401 Lựa chọn phương pháp giúp doanh nghiệp ra quyết định thuế tài chính - Pdf 23

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ
TÀI CHÍNH
1.1)Cơ sở khoa học của hoạt động cho thuê tài chính ..............................................1
1.2)Bản chất của hoạt động cho thuê tài chính.........................................................2
1.2.1)Khái niệm cho thuê tài chính....................................................................2
1.2.2)Bản chất của hoạt động cho thuê tài chính...............................................4
1.3)Những nội dung chủ yếu của hoạt động cho thuê tài chính................................6
1.3.1)Các thành phần tham gia hoạt động cho thuê tài chính............................6
1.3.2)Tài sản cho thuê tài chính.........................................................................9
1.3.3)Thời hạn cho thuê tài chính ....................................................................10
1.3.4)Giá trò còn lại (Residual Value)..............................................................11
1.3.5)Phương thức xác đònh tiền thuê...............................................................11
1.3.6)Qui trình hoạt động cho thuê tài chính....................................................13
1.3.7)Điều kiện tham gia vào hoạt động cho thuê tài chính............................15
1.3.8)Các hình thức cho thuê tài chính.............................................................16
1.4)Những nguyên nhân để doanh nghiệp chọn loại hình thuê tài chính...............18
1.5)Kinh nghiệm về hoạt động cho thuê của một số nước trên thế giới và bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam................................................................................20

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI
CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1)Quá trình hình thành hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam.......................23
2.2)Những nhân tố giúp hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam phát triển .......23
2.2.1)Nhu cầu về vốn kinh doanh của nền kinh tế ..........................................23
2.2.2)Nhu cầu về đổi mới máy móc thiết bò ....................................................24
-1-
2.3)Tình hình hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện nay..........................24
2.3.1)

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quá trình hoạt động của một nền kinh tế, hệ thống ngân hàng là
một khâu trung gian không thể thiếu. Tuy nhiên, với áp lực về nguồn vốn đặc
biệt là nguồn vốn trung và dài hạn ngày càng cao cùng với sự phát triển phức
tạp và đa dạng của nền kinh tế thế giới đã làm cho hoạt động cho thuê tài chính
phát triển mạnh ở một số nước như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc… Ngày
nay, hoạt động cho thuê tài chính là một bộ phận không thể thiếu đối với nền
kinh tế của một nước phát triển.
Riêng đối với nền kinh tế của nước ta hiện nay đang thiếu nguồn vốn
trung và dài hạn. Trong thời gian vừa qua Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra những
chính sách nhằm thu hút một nguồn vốn rất lớn đang nhàn rỗi từ nhân dân nhưng
vẫn không thể nào tận dụng hết nguồn vốn này. Việc thò trường tài chính ở nước
ta hoạt động chưa hiệu quả và hệ thống pháp luật còn quá nhiều khe hở đã làm
cho người dân không thể mạo hiểm đồng vốn của mình trong kinh doanh và thế
là mặc dù vốn đã có sẵn nhưng nó đã “bò chết” làm cho nền kinh tế vẫn tiếp tục
thiếu vốn.
Hoạt động cho thuê tài chính ra đời cũng phần nào làm giảm bớt sức ép
lên hệ thống ngân hàng thương mại trong việc cung cấp vốn trung và dài hạn
cho các doanh nghiệp. Hoạt động cho thuê tài chính ra đời còn tạo điều kiện cho
quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá ngày càng thực hiện nhanh hơn và đạt
hiệu quả hơn. Trong hoạt động thuê mua, các doanh nghiệp có điều kiện đổi mới
hệ thống máy móc cũ kỹ, lạc hậu của mình để thay vào đó là các máy móc thiết
bò hiện đại với năng suất và hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, hoạt động này còn tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ nguồn vốn, máy móc thiết bò
để sản xuất, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của mình.
Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta chỉ có 09 công ty cho thuê tài chính (có trụ
sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh) nên hoạt động này còn xa
lạ đối với các doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2004, tỷ lệ dư nợ cho thuê tài
chính chỉ đạt 2,45% so với tổng dư nợ toàn hệ thống. Điều này chứng tỏ các

