MỤC LỤC
DANH MỤC PHỤ LỤC, BẢNG BIỂU, HÌNH MINH HOẠ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ Viết tắt Viết đầy đủ
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á ISDA International Swaps and
Derivatives Association -
Hiệp hội Quốc tế về Hoán
đổi và Phái sinh
ALCO Ban quản lý tài sản nợ - tài sản có ISMA International securities
market association - Hiệp
hội thị trường chứng
khoán thế giới
ALM Quản lý tài sản nợ - tài sản có KHTK Khe hở thanh toán
BĐH Ban điều hành KHLS Khe hở lãi suất
BOE Bank of England - Ngân hàng
trung ương Anh
LSCB Lãi suất cơ bản
BOJ Bank of Japan - Ngân hàng trung
ương Nhật Bản
LSCĐ Lãi suất cố định
CDO Giấy nợ đảm bảo bằng tài sản LSBĐ Lãi suất biến đổi
CDS
Hợp đồng hoán đổi tổn thất tín
dụng
LIBOR
Lãi suất thị trường liên NH
London
CĐKT
Cân đối kế toán
MBS
Chứng khoán đảm bảo
Tổ chức thương mại thế
giới
IRS Hợp đồng hoán đổi lãi suất IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã trở thành một xu thế của thời đại và diễn
ra ngày càng sâu về nội dung, rộng về quy mô trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam nói
chung, ngành ngân hàng - tài chính Việt Nam nói riêng cũng đã và đang tích cực
tham gia vào xu thế đó. Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO đã được 3 năm và những ảnh hưởng của quá trình hội nhập ngày càng thể
hiện rõ, đặc biệt đối với hoạt động Ngân hàng thương mại (NHTM). Các Tổ chức
tín dụng (TCTD) nước ngoài xuất hiện tại Việt Nam ngày càng nhiều với phạm vi
hoạt động ngày càng mở rộng, đe doạ đến thị phần nội địa của các NHTM Việt
Nam. Ngược lại, hoạt động của các NHTM Việt Nam cũng đang được mở ra trường
quốc tế và chịu nhiều ảnh hưởng hơn từ những biến động kinh tế thế giới. Bối cảnh
trên khiến các NHTM Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro từ thị trường hơn
bao giờ hết. Cuộc chạy đua lãi suất và tình hình căng thẳng về thanh khoản trong
năm 2008, cũng như những diễn biến trên thị trường hối đoái từ 2008 đến nay là hồi
chuông cảnh báo về những nguy cơ rủi ro thị trường ngày càng gia tăng đối với các
NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, việc quản trị rủi ro thị trường (QTRRTT) một cách
bài bản, khoa học và hiệu quả nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh, đảm bảo tính
an toàn và phát triển bền vững rõ ràng đang là một nghiệp vụ rất mới và chưa được
quan tâm đúng mức đối với nhiều NHTM Việt Nam.
Với mục tiêu dự đoán được chuyển động của thị trường (tỷ giá, lãi suất…)
nhằm cắt giảm nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, đồng thời phát hiện
những cơ hội đầu tư có lãi hơn cho ngân hàng; công tác QLRRTT đã được các
NHTM lớn trên thế giới triển khai hiệu quả từ rất lâu; bao gồm từ việc nghiên cứu,
đánh giá, phân tích, dự đoán thị trường và từ đó lập ra các phương án dự phòng tình
trạng đột biến xấu của thị trường.
