-1-
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Mở đầu
Chương 1: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng............................................................
1
1.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng .......................................................... 1
1.1.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng .......................................................... 2
1.1.2.1 Huy động vốn .......................................................................... 2
1.1.2.2 Tín dụng .................................................................................. 3
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán ................................................................... 4
1.1.2.4 Dịch vụ khác ............................................................................ 5
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp và phát triển
dịch vụ của NHTM........................................................................... 6
1.2 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng............................ 9
1.2.1 Hội nhập quốc tế ngành ngân hàng Việt Nam ................................. 9
1.2.2
Các cam kết và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng
.........
11
2.3.1 Các nguyên nhân chủ quan................................................................ 38
2.3.1.1 BIDV chưa chú trọng đúng mức đến vấn đề hoàn thiện và
phát triển dịch vụ một cách toàn diện
...................................... 38
2.3.1.2 Công tác Marketing còn hạn chế............................................... 40
2.3.1.3 Nguyên nhân từ hệ thống công nghệ ngân hàng...................... 40
2.3.1.4 Nguyên nhân từ trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân
lực ............................................................................................. 41
2.3.1.5 Nguyên nhân khác .................................................................... 42
2.3.2 Nguyên nhân khách quan ............................................................... 44
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 46
Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG ĐT&PT VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI
NHẬP
-3-
3.1 Định hướng và lộ trình phát triển dịch vụ BIDV.................................. 47
3.1.1 Định hướng chung ............................................................................. 47
3.1.1.1 Xây dựng BIDV thành một tập đoàn tài chính – ngân hàng..... 47
3.1.1.2 Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ .......................................... 48
3.1.2 Định hướng và lộ trình phát triển các loại dịch vụ ............................ 49
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển dịch vụ BIDV .................... 57
3.2.1 Nâng cao chất lượng dịch vụ ............................................................. 57
3.2.2 Tăng cường bán chéo dịch vụ và phục vụ trọn gói............................ 59
3.2.3 Hoàn thiện và thực hiện đồng bộ các chính sách của BIDV ............. 60
3.2.3.1 Chính sách khách hàng............................................................. 60
3.2.3.2 Chính sách giá phí .................................................................... 61
3.2.3.3 Chính sách phát triển dịch vụ ................................................. 62
3.2.3.4 Chính sách marketing và phát triển thương hiệu ..................... 63
lực cạnh tranh, giữ vững thị phần và phát triển dịch vụ ra nước ngoài. Để làm
được điều này, vấn đề hoàn thiện và phát triển dịch vụ ngân hàng là một trong
những nội dung quan trọng không thể thiếu và là mục tiêu phấn đấu của các
NHTM Việt Nam hiện nay.
Tham gia vào sân chơi bình đẳng, với lịch sử 50 năm hình thành và phát
triển, là một trong những NHTM hàng đầu của Việt Nam nhưng Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng sẽ phải đối đầu với môi trường cạnh
tranh khốc liệt, đe doạ đến sự tồn tại và phát triển của mình. Thực tế, BIDV đang
hội nhập trong điều kiện dịch vụ ngân hàng còn nghèo nàn về chủng loại, tiện
ích dịch vụ chưa cao và chất lượng dịch vụ hạn chế.
Trước yêu cầu cấp thiết của quá trình hội nhập, đòi hỏi BIDV phải có
những giải pháp chiến lược cũng như những giải pháp cụ thể thiết thực cho sự
-5-
phát triển toàn diện hệ thống dịch vụ ngân hàng. Đó là lý do tác giả lựa chọn đề
tài “Hoàn thiện và phát triển dịch vụ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam trong tiến trình hội nhập” làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống dịch vụ BIDV. Trong đó, đề tài
nghiên cứu các loại dịch vụ BIDV cung cấp đến khách hàng là cá nhân và tổ
chức kinh tế trong và ngoài nước. Các dịch vụ trên thị trường liên ngân hàng và
dịch vụ BIDV cung cấp cho các TCTD khác không thuộc phạm vi nghiên cứu
của đề tài.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thực tế: qua quá trình 4 năm công tác tại BIDV ở bộ
phận dịch vụ khách hàng, tác giả đã trực tiếp tiếp xúc và cung cấp dịch vụ của
BIDV đến khách hàng. Qua đó, tác giả nắm bắt được thực trạng hệ thống dịch vụ
BIDV hiện đang cung cấp, tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng và xu hướng phát
triển dịch vụ trong thời gian tới.