-Chỉ ra những điểm lưu ý khi ra quyết đònh lựa chọn phương pháp thuê tài
chính.
6. Kết cấu luận văn: Luận văn gồm có 03 -4-
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH.
1.1)Cơ sở khoa học của hoạt động cho thuê tài chính.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thò trường, hoạt động tín dụng cũng
càng ngày càng thể hiện vai trò của mình trong nền kinh tế. Nếu như lúc trước,
hoạt động tín dụng chỉ đơn thuần là hoạt động cho vay và huy động nguồn vốn
thì ngày nay, các sản phẩm của ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Ngân hàng
là một khâu trung gian không thể thiếu được đối với nền kinh tế thò trường.
Mặt khác, các doanh nghiệp không dừng lại ở qui mô hoạt động nhỏ bé
và hạn hẹp mà họ muốn đầu tư thêm các máy móc thiết bò, qui mô sản xuất rộng
ra trên phạm vi rộng lớn. Chính vì điều này mà họ cần phải có những máy móc
thiết bò mới, cần phải có nguồn vốn kinh doanh nhiều hơn… nhưng hệ thống ngân
hàng hiện tại không cho phép họ thực hiện được điều đó.
Trong điều kiện đời sống (cả về vật chất lẫn tinh thần) ngày càng tăng lên
của người dân, đòi hỏi năng suất lao động cũng phải tăng mới có thể đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng. Bên cạnh đó, với trình độ khoa học công nghệ phát triển
như hiện nay, các máy móc thiết bò dễ dàng bò lạc hậu, cũ kỹ. Vì vậy, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải nghó đến việc thay đổi các máy móc thiết bò cũ để trang
bò các máy móc thiết bò mới hiện đại hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn và tăng năng
suất hơn. Bởi vì, để có thể cạnh tranh trên thò trường thì một doanh nghiệp buộc
phải tính đến việc tiết giảm chi phí và tăng năng suất lao động, có như vậy giá

chế tài chính (trong đó nhất thiết phải có công ty cho thuê tài chính) mua và cho
thuê theo yêu cầu của bên thuê. Hết thời hạn thuê, bên thuê được phép chuyển
quyền sở hữu hoặc mua lại tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp
đồng cho thuê tài chính.
Theo Nghò đònh số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ về việc
qui đònh tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam như
sau:
-6-
“Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bò, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết
mua máy móc, thiết bò, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu
cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên
thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã
được hai bên thoả thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa
chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận
trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui đònh tại
hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trò của tài sản đó tại
thời điểm ký hợp đồng”.
Như vậy, đònh nghóa trên đã nói lên rất rõ tất cả hoạt động cho thuê tài
chính và phân đònh rõ ràng: bên cho thuê sẽ nắm giữ quyền sở hữu tài sản và
bên đi thuê sẽ được quyền sử dụng tài sản đó trong suốt thời gian thuê tài sản tài
chính. Theo Nghò đònh trên thì ta có thể hiểu như sau:
-Bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt
động theo pháp luật Việt Nam.
-Bên thuê là các tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam trực tiếp sử
dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình.
-Tài sản cho thuê là máy móc, thiết bò, phương tiện vận chuyển và các
động sản khác.
Trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại IAS 17 của IASC (Ủy ban tiêu chuẩn

Không
bắt buộc
Không
bắt buộc
Quyền huỷ
ngang hợp đồng
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
Thời hạn thuê
tính theo thời
gian hữu dụng
của tài sản
Phần
lớn
≥75%,
tối đa
không
quá 30
năm
Phần lớn

Bằng
hoặc
lớn hơn
≥90% ≥90% ≥90%

Ít nhất
phải
tương
đương
với giá
trò tài
sản
(Nguồn Ngân hàng Nhà Nước)

-8-
1.2.2)Bản chất của hoạt động cho thuê tài chính.
Thuê tài chính là một hợp đồng thuê không thể hủy ngang và phải có một
trong các đặc điểm sau đây:
-Quyền sở hữu tài sản thường được chuyển giao cho người thuê khi bên
thuê thanh toán hết số tiền thuê còn nợ và giá trò còn lại như đã thoả thuận trong
hợp đồng thuê.
-Phí thuê có thể được cơ cấu để phù hợp với yêu cầu của bên thuê.
-Lãi thanh toán và khấu hao tài sản trong các giao dòch cho thuê tài chính
được chiết khấu khi tính thuế doanh nghiệp.
-Một tài sản được gọi là động sản và có thể khấu hao được đều có thể cho
thuê.
-Hợp đồng thuê tài sản có qui đònh quyền chọn mua tài sản. Hai bên có
thể thoả thuận chuyển quyền sở hữu hoặc bán lại tài sản hay tiếp tục thuê sau
khi kết thúc hợp đồng.
-Hiện giá của khoản tiền thuê phải lớn hơn hoặc bằng giá trò thò trường