Thực tế cho thấy nhiều NHTM lớn đã áp dụng thành công và hiệu quả công
4 Tham mưu cho các cơ quan chức năng trong việc xây dựng các định hướng,
quy định, hướng dẫn thực hiện phương pháp QLRRTT phù hợp với thông
lệ quốc tế.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
5 Hệ thống lý luận về rủi ro thị trường và quản lý RRTT.
6 Phương pháp thực hành quản lý RRTT tại các NHTM trên thế giới.
7 Thực trạng RRTT và phương pháp QLRRTT trong hoạt động kinh doanh
tại các NHTM Việt Nam
Trong phạm vi đề tài này, bước đầu nhóm nghiên cứu xin đưa ra những vấn đề
tổng quan về phương pháp và các công cụ QLRRTT qua tham khảo và học hỏi
những phương pháp thực hành tiên tiến từ các NHTM trên thế giới. Việc nghiên
cứu chi tiết hơn từng biện pháp QLRR cụ thể với từng loại rủi ro thị trường cụ thể
(rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản…), nhóm nghiên cứu đề nghị
được phát triển tiếp ở các công trình tiếp theo.
4. Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài thuộc lĩnh vực khoa học ứng dụng, đề tài sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và hiện đại sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nghiên cứu quá trình
xây dựng và phát triển phương pháp QLRRTT tại các NHTM Việt Nam trong trạng
thái động, do tác động của các nhân tố khách quan.
- Phương pháp logic: Nghiên cứu những diễn biến trong sự tác động của các
yếu tố nội tại với nhau, trong đó có các tác nhân chủ yếu, quyết định.
- Phương pháp thống kê và tổng hợp: Đề tài sử dụng các tư liệu trong những
năm gần đây của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của các NHTM, của các khảo sát
quốc tế… được phân bổ theo các tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu
của từng chủ đề.
- Các phương pháp nghiên cứu khác: so sánh, quy nạp và diễn dịch…
5. Kết cấu đề tài
và rủi ro hàng hóa. Ngoài ra, nhiều NHTM cũng xem rủi ro thanh khoản như là một
phần trong danh mục RRTT đối với hoạt động NHTM.
Rủi ro lãi suất (RRLS) là rủi ro điều kiện tài chính của ngân hàng chịu
những biến động bất lợi về lãi suất. Những thay đổi về lãi suất ảnh hưởng đến thu
nhập của ngân hàng thông qua việc làm thay đổi thu nhập lãi thuần của ngân hàng
4
và các khoản thu nhập khác liên quan đến lãi và chi phí hoạt động. Mục đích điều
chỉnh lãi suất nhằm đạt lợi nhuận tối ưu theo từng thời kỳ là một phần quan trọng
trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, tuy nhiên việc điều chỉnh nay không dễ
dàng chút nào bởi sự chênh lệch giữa các khoản huy động và cho vay là rất khó cân
đổi một cách chính xác, đồng thời lãi suất thị trường cũng thường xuyên biến động.
Nguyên nhân cốt lõi của việc biến động lãi suất liên quan chủ yếu đến các chính
sách điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia. Căn cứ theo tình hình phát triển, tốc
độ tăng trưởng nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, thâm hụt cán cân
thương mại… mà chính phủ các nước sẽ điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất cơ bản
(LSCB). Các NHTM căn cứ vào nhu cầu thực tế về sử dụng vốn cho các hoạt động
kinh doanh của mình trong từng thời kỳ mà có sự điều chỉnh lãi suất tương ứng, dao
động xung quanh mức LSCB nêu trên.
Thực tế lãi suất trên thị trường luôn biến động hàng ngày. Tuỳ theo từng thời
kỳ, từng loại tiền tệ; tuỳ theo nhu cầu vốn của các ngân hàng cũng như kỳ hạn của
các khoản vay và cho vay trên thị trường vốn mà biến động lãi suất tăng hay giảm
với các biên độ khác nhau. Biến động lãi suất ảnh hưởng đến bảng cân đối tài sản
của NHTM đồng thời tác động đến các hoạt động tự doanh trên thị trường vốn. Biến
động lãi suất là nguyên nhân gây rủi ro, nhưng đồng thời cũng có thể là cơ hội tìm
kiếm lợi nhuận cho NH nếu có những dự đoán chính xác.
