Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu phí thuộc ngân sách nhà nước trên địa bàn quận tây hồ - Pdf 23

Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

1
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

Mục lục

LỜI CAM ĐOAN 5
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ 7
LỜI MỞ ĐẦU 8
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÍ, LỆ PHÍ VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÍ, LỆ PHÍ Ở
VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY 11
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÍ, LỆ PHÍ 11
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của phí, lệ phí 11
1.1.1.1. Khái niệm phí, lệ phí 11
1.1.1.2. Đặc điểm của phí, lệ phí 12
1.1.2. Phân loại phí, lệ phí 14
1.1.2.1 Phân loại phí 14
1.1.2.2. Các loại lệ phí 17
1.1.3. Nguyên tắc xác lập phí, lệ phí 19
1.1.3.1. Phạm vi áp dụng 19
1.1.3.2. Thẩm quyền ban hành, quy định về phí, lệ phí 20
1.1.3.3. Về mức thu phí, lệ phí 20
1.1.3.4. Chế độ thu, nộp, quản lý sử dụng tiền phí, lệ phí 22
1.1.3.5. Đăng ký, kê khai, nộp, quyết toán phí, lệ phí 25
1.2. NỘI DUNG, YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÍ, LỆ
PHÍ THUỘC NSNN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 27
1.2.1. Nội dung, quy trình quản lý thu phí, lệ phí thuộc NSNN 27
1.2.1.1. Lập dự toán thu phí, lệ phí 27

2.1.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội quận Tây Hồ 37
2.1.2. Tổ chức bộ máy thu thuế, phí, lệ phí thuộc NSNN ở quận Tây
Hồ 39
2.1.3. Tình hình thu ngân sách trên địa bàn quận Tây Hồ thời gian
qua 41
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

3
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU PHÍ, LỆ PHÍ
THUỘC NSNN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ 45
2.2.1. Tình hình phân cấp quản lý thu phí, lệ phí thuộc NSNN trên
địa bàn 45
2.2.2. Tình hình đăng ký thu phí, lệ phí thuộc NSNN của các đơn vị
được phân cấp quản lý thu. 51
2.2.3. Tình hình kê khai và nộp phí, lệ phí thuộc NSNN của các đơn
vị được phân cấp quản lý thu. 51
2.2.4. Tình hình sử dụng nguồn thu từ phí, lệ phí thuộc NSNN của
các đơn vị được phân cấp quản lý thu. 52
2.2.5. Tình hình quyết toán thu phí, lệ phí thuộc NSNN của các đơn
vị được phân cấp quản lý thu. 53
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU PHÍ, LỆ
PHÍ THUỘC NSNN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ THỜI GIAN
QUA 63
2.3.1. Những mặt đã làm được 63
2.3.2. Các mặt còn tồn tại 65
2.3.3. Nguyên nhân chủ yếu. 66
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THU PHÍ, LỆ PHÍ THUỘC NSNN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN

các tổ chức, cá nhân có thành tích trong quá trình chấp hành pháp
luật. 79
3.4. CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆN : 80
Kết luận 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

5
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu, kết quả nếu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế trên địa bàn quận Tây Hồ.
Tác giả luận văn

Doãn Thị Hằng

Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1:Tổng hợp số thu ngân sách trên địa bàn quận Tây Hồ qua các năm
Bảng 2: Kết quả thực hiện thu ngân sách năm 2010
Bảng 3:Tổng hợp kết quả thu phí, lệ phí
Bảng 4: Bảng tổng hợp số thu lệ phí trước bạ
Bảng 5: Tổng hợp kết quả quyết toán phí, lệ phí thuộc NSNN năm 2009, 2010
Bảng 6: Tổng hợp kết quả thu phí, lệ phí năm 2009, 2010 -Văn phòng đăng ký
đất và nhà quận Tây Hồ
Bảng 7: Tổng hợp quyết toán phí, lệ phí 2009, 2010-Văn phòng HĐND và
UBND quận Tây Hồ
Bảng 8: Tổng hợp số thu năm 2010
Bảng 9: Dự toán thu phí, lệ phí 2011 – quận Tây Hồ.
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