Không Có
02
Hợp đồng thuê có đònh quyền chọn
theo giá mua đặc trưng
Không Có
03
Thời gian thuê chiếm phần lớn giá
trò hữu dụng của tài sản
Không Có
04
Giá trò hiện tại của khoản tiền thuê
tối thiểu phải lớn hơn hay tương
đương với giá trò của tài sản
Không Có

Tùy theo tình hình đặc thù từng quốc gia và tùy theo chính sách thuế của
mỗi quốc gia khác nhau mà loại hình thuê tài chính còn có thêm một số đặc
điểm cụ thể như sau:
-Thời hạn thuê tài sản phải nhỏ hơn 30 năm. Nếu thời hạn thuê vượt quá
30 năm thì hoạt động thuê này chỉ được xem như bán tài sản có điều kiện.
-Hợp đồng thuê tài sản có điều khoản trao cho bên đi thuê quyền chọn
cho phép bên đi thuê có thể mua lại tài sản với giá thấp hơn giá trò thò trường.
Chẳng hạn hợp đồng qui đònh rằng giá thò trường của tài sản là 1 USD khi hợp
đồng kết thúc. Một điều khoản như thế trên thực tế chính là cho bên đi thuê giá
trò thu hồi của tài sản.
-Hợp đồng thuê tài sản có lòch trình thanh toán tiền thuê tài sản đònh kỳ
mà theo đó tiền thuê được thanh toán cao trong những năm đầu và thấp dần vào
những năm cuối. Những khoản thanh toán tiền thuê cao trong những năm đầu sẽ
là chứng cứ cho thấy hợp đồng thuê tài sản này được sử dụng như là một cách để
tránh thuế chứ không vì mục đích kinh doanh chính đáng.

giới có thể phân thành ba loại, bao gồm: Công ty độc lập (independents), Công
ty phụ thuộc (captives) và Công ty môi giới (brokers).
-Các công ty thuê mua độc lập: hoạt động độc lập với các nhà cung cấp
và chiếm phần lớn thò trường thuê mua xét trên góc độ người bán. Đối với loại
hình độc lập, luôn có ba bên tham gia trong một giao dòch thuê mua. Đó là công
ty cho thuê tài chính, nhà cung cấp và bên thuê. Công ty cho thuê tài chính chỉ
đơn giản là mua máy móc, thiết bò từ bất kỳ nhà cung cấp nào do bên thuê chọn
-11-
và cho bên thuê thuê, còn bản thân nhà cung cấp không có liên quan gì đến hoạt
động thuê mua.
-Công ty thuê mua phụ thuộc: là các công ty do nhà cung cấp lập ra để tài
trợ cho sản phẩm của chính họ làm ra. Trong mô hình này, chỉ có hai bên tham
gia trong một giao dòch thuê mua, đó là bên thuê và công ty cho thuê tài chính
cũng là đại diện cho nhà cung cấp. Về bản chất, “thuê mua phụ thuộc” có thể
được xem như là một phương thức xúc tiến bán hàng thông qua việc cung cấp
cho các khách hàng một phương thức tài trợ.
-Công ty thuê mua môi giới: thường đóng vai trò trung gian trong quá trình
thuê mua thông qua việc tìm kiếm và chắp nối bên thuê, nhà cung cấp với các
công ty thuê mua thực thụ hoặc các nguồn tài trợ khác. Công ty thuê mua môi
giới không sở hữu tài sản thuê hay giao dòch thuê mua mà chỉ giới hạn trong việc
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thuê mua tài sản.
1.3.1.2)Người đi thuê (Các tổ chức, cá nhân cần thuê tài chính).
Là người nhận sự tài trợ tín dụng của công ty thuê mua hay là khách hàng
thuê mua thiết bò, tài sản của người cho thuê. Người thuê cũng là người có quyền
sử dụng, hưởng dụng những lợi ích do tài sản đem lại và có trách nhiệm trả
những khoản tiền thuê theo thoả thuận.
Đối với người đi thuê có các trách nhiệm và quyền lợi sau:
-Trả các khoản tiền thuê theo đònh kỳ (tháng, quý, 06 tháng) và được
quyền sử dụng tài sản, không được thế chấp, cầm cố tài sản thuê (vì không phải
là sở hữu của mình).