Thay đổi tỷ lệ lãi suất là nguyên nhân trực tiếp gây nên rủi ro lãi suất, bên
cạnh đó có nhiều nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đến mức độ rủi ro lãi suất. Theo
các nguyên nhân đó, có thể phân nhỏ rủi ro lãi suất thành:
- Rủi ro định giá lại: Đó là rủi ro lãi suất phát sinh từ những chênh lệch về kỳ
hạn (đối với lãi suất cố định - LSCĐ) và định giá lại (đối với lãi suất thả nổi -
chọn có thể liên quan đến hệ số nợ lớn, làm tăng thêm ảnh hưởng (tích cực và tiêu
cực) của các trạng thái quyền chọn đối với tình hình tài chính của công ty).
Rủi ro hối đoái (RRHĐ) là khả năng rủi ro hiện tại hoặc tương lai phát
sinh đối với thu nhập và vốn do những biến động bất lợi về tỷ giá hối đoái. Cụ thể,
RRHĐ chỉ sự ảnh hwongr của các biến động bất lợi về tỷ giá lên giá trị trạng thái
ngoại tệ mở của NHTM. Trạng thái ngoại tệ mở của một ngoại tệ là chênh lệch giữa
TSC và TSN (nội và ngoại bảng) của ngoại tệ đó tại một thời điểm. Song song với
6
RRHĐ, các ngân hàng đồng thời cũng đứng trước rủi ro về lãi suất, phát sinh do sự
mất cân đối về thời gian đáo hạn của các trạng thái ngoại tệ. Bên cạnh đó, trong
hoạt động kinh doanh ngoại tệ, ngoài rủi ro về biến động tỷ giá các ngân hàng cũng
phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ của các đối tác trên thị trường, hay chính là rủi ro
thanh toán. Sự chênh lệch múi giờ, phát sinh do quá chậm trễ về thời gian trong việc
thanh toán một đồng tiền tại một trung tâm và việc thanh toán một đồng tiền khác ở
múi giờ khác cũng là nguyên nhân gây RRHĐ mà ngân hàng phải gánh chịu.
Nguyên nhân cốt lõi của RRHĐ bắt nguồn từ chính sách tiền tệ và điều hành
tỷ giá khác nhau của mỗi quốc gia, được thể hiện qua các môi trường tiền tệ sau:
Môi trường tiền tệ thả nổi hoàn toàn: Giá trị đối ngoại của đồng tiền biến
động một cách tự do không ấn định một biên độ dao động cụ thể nào, tăng lên hoặc
giảm xuống tuỳ theo tác động của yếu tố thị trường (như tăng hoặc cắt giảm LSCB,
ảnh hưởng bởi chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ thất nghiệp, cung cầu ngoại tệ…)
Môi trường tiền tệ có kiểm soát: Giá trị đối ngoại của đồng tiền được ấn định
theo một loại ngoại tệ nhất định (ví dụ: VNĐ/USD) và có biên độ dao động cụ thể.
Môi trường tiền tệ bị thay đổi theo chính sách điều hành: Giá trị đối ngoại của
đồng tiền từ có kiểm soát sang thả nội hoặc ngược lại.
Mặt khác, nhân tố trực tiếp tác động đến tỷ giá hối đoái chính là sự dịch
chuyển đường cung và cầu trên thị trường ngoại hối, dưới ảnh hưởng của 4 yếu tố
sau:
- Cán cân thương mại: trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nếu nhập
khẩu của một nước tăng thì đường cung tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về phía
thể của các mức giá chứng khoán, hàng hóa. Rủi ro không hệ thống liên quan đến
biến động giá được xác định bởi các đặc trưng cụ thể của doanh nghiệp.
Rủi ro chứng khoán phát sinh do biến động tăng hoặc giảm giá chứng khoán
theo chiều hướng bất lợi. Biến động giá chứng khoán chịu ảnh hưởng của 3 nhóm
yếu tố. Thứ nhất, chính sách của nhà nước, biến động lãi suất, tỷ lệ lạm phát… có
thể gây rủi ro chung cho toàn thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến mọi công ty
khi niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch, đây chính là rủi ro hệ thống. Thứ hai, các
yếu tố gây tác động xấu đến một lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh riêng biệt
hay một ngành nghề cụ thể nào đó cũng sẽ là nhân tố gây nên rủi ro giá chứng
8
khoán của các công ty hoạt động trong ngành. Thứ ba, kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá chứng khoán của chính
doanh nghiệp đó.
