Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Trường Xuân” là công trình nghiên
cứu của riêng em.
Các số liệu trong chuyên đề là hoàn toàn trung thực, chính xác, xuất phát từ
tình hình thực tế tại Công ty Cổ phần Trường Xuân và chưa từng được công bố tại
bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Giang
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
2.1.2Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty 21
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT KÝ HIỆU TÊN ĐẦY ĐỦ
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 BC KQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
3 BCĐKT Bảng cân đối kế toán
4 BQ Bình quân
5 CPTC Chi phí tài chính
6 DTT Doanh thu thuần
7 LN Lợi nhuận
8 ĐTTC Đầu tư tài chính
9 KPT Khoản phải thu
10 HTK Hàng tồn kho
11 TSNH Tài sản ngắn hạn
12 VLĐ Vốn lưu động
xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận, tăng thêm giá trị cho vốn.
Như vậy, việc quản lý vốn được xem xét dưới góc độ hiệu quả, tức là xem xét
sự luân chuyển vốn, sự ảnh hưởng của các nhân tố khách quan và chủ quan đến sử
dụng vốn.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất quan trọng trong giai đoạn hiện
nay, khi mà nền kinh tế khó khăn, thị trường bất động sản trầm lắng kéo theo các
doanh nghiệp xây dựng “sống dở, chết dở”. Vì vậy các doanh nghiệp xây dựng rất
cần vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ để tồn tại, thắng trong cạnh
tranh mà còn đạt được sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu. Công ty Cổ phần Trường
Xuân là một công ty có tỷ lệ vốn lưu động trong tổng vốn kinh doanh chiếm một tỷ
lệ không nhỏ. Chính vì vậy việc quan tâm tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động được
coi là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp.
Để góp phần giải quyết vấn đề này và được sự quan tâm, giúp đỡ chỉ bảo của
tập thể cán bộ, công nhân viên phòng tài chính – kế toán, phòng kinh tế kỹ thuật
Công ty Cổ phần Trường Xuân, em xin lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
1
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Trường Xuân” làm đề tài chuyên đề
tốt nghiệp cho mình, với mong muốn vận dụng những kiến thức đã được học vào
nghiên cứu thực tiễn, từ đó phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cùng những
vấn đề còn tồn tại góp phần hoàn thiện công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Trường Xuân.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề chủ yếu nghiên cứu các phạm trù liên quan đến hoạt động sử dụng
vốn lưu động: lý luận về vốn lưu động trong doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Phạm vi nghiên cứu: Tình hình thực trạng quản lý, sử dụng hiệu quả vốn lưu
động tại Công ty Cổ phần Trường Xuân từ năm 2010-2012.
3. Phương pháp nghiên cứu
thể nói quá trình sản xuất kinh doanh chính là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo
ra hàng hóa dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào
quá trình sản xuất luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch
chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm
được thực hiện. Những đối tượng lao động nói trên, xét theo hình thái vật chất thì
được gọi là các tài sản lưu động. Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm 2 bộ
phận: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.
- Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ để đảm
bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu
phụ, nhiên liệu… và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất
như: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…
- Tài sản lưu động lưu thông: Là những tài sản lưu động nằm trong quá trình
lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền,
vốn trong thanh toán v v…
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông.
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động
sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hóa lẫn nhau, vận động không
ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Để hình thành nên tài
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông, doanh nghiệp cần phải có một
số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy
được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Như vậy, ta có khái niệm về vốn lưu động như sau:“Vốn lưu động của doanh
nghiệp là số tiền ứng trước để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo
cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên,
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
3
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi
toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kì kinh doanh”.
1.1.2 Đặc điểm của vốn lưu động
4
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa bao gồm: Vốn về vật tư dự
trữ, vốn thành phẩm. Các loại này được gọi chung là vốn về hàng tồn kho. Xem xét
một cách chi tiết hơn, vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp bao gồm:
Vốn nguyên vật liệu chính: là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ cho
sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của sản phẩm.
Vốn vật liệu phụ: là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho
việc hình thành sản phẩm nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ
làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện
cho quá trình sản xuất kinh doanh thực hiện thuận lợi.
Vốn nhiên liệu: là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Vốn phụ tùng thay thế: là giá trị các loại vật tư dựng để thay thế, sửa chữa các
tài sản cố định.
Vốn vật tư đóng gói: là giá trị các loại vật liệu bao bì để đòng gói sản phẩm
trong quá trính sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vốn công cụ dụng cụ: là giá trị các loại dung cụ công cụ không đủ tiêu chuẩn tài
sản cố định.