8
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

LỜI MỞ ĐẦU

1- Tính cần thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với nguồn thu từ thuế, nguồn thu từ lệ phí và các khoản phí thuộc
ngân sách nhà nước đã cấu thành nên nguồn thu chủ yếu, quan trọng nhất của
ngân sách nhà nước. Đồng thời thông qua các nguồn thu này, Nhà nước đã
quản lý, kiểm soát, điều tiết đối với tất cả hoạt động sản xuất, kinh doanh
trong nền kinh tế - xã hội, các hoạt động cung cấp các dịch vụ về hành chính,
pháp lý và các dịch vụ khác do cơ quan nhà nước thực hiện. Chính vì vai trò
và tầm quan trọng nêu trên, bên cạnh nỗ lực nâng cao hiệu quả công tác quản
lý thuế của toàn xã hội cũng như ở các cơ quan quản lý thuế, việc nâng cao
hiệu quả công tác quản lý thu phí, lệ phí cũng đang được cơ quan có thẩm
quyền hết sức quan tâm. Trong thời gian vừa qua, với sự ra đời của Pháp lệnh

2- Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nhận thức đầy đủ bản chất các khoản phí, lệ phí, tầm quan
trọng và mối liên hệ trong công tác thu ngân sách nhà nước, đề tài nghiên cứu
đánh giá thực trạng tình hình quản lý thu và sử dụng các khoản phí và lệ phí
đó trong thời gian qua của quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội nhằm đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu và sử dụng các khoản phí,
lệ phí trên địa bàn quận Tây Hồ góp phần tăng cường công tác quản lý các
hoạt động thu ngân sách nhà nước theo đúng yêu cầu của pháp luật.
3- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chủ yếu đi vào nghiên cứu các khoản thu phí, lệ phí thuộc ngân
sách nhà nước, gắn với bộ máy quản lý, cơ quan quản lý nhà nước. Phần đánh
giá thực trạng được khảo sát và thông qua số liệu điển hình mang tính trọng
yếu và chủ yếu của quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội trong những năm gần
đây.
4- Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 69 trang, ngoài Lời mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, phần nội dung chính được chia làm 03 chương:
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

10
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

Chương 1: Lý luận chung về phí, lệ phí và sự cần thiết phải nâng cao
hiệu quả công tác quản lý phí, lệ phí ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà
nước trên địa bàn quận Tây Hồ thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu
phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước trên địa bàn quận Tây Hồ.
Do phạm vi đề tài nghiên cứu rộng, vấn đề phí và lệ phí lại là vấn đề
phức tạp, thời gian và trình độ còn hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi

thu hồi lại ngay được. Khi các hàng hóa, dịch vụ này được cung cấp, người
dân sẽ được hưởng những lợi ích trực tiếp như an sinh xã hội và phúc lợi xã
hội được nâng cao, các quyền lợi chính đáng của dân chúng được đảm bảo,
các nhu cầu chính đáng của họ được thỏa mãn… Để đảm bảo công bằng theo
nguyên tắc “ai được hưởng lợi thì người đó phải trả tiền” và việc bù đắp toàn
bộ hay một phần chi phí mà Nhà nước bỏ ra đầu tư các hàng hóa, dịch vụ
công cộng nói trên thì Nhà nước cần thiết phải có chế độ thu hồi phần chi phí
này. Khoản thu này có thể được thực hiện dưới các hình thức như thuế, lệ phí
và phí thuộc ngân sách nhà nước.
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

12
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

Pháp lệnh Phí, lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28/08/2001 có
quy định về phí, lệ phí thuộc NSNN như sau:
- Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một số tổ chức,
cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí ban hành
kèm theo Pháp lệnh. (Điều 2)
- Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước
được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh. (Điều 3)
Như vậy, phí thuộc ngân sách nhà nước là khoản tiền mà các tổ chức, cá
nhân phải nộp khi được Nhà nước cung cấp các dịch vụ công cộng (hữu hình)
theo quy định. Khoản phí này được sử dụng để thu hồi một phần hay toàn bộ
các chi phí Nhà nước đã đầu tư để cung cấp các dịch vụ công cộng này. Tuy
nhiên, mức thu phí này thông thường không hoàn toàn vì mục tiêu kinh tế, mà
nó còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội, do đó mức thu phí này không tính đủ
chi phí mà chỉ thu hồi một phần chi phí và nó không bị chi phối nhiều bởi các
yếu tố của thị trường.

nhà nước.
 Phí và lệ phí là khoản thu mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người
nộp.
Người nộp phí và lệ phí được hoàn trả trực tiếp bằng các dịch vụ theo
yêu cầu do cơ quan nhà nước hay tổ chức, cá nhân cung cấp. Người nào có
nhu cầu nhiều thì phải trả phí, lệ phí nhiều hơn.
 Lệ phí được thu gắn với việc cung cấp dịch vụ hành chính của Nhà
nước hoặc Nhà nước ủy nhiệm cho một tổ chức nào đó thực hiện.
Việc thu lệ phí có tính chất pháp lý cao đi đôi với việc cung cấp các thủ
tục hành chính, pháp lý mà Nhà nước đảm nhận gắn với chức năng quản lý
nhà nước. Vì vậy, xét về một góc độ nào đó, mục đích chính của lệ phí là thực
hiện chức năng quản lý nhà nước, không tập trung chủ yếu vào mục đích bù
đắp chi phí và thường không mang tính ngang giá.
 Phí thường được thu với mục đích chính là bù đắp chi phí.
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