Đối với rủi ro hàng hóa, sự biến động về giá cả hàng hóa theo chiều hướng bất
lợi là nguyên nhân gây rủi ro cho nhà đầu tư, cho các ngân hàng có hoạt động kinh
doanh trong lĩnh vực này. Cung và cầu hàng hóa sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến biến
động giá cả hàng hóa. Bên cạnh đó, các yếu tố như nhu cầu tiêu dùng của con
người, yếu tố thời vụ các mặt hàng, mức độ khan hiếm, các chính sách về xuất nhập
khẩu, biến động tỷ giá, lãi suất hay các hoạt động có tính chất đầu cơ trên thị trường
hàng hóa đều có ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa. Như vậy, các nhân tố gây biến
động giá hàng hóa là rất phong phú, đa dạng và khả năng tạo rủi ro đồng thời tạo cả
cơ hội kiếm lời cũng rất cao.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, mảng hoạt động tự doanh, đầu cơ
mua bán hàng hóa chịu ảnh hưởng chính từ rủi ro hàng hóa. Bên cạnh đó, các sản
phẩm liên quan đến thị trường hàng hóa như các hợp đồng mua bán hàng hóa kỳ
hạn, hợp đồng quyền hạn… cũng khiến cho ngân hàng vừa có cơ hội kiếm lời, vừa
có khả năng phải chịu tổn thất khi thị trường hàng hóa biến động không như dự
đoán của ngân hàng.
Cả bốn loại rủi ro trên đều có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàng
với bản chất là sử dụng vốn tự có và vốn huy động từ các nguồn khác nhau để cho
hưởng và rủi ro xảy ra nếu như biến động tỷ giá không theo như nhận định của ngân
hàng. Ngoài ra sự không cân xứng về ky hạn giữa TSC (TSC) và TSN (TSN) đối
với từng loại ngoại tệ cũng gây nên rủi ro hối đoái. Hai ví dụ sau sẽ mô tả rõ hơn về
rủi ro tỷ giá hối đoái.
Ví dụ 1: Một ngân hàng duy trì trạng thái ngoại hối tại thời điểm x/x/20…
Loại
ngoại
tệ
Trạng thái
NT đầu
ngày
Mua
trong
ngày
Bán trong
ngày
Trạng thái
NT cuối
ngày
Ý nghĩa kinh tế
USD 2.000.000 500.000 250.000 2.250.000
Trạng thái ngoại tệ trường
- Lãi khi giá USD tăng
- Lỗ khi giá USD giảm
EUR 1.000.000 500.000 2.000.000 -500.000 Trạng thái ngoại tệ đoản
10
- Lãi khi giá EUR giảm
- Lỗ khi giá EUR tăng
JPY 15.000.000 15.000.000
Trạng thái ngoại tệ trường
1USD = 16.000 VNĐ, sau một thời gian, tỷ giá giảm xuống còn 1USD=15.500
VNĐ, ngân hàng lại tiến hành mua USD để cân bằng trạng thái, lãi kinh doanh
ngoại hối thu được là 500VNĐ/USD (ở đây ta chỉ tập trung vào yếu tố tỷ giá, mà bỏ
qua chênh lệch lãi suất phát sinh giữa hai đồng tiền). Bằng bảng luồng tiền, ta biểu
11
diễn quy trình kinh doanh như sau:
Thời điểm Giao dịch USD VND Tỷ giá áp dụng
t
0
Bán USD lấy VND -1 +16.000 1USD=16.000VND
t
1
Dùng VND mua lại USD +1 -15.500 1USD=15.500VND
Kết quả kinh doanh 0 +500
Chúng ta thấy ngay rằng, nếu tỷ giá trên thị trường thực sự không giảm, mà lại
tăng thì đương nhiên là ngân hàng A phải chịu khoản lỗ ngoại hối.
Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời
điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá cao
hơn để hưởng chênh lệch tỷ giá. Hành vi mua bán diễn ra tại cùgn một thời điểm
với số lượng bằng nhau, nên kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu RRHĐ (vì
không tạo trạng thái ngoại hối) và không phải bỏ vốn.
Ví dụ, có hai ngân hàng niêm yết tỷ giá kinh doanh VND/USD như sau:
Ngân hàng Mua vào Bán ra
Ngân hàng A 15.667 15.674
Ngân hàng B 15.676 15.679
Ngân hàng sẽ kinh doanh chênh lệch tỷ giá như sau:
Giao dịch USD VND
Mua USD tại ngân hàng A +1 -15.674
Bán USD cho ngân hàng B -1 +15.676
ngân hàng và mối liên hệ trực tiếp và dễ hiểu của nó với những thay đổi về lãi suất.
Tuy nhiên do các ngân hàng chuyển sang thực hiện các hoạt động tạo ra thu nhập
dựa trên phí và cá thu nhập ngoài lãi khác, người ta ngày càng tập trung vào tổng
thu nhập lãi thuật bao gồm cả thu nhập và chi phí ngoài lãi. Ví dụ một số ngân hàng
cung cấp chức năng thanh toán nghĩa vụ nợ và quản lý khoản vay đối với các khoản
vay cầm cố để lấy phí dựa trên doanh số tài sản được quản lý. Khi lãi suất giảm,
ngân hàng làm dịch vụ có thể bị giảm thu nhập phí do các khoản cầm cố trước được
trả trước. Ngoài ra, thậm chí những nguồn thu nhập ngoài lãi truyền thống khác như
phí thực hiện giao dịch ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất.
- Khía cạnh giá trị kinh tế: Thay đổi lãi suất thị trường có thể ảnh hưởng tới
giá trị kinh tế của các tài sản có, tài sản nợ và các trạng thái ngoại bảng của ngân
hàng. Nói đến giá trị của một công cụ hàm ý giá trị hiện tại của các luồng tiền thuần
dự kiến thu được từ công cụ đó, được chiết khấu để phản ánh lãi suất thị trường.
13
Nói rộng hơn, giá trị kinh tế của một NH được hiểu là giá trị hiện tại của luồng tiền
mà NH sẽ thu được trong tương lai. Theo đó, giá trị kinh tế chịu tác động của hai
yếu tố: sự thay đổi về luồng tiền tương lai, và mức lãi suất chiết khấu được sử dụng
để tính toán giá trị hiện tại của luồng tiền đó. Do vậy, xét theo khía cạnh giá trị kinh
tế thì RRLS tiềm ẩn những ảnh hưởng dài hạn đối với ngân hàng.
- Các tổn thất ngầm: Các khía cạnh về thu nhập và giá trị kinh tế tập trung vào
những thay đổi trong tương lai ảnh hưởng như thế nào đến tình hình tài chính của
ngân hàng. Khi đánh giá mức độ rủi ro lãi suất ngân hàng sẵn sàng và có khả năng
chấp nhận, ngân hàng cần cân nhắc cả ảnh hưởng của lãi suất trong quá khứ đối với
tình hình tài chính trong tương lai. Ví dụ một khoản vay dài hạn có lãi suất cố định
được ký kết khi lãi suất thấp và sau đó được tài trợ bằng các tài sản nợ có lãi suất
cao hơn trong thời hạn còn lại có thể làm giảm các nguồn lực của ngân hàng.
b. Nguồn phát sinh rủi ro lãi suất đối với các NHTM
Như đã nêu ở phần trên, RRLS xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trường
hoặc những yếu có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm
thu nhập của ngân hàng. RRLS xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa
ngược lại.