khi các con nợ thanh toán hết nợ gốc và lãi vay.
-Trong trường hợp có khả năng rủi ro là bên đi thuê không đủ khả năng
thanh toán tiền thuê mà trong đó một phần sẽ được bên cho thuê trích ra trả cho
bên cho vay thì lúc này tiền thuê tài sản sẽ được trả trực tiếp cho bên cho vay
mà không cần thông qua trung gian bên cho thuê.
Công ty cho thuê chỉ đóng góp một phần vào tổng chi phí mua sắm tài sản
nhưng lại nhận được khoản tiền thanh toán và tất cả những lợi ích từ thuế.
Những khoản thanh toán tiền thuê này sẽ được công ty cho thuê sử dụng để chi
trả các khoản nợ gốc cộng lãi vay cho bên cho vay từ khoản vay miễn truy gốc.
Lợi ích từ phía đi thuê sẽ là khoản chi phí thuê thấp nhất khi các công ty cho
thuê tiết kiệm được một khoản thuế thu nhập và khi các công ty cho thuê phải
cạnh tranh lẫn nhau trên một thò trường cạnh tranh hoàn hảo.
1.3.1.5)Các cơ quan quản lý Nhà nước.
Là cơ quan công quyền như Ngân hàng Nhà nước, toà án, cơ quan thuế…
Những cơ quan này có trách nhiệm giám sát và kiểm tra việc tuân thủ các qui
đònh của luật pháp. Đồng thời công nhận tính hợp pháp của giao dòch thuê mua, ( )1
Khoản cho vay miễn truy gốc (non-recourse loan) là một khoản cho vay mà chỉ có thể đòi hỏi bên đi
vay hoàn trả từ chính lợi nhuận của tài sản được tài trợ từ khoản vay đó chứ không phải bằng các khoản
phải thu khác của người đi vay.
-13-
quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và xét xử, giải quyết các tranh chấp nếu có
xảy ra.
1.3.2)Tài sản cho thuê tài chính.
1.3.2.1)Loại tài sản cho thuê tài chính.
Khác với hình thức tài trợ cổ điển bằng tiền tệ, cho thuê tài chính tài trợ
dưới hình thức tài sản. Thông thường, tài sản cho thuê tài chính bao gồm động
sản và bất động sản.

người cho thuê và sẽ duy trì sự bảo hiểm như vậy cho đến hết thời hạn thuê.
+Người đi thuê sẽ bồi thường cho ngøi cho thuê những sự cố hay hư hại
do bên thứ ba gây ra.
+Người đi thuê sẽ thanh toán cho người cho thuê mọi khoản chi phí, thuế
và các loại phí (gồm chi phí quản lý) của người cho thuê liên quan đến việc
chuẩn bò, thực hiện tất cả hợp đồng, việc chuyên chở hay nhập khẩu thiết bò và
bất kỳ chi phí nào khác có thể phát sinh ngoài thời hạn cho thuê.
+Người đi thuê sẽ tiến hành giữ gìn thiết bò (bảo quản, sửa chữa) ở trạng
thái tốt nhất.
Người đi thuê chòu mọi rủi ro trong quá trình sử dụng tài sản, tuy nhiên
nói như vậy không có nghóa là người cho thuê không gặp rủi ro. Các rủi ro mà
người cho thuê có thể gặp là thiết bò không bán được hay không cho thuê tiếp
được khi hợp đồng cho thuê hết hạn do lạc hậu về công nghệ, sự biến đổi về khả
năng thu hồi vốn do chính sách vó mô, vi mô gây nên và do môi trường thay đổi.
1.3.3)Thời hạn cho thuê tài chính.
1.3.3.1)Thời hạn thuê cơ bản (Basic period).
Là thời hạn mà người thuê trả những khoản tiền thuê cho người cho thuê
để được quyền sử dụng tài sản. Trong suốt giai đoạn này, người cho thuê thường
kỳ vọng thu hồi đủ số tiền đã bỏ ra ban đầu cộng với tiền lãi trên số vốn đã tài
trợ. Đây chính là thời hạn mà một bên không được quyền huỷ ngang hợp đồng
nếu không có sự chấp nhận của bên kia.
1.3.3.2)Thời gian gia hạn tuỳ chọn (Optional Renewal Period).
Trong giai đoạn thứ hai này, người thuê có thể tiếp tục thuê (tái thuê)
hoặc mua lại thiết bò tùy theo ý muốn của họ.
1.3.4)Giá trò còn lại (Residual Value).
Là giá trò còn lại của tài sản thuê sau khi hợp đồng thuê chấm dứt. Sau khi
hợp đồng thuê hết hạn, bên cho thuê sẽ chuyển quyền sở hữu tài sản thuê cho
bên thuê, nếu bên thuê đã thanh toán tất cả các món tiền thuê trong suốt thời
hạn thuê, với giá tượng trưng này được gọi là giá trò còn lại.
Các loại chi phí bảo trì, vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản và mọi rủi ro

