đến ngân hàng, khách hàng và nền
kinh tế. Để hiểu rõ hơn chất lượng cho vay ngoài quốc doanh, ta xem xét sẹ
thể hiện của nó trên các khía cạnh sau:
- Đối với NHTM: Chất lượng cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ,
giới hạn cho vay phải phù hợp với khả năng, thực lực tho hướng tích cực
của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường,
đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động cho
vay phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng dư nợ ngày càng
tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng qui đinh và hợp lý, đảm bảo cơ
cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn, trung và dài hạn trong nền kinh tế.
- Đối với khách hàng: Chất lượng cho vay DNNQD thể hiện ở chỗ
khoản cho vay cấp cho khách hàng phải có lãi và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn
giản, nhanh chóng, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo các
điều kiện cho vay đúng nguyên tắc và đúng qui định của ngân hàng. Các
Lê Thanh Nga TCDN 44D
18
Chuyên đề tốt nghiệp
khoản cho vay chất lượng phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng, góp phần lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp và phù hợp với điều
kiện phát triển của đất nước.
- Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Hoạt động cho vay của NHTM
trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng động của nền kinh tế khi
chuyển sang cơ chế mới. Nhiều khái niệm mới với những nội dung mới để
đạt được sự thống nhất về nhận thức và tạo điều kiện nâng cao chất lượng
hoạt động cho vay.
1.3.2.Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay DNNQD
Trong một vài năm trở lại đây, cùng với sự gia tăng về số lượng các
DNNQD là sự tăng về doanh số cho vay của NHTM đối với DNNQD.
Nhưng một thực tế đáng buồn là số lượng món vay nhiều song chất lượng
tín dụng chưa cao vì tình trạng nợ quá hạn gia tăng. Khi quyết định cho vay,
tra tính khả thi của dự án, hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp. Với những ngân
hàng có chất lượng tín dụng cao, doanh nghiệp còn tránh được phức tạp phát
sinh như hợp đồng không hợp pháp, thiếu giấy tờ, …
1.3.2.2.Góc độ ngân hàng
Tín dụng là hoạt động cơ bản và chủ yếu của ngân hàng. Tuy nhiên
đây cũng là hoạt động chứa đựng rủi ro cao nên ngân hàng luôn chú trọng
đến hoạt động cho vay của mình và nâng cao chất lượng tín dụng.
Nâng cao chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả
năng thu nợ đầy đủ và đúng hạn. Nhờ đó, ngân hàng có điều kiện mở rộng
khả năng cung cấp tín dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác.
Nâng cao chất lượng cho vay đối với DNNQD là một việc làm rất cần
thiết để mở rộng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Vì
nâng cao chất lượng cho vay giúp ngân hàng xây dựng hình ành, uy tín với
khách hàng, thu hút thêm nhiều khách hàng mới đồng thời tăng cường khả
năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Lê Thanh Nga TCDN 44D
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay, các NHTM có xu hướng chuyển sang cạnh tranh bằng chất
lượng dịch vụ bởi vì chính sách lãi suất đã không còn là động lực chính để
thu hút khách hàng. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay là yêu cầu
khách quan và là xu thế phát triển chung.
1.3.2.3.Góc độ nền kinh tế
Doanh nghiệp là các tế bào tạo ra phần lớn của cải cho xã hội. Trong
khi nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong tình trạng thiếu vốn thì
một số ngành lại được đầu tư quá mức; không tính đến cung cầu thị trường
nên sản phẩm làm ra ứ đọng, sản xuất đình trệ, chủ dự án không thể thu hồi
vốn đầu tư trả cho ngân hàng, dẫn tới khan hiếm vốn và hiệu quả sử dụng
vốn thấp. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phân bổ nguồn lực hợp lý, khoa
học và giải quyết vấn đề này chính là nâng cao chất lượng tín dụng trên góc
hạn, cho vay trung, dài hạn… Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tài sản
của ngân hàng chưa cao, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế…Mặc dù vậy,
không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao.
Dư nợ DNNQD
Tỷ trọng dư nợ DNNQD =
Tổng dư nợ
* Chỉ tiêu doanh số thu nợ
Chỉ tiêu doanh số thu nợ cho biết ngân hàng làm ăn có hiệu quả hay
không, các khoản vay có an toàn hay không, các doanh nghiệp có sử dụng
đúng mục đích khoản vay hay không.
Doanh số thu nợ DNNQD
Tỷ trọng doanh số thu nợ =
Tổng thu nợ
* Chỉ tiêu nợ quá hạn DNNQD
Nợ quá hạn (NQH) là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng
không hoàn hảo khi DNNQD đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không
Lê Thanh Nga TCDN 44D
22
Chuyên đề tốt nghiệp
đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đúng hạn như cam kết. Chỉ tiêu nợ quá hạn được thể
hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn cho vay DNNQD
và tổng dư nợ cho vay DNNQD của ngân hàng tại một thời điểm nhất định,
thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm
Nợ quá hạn cho vay DNNQD
Tỷ lệ NQH cho vay DNNQD =
Tổng dư nợ DNNQD
Xét về mặt bản chất,tín dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở ngân
hàng tin tưởng người đi vay có khả năng và sẵn sàng hoàn trả vào một thời
điểm nhất định trong tương lai, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc
nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp
ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để
tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, chỉ tiêu này càng tăng càng
phản ánh tình hình tổ chức quản lý tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng
càng cao.
1.3.3.2.Nhóm chỉ tiêu định tính
Ngoài các chỉ tiêu có thể định lượng chất lượng cho vay DNNQD,
người ta có thể sử dụng các chỉ tiêu định tính như:
- Uy tín của ngân hàng trong việc cấp tín dụng đối với DNNQD
- Sự tuân thủ các qui định của NHNN và hoạt động cấp tín dụng cho
các DNNQD
- Hệ thống trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn có hiệu quả
- Trình độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng
- Quy trình nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng
1.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNNQD
của NHTM
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay NQD của
NHTM song có thể khái quát thành hai nhóm nhân tố chính là:
Lê Thanh Nga TCDN 44D
24
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.1.Nhân tố khách quan:
Là nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài hoạt động cho vay
của NHTM đối với DNNQD. Nhóm nhân tố này bao gồm:
Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm các cơ chế, chính
sách, luật, qui định…của Nhà nước nhằm điều chỉnh các hoạt động cho vay
của NHTM đối với DNNQD. Trong quá trình đổi mới nền kinh tế thì môi
trường pháp lý về hoạt động của các DNNQD đã có nhiều thay đổi theo
hướng tích cực, tạo điều kiện không ngừng cho các phát triển. Nếu như
trước đây, chế độ cho vay đối với DNNQD được qui định trong Quyết định