- Thứ hai là sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân
hàng và việc ngân hàng sử dụng LSCĐ trong các hợp đồng.
Lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi, ngân hàng luôn nghiên cứu và dự
báo lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo chính
xác mức độ thay đổi của lãi suất. Khi đó tuỳ theo tình trạng khe hở lãi suất của ngân
hàng và biến động lãi suất trên thị trường mà ngân hàng phải chịu tổn thất hoặc có
lời. Cụ thể, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, khi lãi suất trên thị trường
tăng, chênh lệch lãi suất tăng; khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất
giảm. Ngược lại, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm, khi lãi suất trên thị
trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm; khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch
lãi suất tăng.
c. Các nhân tố phản ánh quy mô rủi ro lãi suất:
- Khe hở lãi suất (interest rate gap): Các nhà quản lý ngân hàng đã dùng khe
hở lãi suất như là tiêu chí đo khả năng thu nhập giảm khi lãi suất thay đổi. Khe hở
15
lãi suất hình thành do chênh lệch tài sản và nguồn nhạy cảm. Có nhiều nhân tố ảnh
hưởng tới quy mô của nguồn và tài sản nhạy cảm, qua đó ảnh hưởng đến khe hở lãi
suất:
+ Nhu cầu về kỳ hạn của người sử dụng;
+ Khả năng về kỳ hạn của người gửi và cho vay;
+ Chuyển hoán kỳ hạn của nguồn.
Sự khác biệt về kỳ hạn của nguồn và tài sản là tất yếu. Kỳ hạn để phân loại tài
sản và nguồn nhạy cảm không phải là kỳ hạn danh nghĩa mà là thời hạn tài sản và
nguồn được xác định lại lãi suất. Ví dụ, một nguồn tiền huy động 2 năm với lãi suất
10%/năm và đã duy trì được 1 năm 10 tháng, vậy vào thời điểm tính toán, nguồn
này chỉ còn 2 tháng là đến hạn. Nếu lãi suất thị trường thay đổi, nguồn này sẽ được
định lại giá (xác định lại lãi suất).
Ngân hàng khó có thể và cũng không cần thiết duy trì sự phù hợp tuyệt đối về
kỳ hạn giữa các nguồn và các loại tài sản khác nhau trong mọi thời kỳ. Trước hết,
200
Nếu lãi suất của thị trường tăng thêm 1%, chênh lệch lãi suất của ngân hàng:
(80x6% + 120x7% - 120x5% - 80x6%) x100
=1,2 (giảm 0,2%)
200
Khe hở nhạy cảm 80 - 120 = -40
Vậy từ khe hở nhạy cảm ta có thể dự đoán tổn thất khi lãi suất thay đổi:
Thu nhập từ lãi giảm (-)
hoặc tăng (+)
=
Khe hở
nhạy cảm
x
Mức gia tăng
của lãi suất
Từ ví dụ trên ta có: Thu nhập từ lãi giảm (-) = -40x1% = -0,4 (đơn vị)
Chênh lệch từ lãi suất
giảm (-) hoặc tăng (+)
Khe hở nhạy cảm x Mức gia tăng của lãi suất
Tổng tài sản sinh lời
-0,4 x 100
=0,2%
200
d. Các diễn biến của RRLS:
Lãi suất thay đổi không cùng mức độ: Để thấy ảnh hưởng của trạng thái tài sản
và nguồn nhạy cảm đối với RRLS, chúng ta giả định lãi suất nguồn và tài sản nhạy
cảm thay đổi với cùng mức độ. Song trên thực tế, các mức lãi suất thay đổi theo các
mức độ khác nhau cũng gây ra RRLS dù độ lớn và dấu của khe hở lãi suất như thế
17
nào.