1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng
1.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Ở nước ta, vẫn chưa có khái niệm cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng. Trong
Luật các Tổ chức tín dụng, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được quy định nhưng
không có định nghĩa và giải thích rõ ràng. Cụm từ “hoạt động kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm ở cả ba nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín
dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán (tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 Luật
TCTD).
Thực tế vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm và nội hàm dịch
vụ ngân hàng. Có không ít quan niệm cho rằng chỉ những hoạt động không thuộc
phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức
năng của một trung gian tài chính (huy động tiền gởi, cho vay…) thì mới gọi là
dịch vụ ngân hàng (như: dịch vụ chuyển tiền, tư vấn, môi giới, uỷ thác,…).
Ngược lại, có quan niệm lại xem xét dịch vụ ngân hàng dưới góc độ rộng hơn
khi cho rằng lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bao hàm tất cả các hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối,…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là
doanh nghiệp và cá nhân.
Khi nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan
niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Ở những nước phát triển, các ngân
hàng bán lẻ lớn có thể cung cấp đến vài trăm dịch vụ khác nhau cho khách hàng
là cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng và
không có giới hạn khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của con người
ngày càng cao.
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), một dịch vụ tài chính là bất kỳ
dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung
-8-
cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến
Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang áp dụng hai loại tiền gởi có kỳ hạn đó
là: tiền gởi có kỳ hạn: 1 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng,… đến 36 tháng; và tiền
gởi dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gởi.
¾ Tiền gởi tiết kiệm
Tiền gởi tiết kiệm ở các nước trên thế giới có hai loại chủ yếu:
- Tiền gởi tiết kiệm theo tài khoản có thông tri, tức là tiền gởi không có thời
gian đáo hạn mà người gởi khi muốn rút ra phải báo trước cho ngân hàng một
thời gian. Tuy nhiên ngày nay các ngân hàng thường cho phép các khách hàng
rút tiền tiết kiệm mà không cần báo trước.
- Tiền gởi tiết kiệm có mục đích: Khách hàng gởi tiền vào ngân hàng để tiết
kiệm tích luỹ nhằm mục đích như mua nhà, mua xe, trang trãi chi phí học tập…
Đối với những người gởi tiền loại này ngân hàng thường cấp tín dụng để bù đắp
thêm phần thiếu hụt khi sử dụng theo mục đích của tiền gởi tiết kiệm.
Ở Việt Nam, loại tiền gởi tiết kiệm cũng được các NHTM áp dụng hết sức
đa dạng như: tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn, biết kiệm an cư của EAB, tiền gởi
tích luỹ thưởng và cơ hội vàng của Sacombank,…
1.1.2.2 Tín dụng
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác (theo Điều 20 Luật
các Tổ chức tín dụng Việt Nam).
Nghiệp vụ tín dụng bao gồm những dịch vụ chủ yếu sau:
¾ Cho vay: Là một loại hình tín dụng được hiểu như là một giao dịch về
tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài
-10-
chính khác) và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi
vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh
dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
hiện nay như là một lợi thế cạnh tranh. Có thể nói, các dịch vụ ngân hàng điện tử
ra đời càng làm tăng thêm nhiều tiện ích cho các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành
công trong xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong tương lai.
¾ Thanh toán quốc tế:
Quan hệ thanh toán quốc tế được tiến hành thông qua các phương thức
chính như: phương thức chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng bộ chứng từ.