14
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

Các dịch vụ, công việc được thu phí là rất rộng, đa dạng ở nhiều ngành,
nghề, lĩnh vực khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hoặc đáp ứng yêu
cầu quản lý của Nhà nước. Đối tượng cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công
cộng được thu phí là Nhà nước và tư nhân có điều kiện, khả năng cung cấp
các dịch vụ mà người nộp yêu cầu. Khi đó, khoản thu phí thường được xác
định liên quan đến phần chi phí bỏ ra khi cung cấp dịch vụ công cộng có thu
phí đó. Mặc dù vậy, một số khoản thu phí của ngân sách nhà nước có tính đến
các yếu tố khác như các yếu tố về chính sách xã hội, chính sách kinh tế…
1.1.2. Phân loại phí, lệ phí
1.1.2.1 Phân loại phí
- Căn cứ vào đối tượng cung cấp dịch vụ có 2 loại phí: Phí của Nhà

được hưởng trực tiếp số tiền thu được từ phí, kinh phí tổ chức thu nộp được
cấp theo Luật Ngân sách nhà nước. Loại phí này có tác dụng là tăng thu nhập
cho NSNN và thường do Chính phủ trực tiếp ban hành và quản lý, mang tính
chất quan trọng liên quan đến lợi ích của quốc gia như phí giao thông qua giá
xăng, phí cầu, phí bảo vệ môi trường
+ Phí để lại một phần cho tổ chức, cá nhân quản lý thu là phí mà tổ
chức, cá nhân thu được để lại số tiền thu được từ phí để chi tiêu, trang trải chi
phí thu nộp, mức để lại tùy thuộc vào dự toán năm về chi phí cần thiết cho
việc thu phí và dự toán năm về phí.
Các loại phí này thường phát sinh ở các đơn vị sự nghiệp có thu như: Phí
thuê hội trường, phí cho thuê xe, thuê cửa hàng, nhà xưởng của các tổ chức
chính trị, chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp
+ Các loại phí để lại toàn bộ cho đơn vị sử dụng: là các loại phí phát
sinh thường xuyên, các đơn vị thu được phí sẽ được để lại sử dụng toàn bộ bổ
sung vào nguồn kinh phí do Nhà nước cấp nhằm cải thiện điều kiện làm việc,
nâng cao chất lượng hoạt động như học phí, viện phí Các đơn vị thu các
khoản phí này theo chế độ quy định của Nhà nước phải tiến hành ghi chép,
phản ánh rõ ràng qua hệ thống sổ sách kế toán như nguồn kinh phí NSNN cấp
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

16
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

và việc quản lý, sử dụng phải bảo đảm đúng mục đích đầu tư trở lại và cơ chế
quản lý tài chính hiện hành. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp hoạt động
công ích, các khoản phí hầu như được để lại toàn bộ và cấu thành nên thu
nhập hoặc doanh thu của chính các doanh nghiệp này.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, có các loại phí :
+ Phí từ hoạt động sự nghiệp: Là những loại phí phát sinh từ các lĩnh
vực hoạt động sự nghiệp của nhà nước đảm nhận như: Sự nghiệp kinh tế

định trên cơ sở chi phí bỏ ra để cung cấp hàng hóa dịch vụ thu phí mà chủ yếu
dựa trên quan điểm quản lý nhà nước về lĩnh vực thu phí đó, chẳng hạn như
phí bảo vệ môi trường.
+ Phí có tính chất bù đắp chi phí : là những loại phí nằm trong danh mục
phí do Nhà nước ban hành, việc đầu tư vào lĩnh vực được phép thu phí được
thu hồi thông qua cơ chế giá phí. Mức thu phí dựa trên lợi ích mang lại cho
người được sử dụng hàng hóa, người được cung cấp dịch vụ, thời gian dự định
thu hồi vốn đầu tư.
1.1.2.2. Các loại lệ phí
- Căn cứ vào thẩm quyền ban hành lệ phí được chia làm 2 loại: Lệ phí
trung ương và lệ phí địa phương.
+ Lệ phí trung ương: là phí thuộc danh mục lệ phí Nhà nước ban hành
nhưng do chính quyền trung ương định đoạt mức thu và tổ chức quản lý thu
nộp, là những loại lệ phí do Trung ương quản lý thu gắn với các hoạt động có
tính quốc gia, như lệ phí hải quan, lệ phí cấp hộ chiếu, lệ phí chứng nhận thị
thực xuất nhập cảnh và cư trú, lệ phí cấp hạn ngạch xuất nhập khẩu, lệ phí
được phép sử dụng không phận, hải phận
Nhìn chung, ở cấp Trung ương ít phát sinh các loại lệ phí vì cơ chế quản
lý ở Trung ương mang tính chất ở tầm vĩ mô, gián tiếp, chủ yếu về đường lối,
chủ trương, chính sách.
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