18
khi lãi suất tăng, 100% tiền gửi thanh toán được chuyển sang lãi suất mới chỉ trong
vòng 1 vòng, trong khi đó chỉ một phần tiền gửi 3 tháng được chuyển sang lãi suất
mới trong vòng 1 tháng. Do vậy, nhà quản lý cần kết hợp quy mô và kỳ hạn cá biệt
của từng loại tài sản và nguồn để tính kỳ hạn trung bình của tài sản và nguồn,
nghiên cứu mức độ nhạy cảm của chúng đối với lãi suất.
Nguồn và TSC kỳ hạn trên 1 năm với lãi suất cố định được coi là kém nhạy
cảm với lãi suất. Song mức độ nhạy cảm của mỗi loại cũng khác nhau và đều có tác
động tới khe hở lãi suất. Một nguồn huy động 3 năm để cho vay 3 năm với lãi suất
cố định thì không có RRLS. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khách hàng vay là doanh
nghiệp lớn có thể thay lãi suất khi lãi suất trên thị trường giảm. Các doanh nghiệp
này có thể trả trước hạn, vay ngân hàng khác để trả, thoả thuận với ngân hàng để
giảm lãi suất ghi trong hợp đồng… Khi tình hình cho vay trở nên khó khăn các
ngân hàng buộc phải chấp nhận yêu cầu của khách hàng, thực tế này tạo ra tổn thất
cho ngân hàng.
1.2.3. Rủi ro thanh khoản
a. Bản chất cốt lõi của rủi ro thanh khoản là sự mất cân xứng giữa cung thanh
khoản và cầu thanh khoản do cân đối không chính xác luồng tiền ra và luồng tiền
vào hoặc do tác động từ bên ngoài mà không lường trước được nên dẫn đến rủi ro
thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là rủi ro đặc thù của các NHTM được phản ánh rõ
nét thông qua nguồn vốn có độ thanh khoản cao (bản chất tiền gửi), tài sản có độ
thanh khoản thấp (bản chất cho vay, hay tài sản có tính lỏng thấp) và dựa trên uy
tín, độ tín nhiệm của ngân hàng.
b. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản: Có 2 nguyên nhân chính sau:
Nguyên nhân chủ quan: liên quan đến chính việc xác định nhu cầu thanh
khoản của ngân hàng, thể hiện ở các điểm chính sau:
- Ngân hàng không dự tính trước được nhu cầu tài trợ khoản cho vay.
- Ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền ngay.
- Ngân hàng thiếu đa dạng hoá các loại hình tài trợ, các loại tiền.
Nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn theo kỳ đáo hạn thực tế: so sánh nguồn
vốn thực tế và sử dụng vốn thực tế theo các kỳ đáo hạn để xác định khả năng thanh
khoản của ngân hàng.
Ví dụ, một ngân hàng có kỳ hạn các nguồn vốn huy động và sử dụng như sau:
ĐV: tỷ đồng
20
Kỳ hạn
Vốn
Không
kỳ hạn
1 tuần 1 tháng 6 tháng
12
tháng
Trên 1
năm
Tổng
Sử dụng vốn (A) 1700 1000 1500 1500 1000 5300 12000
Nguồn vốn (B) 5300 0 2900 2500 600 1000 12000
Chênh lệch (B-A) 3300 -1000 1400 1000 -400 -4300 0
Cộng dồn 0 -3300 -2300 -3700 -4700 -4300
Nguồn vốn và sử dụng vốn là không tương xứng nhau được biểu diễn ở bảng
trên cho ta thấy sự khác biệt giữa luồng tiền vào và luồng tiền ra ở các kỳ hạn khác
nhau của ngân hàng. Như vậy ngân hàng sẽ phải cân đối luồng tiền một cách hợp lý
đồng thời lên kế hoạch phân loại và đánh giá các khoản sử dụng và huy động vốn
để trích lập dự phòng rủi ro thanh khoản khi phát sinh các trường hợp rút/trả trước
hạn của khách hàng.
Khe hở thanh toán: khe hở thanh khoản cho ngân hàng thấy sự chênh lệch
giữa cung và cầu thanh khoản của ngân hàng, phản ánh sự thiếu hụt hay thặng dư