− Chuyển tiền: là phương thức thanh toán đơn giản nhất trong thanh toán
quốc tế, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, nhà nhập khẩu,…)
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người
khác (người bán, người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ,…) ở một địa điểm
nhất định.
− Nhờ thu: là một phương thức thanh toán, trong đó người bán sau khi hoàn
thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, uỷ
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền của người mua trên cơ sở hối phiếu
do người bán lập ra. Nhờ thu có hai loại: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm
chứng từ.
− Tín dụng chứng từ: là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Đây là phương thức thanh toán phức tạp, phí giao dịch cao
nhưng đảm bảo được nhiều nhất quyền lợi của cả bên bán và bên mua.
1.1.2.4 Các dịch vụ khác
Ngoài các dịch vụ nêu trên, để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của khách hàng
các ngân hàng ngày nay còn cung cấp rất nhiều các loại dịch vụ khác như: Dịch
-12-
vụ tư vấn, kinh doanh tiền tệ, dịch vụ đầu tư, dịch vụ kiều hối, uỷ thác, cho thuê
két sắt, dịch vụ thiết lập và thẩm định dự án, dịch vụ môi giới tiền tệ;…
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp và phát triển dịch vụ
thanh toán,… NHTM còn cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ ngân hàng
hiện đại như: Mobilebanking, homebanking, internetbanking,… Đây chính là
những dịch vụ của kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Phát triển và ứng dụng công
nghệ ngân hàng trong hoạt động kinh doanh là yếu tố cơ bản tạo nên sự khác biệt
về khả năng cung ứng dịch vụ của mỗi ngân hàng.
¾
Trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực
Trong xu thế phát triển và cạnh tranh hiện nay, nếu như công nghệ được
xem là yếu tố tạo ra sự đột phá, khác biệt cho dịch vụ thì một trong những yếu tố
quan trọng tác động đến sự hoàn thiện và phát triển của dịch vụ ngân hàng chính
là năng lực quản trị điều hành và chất lượng nguồn nhân lực.
Nhân tố con người được xem là nguồn lực thiết yếu đối với mỗi ngân hàng.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào khả năng phục
vụ của nhân viên ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh chóng
và chính xác, đội ngũ nhân viên phải được đào tạo bài bản, nắm vững quy trình
nghiệp vụ, biết làm chủ công nghệ và tác phong phục vụ chuyên nghiệp.
¾ Hoạt động marketing và chăm sóc khách hàng
Hoạt động marketing và chăm sóc khách hàng hiệu quả có thể đem những
tiện ích của dịch vụ ngân hàng đến gần với khách hàng hơn. Marketing có thể
được tiến hành dưới nhiều hình thức như thông qua các chương trình quảng cáo,
khuyến mãi, thông qua những tiện ích của dịch vụ mang đến cho khách hàng,
thông qua cung cách và thái độ phục vụ, lấy khách hàng làm trung tâm của các
hoạt động kinh doanh.
Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt ngày nay, hoạt động marketing và
chăm sóc khách hàng càng giữ một vai trò quan trọng giúp các ngân hàng tạo
-14-
dựng mối quan hệ thân thiết với khách hàng, xây dựng và phát triển thương hiệu
cho ngân hàng.
1.2 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
1.2.1 Hội nhập quốc tế ngành ngân hàng Việt Nam
Hội nhập kinh tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của
từng nước với nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong điều kiện quá trình toàn
cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ và tác động đến mọi quốc gia trên thế giới, không
thể phủ nhận hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan ngày nay.
Hoà cùng xu thế này, nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu chủ động hội nhập sau
Nghị quyết Đại hội Đảng VI (năm 1986).
Trong lĩnh vực ngân hàng, Việt Nam cũng đã đi đúng con đường hội nhập
kinh tế quốc tế. Điển hình là các cam kết song phương và đa phương như: Hiệp
định khung của ASEAN về dịch vụ (AFAS) được xây dựng vào năm 1995; Hiệp
định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký ngày 13.7.2000, trong đó các
cam kết về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với các ngân hàng Hoa Kỳ
được nới lỏng dần trong thời gian 9 năm; gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO), Việt Nam đã cam kết nới lỏng dần các hạn chế đối với hoạt động của
các định chế tài chính nước ngoài tại Việt Nam.