Vốn sản phẩm đang chế: là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh doanh
đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
Vốn về chi phí trả trước: là khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác
dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản
phẩm trong kỳ này, mà được tính dần vào giá thành sản phẩm của các kỳ tiếp theo
như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thử nghiệm
Vốn thành phẩm: là giá trị các sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn
kỹ thuật và đã nhập kho.
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc
xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể tìm các biện pháp phát huy chức
trái phiếu, vốn góp liên doanh,…
- Nguồn vốn đi vay: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ việc
vay ngân hàng, vay tổ chức tín dụng, vay cá nhân trong và ngoài nước…Nguồn vốn
này đóng vai trị quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng đủ vốn cho quá trình sản xuất và
lưu thông.
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
6
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
Cách phân loại này giúp nhà quản lý tài chính nắm bắt được tỷ trọng của từng
nguồn vốn theo phạm vi huy động, để từ đó có hoạch định những chính sách huy
động vốn hợp lý tạo lập được một cơ cấu vốn tối ưu nhất.
1.1.4 Vai trò của vốn lưu động
Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt
động và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng
nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Là một bộ phận không
thể thiếu được trong vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, vốn lưu động có những vai
trò chủ yếu sau:
Một là: Vốn lưu động giúp cho các doanh nghiệp tiến hành sản xuất hoạt động
sản xuất kinh doanh một cách liên tục có hiệu quả. Nếu vốn lưu động bị thiếu hay
luân chuyển chậm sẽ hạn chế việc thực hiện mua bán hang hóa, làm cho các doanh
nghiệp không thể mở rộng được thị trường hay có thể gián đoạn hoạt động sản xuất
kinh doanh dẫn đến giảm sút lợi nhuận gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Hai là: Do đặc điểm của VLĐ là phân bố rộng khắp trong và ngoài doanh
nghiệp, đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên thông qua quản lý và sử dụng
vốn lưu động, các nhà tài chính doanh nghiệp có thể quản lý toàn diện tới việc cung
cấp, sản xuất và phân phối của doanh nghiệp. Chính vì vậy, có thể nói rằng vốn lưu
động là công cụ quản lý vốn quan trọng. Nó kiểm tra, kiểm soát, phản ánh tính chất
khách quan của hoạt động tài chính thông qua đó giúp cho các nhà quản trị doanh
nghiệp đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong kinh doanh như khả năng thanh
doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về VLĐ mà mình quản lý và sử
dụng. Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấu VLĐ của doanh nghiệp qua các
thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc hạn chế về mặt
chất lượng trong công tác quản lý, sử dụng VLĐ của từng doanh nghiệp.
1.1.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất luôn luôn vận động
luân chuyển từ hình thái này sang hình thái khác, do đó hiệu quả sử dụng vốn lưu
động luôn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trong quá trình vận động đó. Bao gồm:
-Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài của chu kỳ sản xuất,
trình độ tổ chức quản lý sản xuất,….Các yếu tố này ảnh hưởng đến tỷ trọng vốn
trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
-Các nhân tố về mặt cung ứng như: khoảng cách giữa các doanh nghiệp với
nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng, khối lượng vật tư
mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại như vật tư…tất cả các yếu tố
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
8
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
này sẽ tác động đến chi phí vận chuyển, kế hoạch mua hàng, chi phí bảo quản…
-Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán, thủ tục thanh
toán, việc chấp hành kỷ luật thanh toán.
1.1.6 Nhu cầu vốn lưu động và phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động
Trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, để đảm bảo cho việc kinh doanh
diễn ra bình thường, đều đặn thì buộc phải phát sinh nhu cầu về VLĐ.
Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp là thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh
nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và
các khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung
cấp.
Quản lý tốt VLĐ cũng đồng nghĩa với việc phải xác định được nhu cầu vốn
lưu động thường xuyên cần thiết tương ứng với quy mô và điều kiện kinh doanh
ứng ra.
Như vậy, trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn
lưu động. Số vốn lưu động doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra tùy thuộc vào nhu
cầu vốn lưu động lớn hay nhỏ trong từng thời kỳ kinh doanh. Trong công tác quản
lý vốn lưu động, một vấn đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên cần thiết tương ứng với một qui mô và điều kiện kinh doanh nhất
định.
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra phải
đủ để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và được tiến hành một cách liên tục. Đồng
thời phải thực hiện chế độ tiết kiệm một cách hợp lý.
1.1.6.2 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ mà có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định
nhu cầu vốn lưu động. Hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu: Phương pháp trực tiếp
và phương pháp gián tiếp.
*Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Nội dung cơ bản của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến lượng vốn doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên.
Việc xác định nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp này có thể xác định
theo phương pháp sau:
Nhu cầu vốn lưu động = Tài sản kinh doanh – Nợ kinh doanh
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
10
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
Trong đó:
Tài sản kinh doanh gồm các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và các tài
sản ngắn hạn khác.
Nợ kinh doanh là các khoản nợ từ bên thứ ba như các khoản nợ người bán,
người mua, các khoản phải nộp ngân sách, phải trả cán bộ công nhân viên, các
1.2.1 Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
11
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
Đặc trưng cơ bản nhất của vốn lưu động là sự luân chuyển liên tục trong suốt
quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm trong
chu kì kinh doanh. Do vậy khi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động, người ta
chủ yếu đánh giá về tốc độ luân chuyển của nó. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt công tác, mua sắm, dự trữ, sản
xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp hợp lý hay không hợp lý, các khoản vật tư dự trữ
sử dụng tốt hay không tốt, các khoản phí tổn trong sản xuất kinh doanh cao hay
thấp, tiết kiệm hay không tiết kiệm.
Ngoài mục tiêu sử dụng cho mua sắm, dự trữ, vốn lưu động còn được sử dụng
trong thanh toán. Bởi vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn thể hiện ở khả năng
đảm bảo lượng vốn lưu động cần thiết để thực hiện thanh toán. Đảm bảo đầy đủ vốn
lưu động trong thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ hơn trong kinh doanh, vừa
tạo uy tín với bạn hàng và khách hàng.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ và năng lực quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp, đảm bảo vốn lưu động
được luân chuyển với tốc độ cao, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
luôn ở tình trạng tốt và mức chi phí vốn bỏ ra là thấp nhất.
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, do đó việc tổ chức
quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến khả năng tăng trưởng
và phát triển của doanh nghiệp.Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ngày càng
là một vấn đề cốt yếu trọng doanh nghiệp vì những lý do sau:
Trước hết, xuất phát từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận: Bất kỳ doanh nghiệp
nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng hướng tới mục tiêu lợi nhuận.
Vốn lưu động là một bộ phận quyết định nên điều này. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu tổng hợp phản ánh những chỉ tiêu chung đánh giá hiệu quả sử
dụng VLĐ của doanh nghiệp, bao gồm những chỉ tiêu sau:
a.Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độ
luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm. Tốc độc này càng nhanh thì hiệu suất
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
13
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu:
+Vòng quay vốn lưu động
Số vòng quay vốn lưu động (hay còn gọi là số lần luân chuyển vốn lưu động)
được xác định bằng công thức:
Vòng quay VLĐ =
Tổng mức luân chuyển vốn lưu động (DTT)
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Trong đó:
VLĐ bình quân =
Vốn lưu động đầu kỳ + Vốn lưu động cuối kỳ
2
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay của vốn lưu động trong một thời kỳ nhất
định (thường là 1 năm). Nó cho biết trong kỳ phân tích, vốn lưu động quay được
bao nhiêu vòng. Số lần chu chuyển càng nhiều càng chứng tỏ nguồn vốn lưu động
luân chuyển càng nhanh, hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Đây là chỉ
tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động, vì thế chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
+Kỳ luân chuyển vốn lưu động: phản ánh để thực hiện một vòng luân chuyển
vốn lưu động cần bao nhiêu ngày.
Kỳ luân chuyển VLĐ =
*Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ảnh mức độ đầu tư vào các khoản phải thu
để duy trì doanh thu bán hàng cần thiết của doanh nghiệp. Chỉ tiêu được xác định
bằng công thức sau:
Vòng quay các khoản
phải thu
=
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ tiền thu từ bán hàng về doanh nghiệp bao
nhiêu lần. Nói cách khác nó phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu về tiền mặt
của doanh nghiệp. Hệ số càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng
cao, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
* Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình là chỉ tiêu phản ánh số ngày trung bình từ khi doanh
nghiệp xuất giao hàng cho đến khi doanh nghiệp thu được tiền. Công thức xác định:
Kỳ thu tiền trung bình =
Số ngày trong kỳ
Vòng quay khoản phải thu
Hệ số này càng dài chứng tỏ lượng vốn lưu động bị chiếm dụng trong thanh
toán của doanh nghiệp càng lớn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp.
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
15
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
b. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
*Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho phản ánh trong một kỳ ( 1 năm ) hàng tồn kho quay
được bao nhiêu vòng.