một số phương thức chủ yếu để xác đònh tiền thuê theo hai trường hợp là lãi suất
cố đònh và lãi suất thả nổi.
a)Trường hợp lãi suất cố đònh.
a
1
)Tiền thuê thanh toán vào đầu đònh kỳ với số tiền mỗi kỳ thanh toán bằng
nhau.
-16-
Đây là phương thức đang được áp dụng rộng rãi. Phương thức này xác
đònh tiền thuê phải trả đều đặn theo đònh kỳ (tháng, quý, 6 tháng) nhằm ổn đònh
trong suốt thời gian thuê, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tính toán giá
thành.
Công thức 1:

A
Đ
=
]1)1)[(1(
].)1([
−++
−+
n
n
ii
iSiC

Trong đó:
A
Đ
: Tiền thuê phải trả đều nhau ở đầu các kỳ hạn.


a
3
)Thanh toán cuối kỳ với khoản nợ gốc được trả bằng nhau.
Phương thức này tương tự như phương thức thu nợ vốn vay trung và dài
hạn thông thường. Khách hàng phải trả những khoản nợ gốc như nhau cho các kỳ
hạn nợ.

Công thức 3:
-17-

P =
n
SC


Cx = C – x.P
Trong đó:
Cx : Chi phí tài trợ cho thuê còn lại ở cuối kỳ hạn x (o<x<n)
Số tiền thuê thanh toán ở kỳ hạn x là:
Ax =
n
SC

+ [C – (x – 1).P].i
Với phương thức này thì tiền thuê phải trả có xu hướng giảm dần do
khoản nợ gốc đã giảm dần qua các kỳ hạn nợ.
b)Trường hợp lãi suất thả nổi.
Trong trường hợp này, khi tính tiền thuê ta vẫn sử dụng các công thức của
trường hợp lãi suất cố đònh nhưng sau đó điều chỉnh lại các khoản tiền thuê theo


1.3.6)Qui trình hoạt động cho thuê tài chính.
Thường khi dòch vụ thuê tài chính diễn ra thì liên quan đến ba bên chính:
Công ty cho thuê tài chính, bên đi thuê tài chính và nhà cung cấp.
Quy trình được vẽ ra như sau:
-18-

BÊN
THUÊ
CÔNG TY
CHO
THUÊ TÀI
CHÍNH
NHÀ CUNG
CẤP MÁY
MÓC
THIẾT BỊ
f
dc
h
g
e

(1): Thoả thuận về lựa chọn máy móc, thiết bò: Người đi thuê chọn máy
móc thiết bò cần thuê phù hợp với yêu cầu của mình về mẫu, loại và các chỉ tiêu
kỹ thuật, đồng thời quyết đònh ngày giao hàng, điều kiện bảo dưỡng, phương
thức thanh toán và ký biên bản thoả thuận về việc mua máy móc thiết bò trên
(nội dung giống như hợp đồng mua bán thông thường nhưng phương thức thanh
toán qua Công ty cho thuê tài chính).
(2): Ký hợp đồng cho thuê tài chính: Sau khi đã chọn máy móc, thiết bò