Ngày 7/11/2006, tại Geneva - Thuỵ Sĩ, WTO đã chính thức thông qua việc
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này, sau 11 năm tham gia các
cuộc đàm phán cả song phương lẫn đa phương với tất cả các thành viên WTO.
Gia nhập WTO, Việt Nam đã bắt đầu một giai đoạn mở cửa thị trường và hội
nhập thực sự. Đối với thị trường dịch vụ ngân hàng cũng không là ngoại lệ.
Trong gia đoạn đầu, Việt Nam phải thực hiện một số cam kết và thực hiện các
nghĩa vụ theo tiến trình hội nhập.
-16-
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) – văn bản pháp lý điều
chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên WTO – quy định
những nghĩa vụ và nguyên tắc hoạt động trong thương mại dịch vụ. Các nghĩa vụ
của GATS có thể được phân theo hai nhóm: Các nghĩa vụ chung được áp dụng
trong dịch vụ; về tổng số các giao dịch dịch vụ hoặc về tổng số lượng dịch vụ;
các biện pháp hạn chế về loại hình pháp nhân hoạt động trong từng lĩnh vực dịch
vụ; và hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài.
1.2.2 Các cam kết và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng
Các cam kết của Việt Nam về loại hình dịch vụ ngân hàng và tài chính mà
các tổ chức tín dụng nước ngoài cung cấp tại Việt Nam là rất phong phú và đa
dạng, bao gồm hầu hết các dịch vụ của một ngân hàng hiện đại. Trong đó có một
số dịch vụ chỉ mới được thực hiện ở Việt Nam như nghiệp vụ Swaps, Forward,
hoặc chưa từng được thực hiện ở Việt Nam như nghiệp vụ quản lý đầu tư tập thể,
quản lý quỹ hưu trí, cung cấp và xử lý dữ liệu tài chính và các phần mềm của
nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác,…
Theo như cam kết, ngành ngân hàng sẽ được mở cửa theo lộ trình sau:
− Ngân hàng nước ngoài chỉ được phép thiết lập hiện diện thương mại tại
Việt Nam dưới các hình thức sau: văn phòng đại diện, chi nhánh NHTM nước
ngoài, NHTM liên doanh trong đó có tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài không
vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh và kể từ ngày 1 tháng 4 năm
2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập.
− Cam kết của Việt Nam về lộ trình thực hiện trong lĩnh vực dịch vụ ngân
hàng, tài chính không phải là dài (5 năm) và không phải giống nhau ở các lĩnh
vực hoạt động. Trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập, Việt Nam có thể hạn chế
quyền của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng
Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng
-18-
theo tỷ lệ trên mức vốn được cấp của chi nhánh phù hợp với lộ trình sau:
Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2009: 900% vốn pháp định được cấp
Ngày 1 tháng 1 năm 2010: 1000% vốn pháp định được cấp
sẽ có những cơ hội phát triển, đồng thời cũng phải đương đầu với những thách
thức hết sức to lớn.
¾ Gia nhập WTO, NHTM Việt Nam sẽ có những cơ hội phát triển sau:
− Nâng cao vị thế các NHTM Việt Nam trên thương trường quốc tế, xoá bỏ
sự phân biệt đối xử trong kinh doanh.
Trở thành thành viên WTO là một bước tiến lớn và quan trọng trong quá
trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam. Đối với hệ thống ngân
hàng, cũng giống như các ngành kinh tế khác, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có cơ
hội lớn mở mang hoạt động ở nước ngoài, xây dựng vị trí, tạo thế và lực mới trên
thị trường quốc tế. Với việc gia nhập WTO, về nguyên tắc, Việt Nam sẽ được
đối xử bình đẳng theo Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia
(NT). Đó là cơ hội pháp lý để chúng ta tạo lập và tăng cường vị thế trên thương
trường, từng bước xoá bỏ được sự phân biệt đối xử trong kinh doanh.