18
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

+ Lệ phí địa phương : là lệ phí thuộc danh mục lệ phí do Nhà nước ban
hành nhưng do cơ quan nhà nước địa phương quản lý thu nộp. Số thu về lệ phí
địa phương chủ yếu tập trung vào ngân sách địa phương và được quản lý, sử
dụng theo Luật Ngân sách nhà nước.
Số lượng lệ phí ở các cấp chính quyền địa phương phát sinh nhiều nhất,

+ Các loại lệ phí khác: Đó là các loại lệ phí phải trả khi được hưởng các
nguồn lợi của quốc gia như lệ phí bay qua bầu trời, lệ phí sử dụng lãnh hải, lệ
phí khai thác tài nguyên thiên nhiên
Lệ phí chỉ có một số cơ quan thuộc bộ máy nhà nước thu nên chỉ có duy
nhất lệ phí của Nhà nước, do đó lệ phí của Nhà nước cũng đồng thời là lệ phí
ngân sách nhà nước.
1.1.3. Nguyên tắc xác lập phí, lệ phí
Khi ban hành một loại phí, lệ phí nào đó, cần phải xem xét, cân nhắc
những nội dung cơ bản như tên gọi, đối tượng nộp (phạm vi áp dụng), mức
thu, cơ chế quản lý… những nội dung này được xác lập dựa trên những
nguyên tắc nhất định.
1.1.3.1. Phạm vi áp dụng
Phạm vi áp dụng của phí, lệ phí được thể hiện qua tên gọi, đối tượng thu
nộp phí, lệ phí.
Tên gọi của phí, lệ phí thông thường gắn liền với tên gọi của hàng hóa,
dịch vụ được thu phí, lệ phí. Đối tượng nộp phí, lệ phí thể hiện phạm vi áp
dụng, đối tượng được thụ hưởng lợi ích từ hàng hóa, dịch vụ do tổ tức, cá
nhân được phép cung cấp và thu phí, lệ phí. Do vậy, đối tượng nộp có thể là tổ
chức hay cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu về hưởng lợi từ hàng hóa,
dịch vụ mà Nhà nước hay tư nhân cung cấp được phép thu phí, lệ phí.
Phí, lệ phí được đề cập đến trong luận văn là những loại phí, lệ phí thuộc
NSNN, không bao gồm phí của tư nhân. Không áp dụng đối với các loại phí,
lệ phí như:
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

20
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

- Các loại phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại
phí bảo hiểm khác.

Chính phủ quy định đối với một số loại phí quan trọng, có số thu lớn, liên
quan đến nhiều chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hội đồng nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( gọi chung là cấp tỉnh) quy định đối
với một số loại phí gắn với đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thuộc chức năng
quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương. Bộ Tài chính quy
định đối với các loại phí còn lại áp dụng thống nhất trong cả nước.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định về phí, lệ phí không được ủy
quyền cho cơ quan cấp dưới quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng đối với các loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của mình.
Mức thu phí:
Mức thu phí được xác định dựa trên mức đầu tư cho hàng hóa, dịch vụ
mà Nhà nước cung cấp cần thu phí; thời gian dự định thu phí. Thời gian hợp
lý để thu hồi vốn đầu tư thực hiện các dịch vụ thu phí căn cứ vào đánh giá khả
năng thu phí, hiệu quả thu phí, vốn đầu tư và nhu cầu cần thu hồi vốn đầu tư
để thực hiện dịch vụ thu phí, được xác định (dự kiến) trong đề án thu phí. Các
khoản chi làm căn cứ xác định mức thu phí bao gồm:
+ Chi phí xây dựng, mua sắm, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường
xuyên và định kỳ máy móc, thiết bị, phương tiện làm việc hoặc thuê ngoài
tài sản trực tiếp phục vụ công việc quy định thu phí.
+ Chi phí vật tư, nguyên nhiên, vật liệu sử dụng trong quá trình thực hiện
công việc quy định thu phí.
+ Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp liên quan tới tiền
lương, tiền công theo chế độ quy định.
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