chính.
-Người quản trò, điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ
chuyên môn phù hợp với hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
-Có dự thảo điều lệ về tổ chức, hoạt động phù hợp với qui đònh của luật
các tổ chức tín dụng và các qui đònh khác của pháp luật.
-Có phương án kinh doanh khả thi.
1.3.7.2)Đối với bên đi thuê tài chính.
Tùy theo các công ty cho thuê tài chính qui đònh từng trường hợp cụ thể,
tuy nhiên chúng ta cũng có thể nhận thấy các yêu cầu sau khi bên đi thuê tài
chính muốn thuê tài sản tài chính:
-Bên đi thuê tài chính phải có tư cách pháp nhân như có giấy phép thành
lập, có tài khoản và con dấu riêng, lónh vực hoạt động được pháp luật Việt Nam
cho phép… Hồ sơ pháp lý của bên đi thuê gồm có:
+Quyết đònh thành lập doanh nghiệp.
+Bảng điều lệ hoạt động của doanh nghiệp (nếu có).
+Giấy phép đăng ký kinh doanh.
+Giấy phép hành nghề của cơ quan quản lý ngành nghề chuyên môn (đối
với những ngành nghề theo qui đònh của Nhà nước cần phải có giấy phép).
-20-
+Quyết đònh bổ nhiệm Giám đốc, Kế toán trưởng, mẫu chữ ký.
+Các văn bản pháp lý khác liên quan đến tư cách pháp nhân của bên đi
thuê.
+Biên bản của Hội đồng quản trò về việc đầu tư mới hoặc quyết đònh của
Ban lãnh đạo công ty về đầu tư mới.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn cung cấp cho công ty cho thuê tài chính các
tài liệu liên quan đến tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của mình, cụ thể:
+Các báo cáo tài chính theo đònh kỳ (báo cáo kết quả sản xuất kinh
doanh, bảng cân đối kế toán).
+Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
+Báo cáo kiểm tra, thanh tra (nếu có).

sản.
-Bên đi thuê sẽ có nghóa vụ thanh toán tiền thuê đònh kỳ trong suốt thời
gian thuê để đánh đổi lại quyền tiếp tục được sử dụng tài sản đó.
Đối với loại hình này ta nhận thấy lónh vực cho thuê tài chính thật sự là
một công cụ hữu hiệu và linh hoạt giúp cho việc kinh doanh của doanh nghiệp
đạt nhiều hiệu quả hơn. Loại hình này đã mang lại ưu điểm vì nó vừa cung cấp
vốn lưu động cho một doanh nghiệp nhưng đồng thời nó cũng vừa giữ lại tài sản
đó để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên,
loại hình này cũng có một số khuyết điểm như việc khó đònh giá bán lại tài sản
mà mình muốn bán. Vì thế, có thể mắc phải các sai lầm như bán giá rẻ hơn giá
trò thực của tài sản hoặc đưa ra giá bán cao hơn giá trò của tài sản làm cho việc
mua bán không thực hiện được.
1.3.8.3)Cho thuê trả góp.
Theo hình thức này thì bên cho thuê và bên đi thuê thoả thuận đến một
thời gian nào đó, khi mà bên cho thuê đã thu được một tỷ lệ nhất đònh tiền cho
thuê tài sản thì sẽ chuyển quyền sở hữu tài sản thuê cho bên đi thuê và bên đi
thuê vẫn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền còn lại cho bên cho thuê dưới
danh nghóa tiền trả góp mua máy móc thiết bò.
1.3.8.4)Cho thuê hợp tác (hay còn gọi là cho thuê có đòn bẩy).
Loại hình cho thuê tài sản này được thiết lập dựa trên một hợp đồng giữa
bốn bên: bên đi thuê, bên cho thuê, nhà cung cấp và nhà cho vay. Đặc điểm của
loại hình cho thuê này như sau:
-Bên đi thuê sẽ được quyền sử dụng tài sản và có nghóa vụ thanh toán tiền
thuê theo đònh kỳ như đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
-22-
-Bên cho thuê sẽ mua tài sản và chuyển nó cho bên đi thuê, thu các khoản
thanh toán tiền thuê. Tuy nhiên, trong hợp đồng thuê tài sản này thì Công ty cho
thuê chỉ bỏ ra khoảng 40-50% chi phí đầu tư mua sắm thiết bò cho thuê.
-Các nhà cho vay sẽ cung cấp khoản tài trợ còn lại và nhận khoản thanh
toán tiền lãi vay từ công ty đứng ra cho thuê.