− Động lực thúc đẩy cải cách ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động,
khả năng cạnh tranh
Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trong
nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm
còn tồn tại, đồng thời phải tăng cường năng lực cạnh tranh trên cơ sở nâng cao
trình độ quản trị điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng trong điều kiện mới.
− Học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị ngân hàng
Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng là điều kiện tốt để thu hút đầu tư trực
tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng, đồng thời công nghệ ngân hàng và kỹ
-20-
năng quản lý tiên tiến được các ngân hàng trong nước tiếp thu thông qua sự liên
kết, hợp tác kinh doanh và hỗ trợ kỹ thuật của các ngân hàng nước ngoài.
− Khơi thông, thu hút nguồn vốn và mở rộng quan hệ đại lý quốc tế
Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài
chính quốc tế một cách dễ dàng hơn. Đồng thời, quan hệ đại lý quốc tế của ngân
kiến thức về kỹ năng nghiên cứu phân tích, đánh giá và dự báo theo mô hình, về
các chuẩn mực và thực tiễn quốc tế… Trong khi đó, nguồn nhân lực được trang
bị của hệ thống NHTM Việt Nam còn nhiều bất cập về các kiến thức trên, đặc
biệt là năng lực phân tích và dự báo. Đó là một thách thức rất lớn để thực hiện
hội nhập thành công.
Như vậy, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam
gia nhập WTO, sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các NHTM của Việt Nam nhưng đồng
thời cũng đem đến không ít thách thức. Tuy nhiên, cơ hội không đem lại kết quả
tốt như nhau cho tất cả các NHTM mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội
của mỗi ngân hàng. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến
đâu còn phụ thuộc vào nỗ lực vươn lên của mỗi ngân hàng. Nếu các ngân hàng
biết tận dụng cơ hội sẽ tạo thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức.
1.2.4 Chiến lược hành động và sự thay đổi thị phần dịch vụ của các
NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập
Từ ngày 01.04.2007, các ngân hàng nước ngoài có thể thâm nhập vào Việt
Nam dưới các hình thức hiện diện thương mại chính là: thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoặc nhà đầu tư nước ngoài sẽ mua
cổ phần của các NHTM Việt Nam theo tỉ lệ cho phép. Thị trường dịch vụ tài
chính – ngân hàng mở cửa, các NHTM trong nước sẽ phải chịu những sức ép
mạnh mẽ trong quá trình cạnh tranh. Trước tình hình đó, các NHTM trong nước
đã chuẩn bị cho cuộc đua mới bằng hàng loạt các chiến lược hành động, cụ thể
như sau:
-22- Thứ nhất, các ngân hàng trong nước đã gia tăng nhanh chóng vốn điều lệ.
Giải pháp này nhằm nâng cao tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh của các
ngân hàng. Sacombank đã tăng vốn điều lệ từ 1.250 tỷ VND (31.12.2005) lên
2.089 tỷ VND (31.12.2006), ACB tăng từ 950 tỷ VND lên 1.100 tỷ VND,
dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích tại Việt Nam, ngược lại thúc đẩy các
khách hàng của Citibank tại Mỹ, nhất là Việt kiều chuyển tiền kiều hối về nước
qua EAB, cũng như mở rộng dịch vụ thẻ của EAB tại Mỹ.
Các ngân hàng trong nước cũng đang năm bắt nhu cầu khách hàng để đưa
ra các dịch vụ chuyển tiền nhanh như: ACB kết hợp với Western Union, ICB
cung cấp dịch vụ kiều hối qua máy rút tiền tự động và hợp tác với Wells-Fargo,
EAB với chương trình chuyển tiền kiều hối MoneyGram,...