Vòng quay hàng tồn kho =
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
thuế và chính sách hoàn thuế đối với doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả
sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Nếu Nhà nước tạo được môi trường kinh
doanh lành mạnh, một hệ thống chính sách hợp lý, các văn bản pháp luật đồng
bộ và ổn định sẽ có tác dụng làm đòn bẩy kinh tế đối với các doanh nghiệp giúp
cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và đồng vốn sinh lợi tối đa. Khi
đứng trước các quyết định đầu tư, doanh nghiệp luôn phải xem xét đến yếu tố này.
- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố như: tăng
trưởng, lạm phát, tỷ giá hối đoái Trong nền kinh tế thị trường, do tác động của lạm
phát, sức mua của đồng tiền bị giảm sút dẫn đến sự tăng giá của các loại hàng hóa,
vật tư…từ đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Trong điều kiện này, doanh nghiệp cần có dự điều chỉnh kịp thời, hợp lý nhằm bảo
toàn vốn kinh doanh.
-Sự phát triển của khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ ngày càng phát
triển và giữ vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình đi lên của nhân loại. Sự phát
triển đó đã đem lại cho các DN một diện mạo mới. Bởi khi khoa học công nghệ
phát triển thì môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Doanh nghiệp
muốn tồn tại, phát triển và nâng cao được vị thế uy tín của mình trên thị trường thì
phải chú trọng đầu tư vào công nghệ. Điều đó không những nâng cao được chất
lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của khách hàng mà còn giúp tiết
kiệm sức lao động của công nhân, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp và xu hướng phát triển của ngành
Kinh tế theo cơ chế thị trường luôn tồn tại nhiều thành phần kinh tế tham gia,
các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh quyết liệt để tồn tại, thị trường tiêu thụ
không ổn định, sức mua của đồng tiền lại có hạn, rủi ro ngày càng tăng và luôn rình
rập doanh nghiệp dễ dẫn đến những rủi ro bất thường trong kinh doanh. Điều này
cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Các rủi ro bất khả kháng: Doanh nghiệp còn có khả năng gặp phải
những rủi ro do thiên tai gây ra như hỏa hoạn, lũ lụt mà doanh nghiệp không
Ngoài ra, một số nhân tố khác như: lỗ tích lũy, việc trích lập dự phòng…các
nhân tố này tác động đến lợi nhuận do đó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp.
-Mối quan hệ của doanh nghiệp: Mối quan hệ của doanh nghiệp thể hiện
trên hai phương diện, đó là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
18
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
doanh nghiệp với nhà cung cấp. Mối quan hệ của doanh nghiệp rất quan trọng vì nó
ảnh hưởng đến nhịp độ sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm qua đó ảnh hưởng
đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với khách
hàng thì sản phẩm tiêu thụ nhanh, dễ dàng và ngày càng được biết đến nhiều hơn.
Mặt khác quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp tốt thì nguyên vật liệu phục
vụ cho quá trình sản xuất sẽ được cung ứng kịp thời, ổn định, đẩy nhanh được tiến
độ sản xuất của doanh nghiệp, tránh được tình trạng ngừng hoạt động do thiếu
nguyên nhiên vật liệu, làm giảm được những chi phí không cần thiết.
Trên đây là một số nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác quản lý và sử
dụng VLĐ của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới
hiệu quả tổ chức và sử dung VLĐ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu xem xét một
cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố nhằm đưa ra những biện pháp hữu
hiệu nhất, để hiệu quả của đồng VLĐ mang lại là cao nhất.
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
19
Học viện Ngân hàng Khoa: Tài chính
Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày khái quát những vấn đề liên quan đến vốn lưu động,
những khái niệm, nội dung, đặc điểm, cách phân loại, từ đó rút ra vai trò của vốn
lưu động. Bên cạnh đó, còn đề cập đến hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
cũng như những nhân tố ảnh hưởng đên hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.
thoát nước, công trình ngầm dưới nước và các công trình điện thế 35KV.
- Sản xuất kinh doanh vậy liệu xây dựng, vật liệu chịu lửa.
- San lấp mặt bằng, xử lý nền móng công trình, thi công các loại cọc (bê tông,
cát, nhồi barette).
- Chế tạo, lắp ráp các loại xe tải nhỏ, xe chuyên dụng
- Kinh doanh, dịch vụ vận tải hàng hóa, hành khách bằng ô tô
- Sản xuất các mặt hàng kim khí
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của từng bộ phận
Bộ máy lãnh đạo của công ty gồm:
SV:Nguyễn Thị Giang Lớp: TCDNE – K12
21