22
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01

+ Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản bảo hiểm khác
liên quan tới người lao động thực hiện công việc quy định thu phí theo chế độ

thu được nhiều hay ít mà định kỳ hàng ngày, 5 ngày hoặc dài nhất là 10 ngày
một lần, các cơ quan, tổ chức thu phí, lệ phí phải gửi số tiền phí, lệ phí đã thu
được trong kỳ vào tài khoản tạm giữ tiền phí, lệ phí và phải tổ chức hạch toán
riêng khoản thu này theo chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp (đối với
đơn vị hành chính, sự nghiệp thu phí, lệ phí) hoặc chế độ kế toán doanh
nghiệp thà nước hoạt động công ích (đối với doanh nghiệp thà nước hoạt động
công ích thu phí, lệ phí).
(2). Về việc quản lý và sử dụng số tiền phí, lệ phí được quy định cụ thể
tại điều 11, điều 12 và điều 13 của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP của Chính
phủ ban hành ngày 03/06/2002 theo nguyên tắc sau :
Đối với các khoản thu phí
- Phí thu được từ các dịch vụ không do Nhà nước đầu tư, hoặc do Nhà
nước đầu tư nhưng đã chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo
nguyên tắc hạch toán, tự chủ tài chính, là khoản thu không thuộc NSNN. Số
tiền phí thu được là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí; tổ chức, cá nhân
thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định hiện hành của Nhà nước trên kết
quả thu phí.
- Phí thu được từ các dịch vụ do Nhà nước đầu tư hoặc từ các dịch vụ
thuộc đặc quyền của Nhà nước, là khoản thu của NSNN, được quản lý, sử
dụng như sau:
+ Trường hợp tổ chức thực hiện thu phí đã được NSNN bảo đảm kinh
phí cho hoạt động thu phí theo dự toán hàng năm thì tổ chức thực hiện thu phí
phải nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào NSNN.
+ Trường hợp tổ chức thực hiện thu phí chưa được NSNN bảo đảm kinh
phí cho hoạt động thu phí thì tổ chức thực hiện thu phí được để lại một phần
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

24
Sinh viên: Doãn Thị Hằng Lớp: CQ45/02.01



+ Chi cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí các khoản tiền lương hoặc
tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản đóng góp theo tiền lương, tiền công
theo chế độ hiện hành.
+ Chi phí phục vụ trực tiếp cho việc thu phí, lệ phí như : văn phòng
phẩm, vật tư văn phòng, điện thoại, điện, nước, công tác phí, công vụ phí theo
tiêu chuẩn, định mức hiện hành.
+ Chi sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn tài sản, máy móc, thiết bị
phục vụ trực tiếp cho công tác thu phí, lệ phí.
+ Chi mua sắm vật tư, nguyên liệu và các khoản chi khác liên quan trực
tiếp đến việc thu phí, lệ phí.
+ Trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho cán bộ, nhân viên trực tiếp
thu phí, lệ phí trong đơn vị. Mức trích lập hai quỹ khen thưởng và phúc lợi,
bình quân một năm, một người tối đa không quá 3 (ba) tháng lương thực hiện.
(4). Phần tiền phí, lệ phí nộp vào ngân sách nhà nước được phân chia
cho các cấp ngân sách và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Ngân
sách nhà nước. Đối với phí thuộc NSNN mà tiền phí thu được được Nhà nước
đầu tư trở lại cho đơn vị thì việc quản lý, sử dụng phải bảo đảm đúng mục
đích đầu tư trở lại và cơ chế quản lý tài chính hiện hành.
Phí, lệ phí có tính trực thu, người muốn nhận được hàng hóa, dịch vụ
công cộng phải trả tiền theo mức của nhà nước quy định, có tính chất bắt buộc
nhằm quản lý xã hội, do đó cần thiết phải đặt ra vấn đề miễn giảm, đặc biệt là
phí, lệ phí có tính chất thuế và có tính xã hội cao như học phí, viện phí…
1.1.3.5. Đăng ký, kê khai, nộp, quyết toán phí, lệ phí
Tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí phải đăng ký, kê khai, thu, nộp, quyết
toán phí, lệ phí theo quy định như sau:
Đối với tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí thuộc NSNN

Trích đoạn Tăng cường quản lý quá trình thu phí, lệ phí ở tất cả các khâu Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tình hình thu và sử Có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có Có chế tài xử lý nghiêm minh đối với các tổ chức, cá nhân CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆ N:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status