Thứ tư, một trong những yếu tố quan trọng khác mà các ngân hàng nội địa
đang nỗ lực hành động là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thông qua cải
thiện các chế độ lương, thưởng, cơ hội thăng tiến, áp dụng các chế độ ưu đãi về
quyền mua cổ phiếu,... nhằm tìm kiếm những chuyên viên giỏi, đội ngũ quản lý
tài năng. Về vấn đề này, các NHTM cổ phần đã tỏ ra năng động hơn NHTM Nhà
nước. Chính vì vậy, thời gian gần đây tình trạng chảy máu chất xám từ NHTM
Nhà nước sang NHTM cổ phần và ngân hàng nước ngoài ngày càng gia tăng.
Nhìn chung, trong giai đoạn hội nhập và cạnh tranh quyết liệt, hệ thống
NHTM cổ phần đã thể hiện được sự phát triển vững chắc và ngày càng chiếm
lĩnh nhiều hơn thị phần các loại dịch vụ. Ngược lại, hệ thống NHTM Nhà nước
lại chậm đổi mới và có nguy cơ mất dần thị phần hoạt động trước sự mở rộng
quy mô hoạt động của các đối thủ cạnh tranh.
Điển hình là thị phần cho vay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong
năm 2006, khối NHTM cổ phần vươn lên mạnh mẽ, vượt lên trên khối NHTM
Nhà nước về thị phần, lần đầu tiên chiếm tỷ trọng thị phần cho vay lớn nhất toàn
bộ hệ thống ngân hàng trên địa bàn. Tính đến hết năm 2006, khối NHTM cổ
phần đạt tổng dư nợ cho vay là 82.978 tỷ VND, chiếm tỷ trọng thị phần là
37.77%, tăng gần 3.8% thị phần so với năm 2005. Trong khi đó khối NHTM
Nhà nước dư nợ chỉ đạt 77.560 tỷ VND, chiếm 35.5% thị phần cho vay trên địa
bàn và giảm hơn 3.0% so với tỷ trọng thị phần cuối năm 2005; khối chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đạt dư nợ 44.998 tỷ VND, chiếm 20.48% và tăng 2.1% tỷ
( )2
Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động ngân hàng trên địa bàn TPHCM năm 2005 và 2006 của
NHNN TPHCM.
-25-
Một là, khả năng phát triển và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đất nước trong
những năm tiếp theo sẽ tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, do tiềm năng, năng
lực của nền kinh tế còn rất lớn cùng với những cơ hội từ hội nhập, từ đầu tư
nước ngoài cũng như nhiều lĩnh vực kinh tế chưa phát triển… Bên cạnh đó, chủ
trương, cơ chế phát triển kinh tế ngày càng thuận lợi tiếp tục thu hút người dân,
doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, số lượng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phát triển nhanh hơn, nhiều hơn. Và như vậy, tiềm
năng về dịch vụ ngân hàng của những đối tượng khách hàng này cũng sẽ tăng
lên.
Hai là, nhu cầu về dịch vụ của khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ngày càng cao. Thị trường tiềm năng là rất lớn.
Hiện nay chỉ có một phần nhỏ trong số hơn 84 triệu dân Việt Nam tiếp cận
với các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Mới có trên 6.5 triệu tài khoản cá nhân và
khoảng 4.75 triệu thẻ được phát hành. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng cao hơn thì nhu cầu về
dịch vụ ngân hàng cũng tăng lên. Các dịch vụ như: chuyển tiền thanh toán, tư
vấn tài chính, thanh toán định kỳ phí bảo hiểm, cước điện thoại, internet… sẽ
đáp ứng những nhu cầu tất yếu của người dân Việt Nam. Đặc biệt tại các thành
phố lớn, các nhu cầu về sinh hoạt, phương tiện đi lại, về mua nhà ở ngày càng
tăng. Vì vậy, nhu cầu về tín dụng tiêu dùng (vay mua xe, mua nhà, mua sắm vật
dụng gia đình…), nhu cầu về các loại thẻ tín dụng, thẻ ATM, thanh toán qua
máy POS… nhằm đáp ứng tối đa sự thuận lợi trong chi tiêu cũng sẽ tăng.
Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến tạo tiền đề cho các giao