mua tài chính để lấy vốn kinh doanh đồng thời ký hợp đồng với công ty thuê
-23-
mua tài chính để thuê lại chính tài sản đó. Nhờ vậy, doanh nghiệp có thể thu hồi
một số vốn tiền tệ để đầu tư vào việc khác mà vẫn có thể tiếp tục sử dụng lại tài
sản, không bò gián đoạn các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ngoài các
lý do trên thì những nguyên nhân sau cũng sẽ giúp doanh nghiệp quyết đònh
chọn phương pháp thuê tài chính:
-Khi hạn mức tín dụng vay vốn của doanh nghiệp ở các ngân hàng đã hết
nhưng doanh nghiệp lại cần có nguồn vốn để trang bò máy móc thiết bò thì hoạt
động cho thuê tài chính sẽ hỗ trợ vấn đề này.
-Loại hình cho thuê tài chính không đòi hỏi quá khắt khe về vấn đề cầm
cố hay thế chấp cũng như uy tín của doanh nghiệp vì khi cho thuê tài chính thì
quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về công ty cho thuê tài chính và họ có thể thu
hồi lại tài sản bất cứ lúc nào nếu như bên đi thuê vi phạm hợp đồng.
-Loại hình cho thuê tài chính hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp muốn thay
đổi máy móc, thiết bò cũ kỹ để thay vào các máy móc thiết bò hiện đại hơn.
-Loại hình cho thuê tài chính còn thích ứng cho các doanh nghiệp khi cần
mua sắm các máy móc thiết bò hiện đại, có công nghệ kỹ thuật cao nhưng doanh
nghiệp đó lại không biết về các loại máy móc này. Chính nhờ đội ngũ nhân viên
chuyên nghiệp cộng thêm sự uy tín của công ty cho thuê tài chính mà các doanh
nghiệp có thể yên tâm trang bò máy móc, không sợ bò lừa gạt.
Bên cạnh đó, khi quyết đònh chọn hình thức thuê tài chính thì doanh
nghiệp cần phải có các tiêu chí để chọn lựa nên chọn phương pháp thuê tài chính
nào là thích ứng với điều kiện hiện tại của doanh nghiệp đó và có các chi phí
thấp nhất hoặc lợi ích mang lại cho doanh nghiệp là cao nhất. Sau đây là một vài
tiêu chí giúp doanh nghiệp có thể chọn lựa phương pháp thuê tài chính thích hợp:
-Nếu như doanh nghiệp đã trang bò hệ thống máy móc thiết bò nhưng đang
kẹt vốn kinh doanh thì doanh nghiệp đó có thể chọn loại hình cho thuê tài chính
“Mua và cho thuê lại”.
-Nếu như trên thò trường đang có một doanh nghiệp đã thuê máy móc

và hoạt động của các công ty cho thuê tài chính ở Nhật Bản tương đối mạnh nên
các công ty cho thuê tài chính đã có mặt trên hầu hết toàn nước Nhật và tham
gia vào nhiều lónh vực khác nhau của nền kinh tế. Không những thế, hoạt động
cho thuê tài chính ở Nhật Bản còn vươn ra thế giới và có các văn phòng đại diện
ở các thành phố lớn như New York, London, Hong Kong, Singapore.
Còn ở Trung Quốc, một đất nước thuộc khu vực Châu Á và nằm ở vò trí
đòa lý gần sát với nước ta, cũng đã có một hệ thống cho thuê tài chính phát triển
khá mạnh. Sở dó có được sự phát triển mạnh này là do chính sách mở cửa của
nền kinh tế và nhu cầu vốn đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Trung
Quốc tăng cao. Chỉ tính trong vòng 10 năm từ những năm 1990, tại Trung Quốc
đã có hơn 400.000 doanh nghiệp quốc doanh có qui mô vừa và nhỏ, hơn một
triệu xí nghiệp cấp phường xã có nhu cầu đổi mới thiết bò công nghệ.
-25-

Trích đoạn 3.3.2)Phương pháp định tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status