LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế của mỗi một
quốc gia. Doanh nghiệp là nơi sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho
nhu cầu của nền kinh tế một nước nói chung và cả các quốc gia khác trên
thế giới. Trong quá trình sản xuất - kinh doanh của mình, doanh nghiệp
thường xuyên có nhu cầu bổ sung vốn cho các hoạt động như mua sắm
trang thiết bị, máy móc, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vào các dự án…
Để có thể bổ sung vốn, doanh nghiệp có thể huy động từ nhiều nguồn khác
nhau như: lấy từ lợi nhuận không chia để lại, từ việc phát hành cổ phiếu –
trái phiếu, vay ngân hàng hoặc thông qua hình thức tín dụng thương
mạiv.v…
Trong các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp thì việc huy
động vốn từ việc vay ngân hàng thương mại là một trong những nguồn vốn
quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bàn thân các doanh
nghiệp mà còn đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự
hoạt động và phát triển của doanh nghiệp gắn liền với các dịch vụ tài chính
mà các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các
nguồn vốn.
Có thể nói, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thị
trường đều phải vay vốn từ các ngân hàng thương mại. Các doanh nghiệp
vay vốn ngân hàng ngoài việc đảm bảo tài chính cho hoạt động sản xuất
kinh doanh còn sử dụng vốn vay để mở rộng hay đầu tư chiều sâu nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Để có thể vay vốn được ở các ngân hàng thương mại thì các doanh
nghiệp phải đáp ứng các điều kiện vay vốn do ngân hàng đặt ra. Doanh
nghiệp không thể vay vốn nếu chưa đáp ứng được tất cả các điều kiện mà
ngân hàng đưa ra. Hiện nay, nhu cầu sử dụng vốn vay tín dụng từ các ngân
hàng thương mại của doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, song không phải
doanh nghiệp nào khi lập hồ sơ vay vốn đều được chấp nhận. Thực tế đã
1
chứng minh các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp khó khăn trong việc
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện có Luật
Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật
các tổ chức tín dụng… Theo đó, sẽ có các cách phân loại doanh nghiệp
khác nhau.
a) Theo Luật doanh nghiệp 2005 thì Việt Nam bao gồm các loại hình
doanh nghiệp là:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Công ty cổ phần.
- Công ty hợp danh.
- Doanh nghiệp tư nhân.
- Nhóm công ty.
Cũng theo luật này, khái niệm các loại hình doanh nghiệp trên như sau:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: bao gồm có 2 loại là công ty trách
nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở nên và công ty trách nhiệm hữu hạn một
thanh viên.
3
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên là doanh
nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm các khoản nợ và các nghĩa vụ
tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào
doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng
thành viên tối thiểu là 2 và không vượt quá 50. Công ty trách nhiệm hữu
hạn 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, không được quyền phát hành
cổ phiếu để huy động vốn.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức
đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định pháp luật của
Việt Nam, công ty trách nhiêm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do
một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp tư nhân không
được phép phát hành bất kỳ một loại hình chứng khoán nào. Mỗi cá nhân
chỉ được phép thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
- Nhóm công ty là tập hợp các công ty có quan hệ làm ăn gắn bó lâu
dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh
khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức: công ty mẹ - công ty con, tập
đoàn kinh tế, các hình thức khác.
b) Ngoài ra còn có cách phân loại khác bao gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước
- Doanh nghiệp tập thể
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp cá thể tiểu chủ
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Định nghĩa về các loại hình doanh nghiệp này như sau:
5
- Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Hình thức cụ thể như:
Công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước,
tổng công ty nhà nước, công ty mẹ - công ty con.
- Doanh nghiệp tập thể là tổ chức kinh tế do người lao động thành lập
theo nguyên tắc dân chủ, sở hữu vốn tập thể và vốn cổ phần. Hình thức cụ
thể như: Hợp tác xã hoạt động trong các ngành nông lâm ngư nghiệp, công
nghiệp, xây dựng, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
- Doanh nghiệp tư nhân: bao gồm 2 loại:
+ Doanh nghiệp cá thể tiểu chủ là tổ chức kinh tế dựa trên hình
thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động của bản thân họ. Hình thức
cụ thể: Hộ kinh doanh cá thể, hộ sản xuất kinh doanh tiểu chủ, kinh tế
trang trại.
+ Doanh nghiệp tư bản tư nhân là tổ chức kinh tế dựa trên sở hữu
tư nhân với quy mô lớn về vốn và dựa vào lao động làm thuê. Hình thức cụ
doanh… thì doanh nghiệp đó có thể huy động vốn từ nhiều nguồn như từ
lợi nhuận để lại, từ phát hành chứng khoán, vay ngân hàng hay các tổ chức
tài chính trung gian… nhưng ta có thể thấy một số vấn đề sau.
Huy động vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh là phương thức huy động vốn rẻ nhất nhưng là chưa đủ cho nhu
cầu của doanh nghiệp. Có điều này là do lợi nhuận để lại của doanh nghiệp
dù cao bao nhiêu nhưng so với chi phí để mở rộng hoạt động sản xuất, đầu
tư trang thiết bị.. cũng là rất nhỏ bé. Mặt khác, doanh nghiệp cũng không
thích sử dụng toàn bộ lợi nhuận để lại để đầu tư vào sản xuất kinh doanh vì
nhiều nguyên nhân như: dự phòng thanh toán tránh rủi ro hoặc là chia cổ
tức cho cổ đông trong trường hợp công ty cổ phần… khiến cho lượng vốn
từ lợi nhuận để lại không thể đáp ứng được nhu cầu vốn.
Doanh nghiệp cũng có thể phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu)
trên thị trường chứng khoán để huy động vốn (tài chính trực tiếp). Mặc dù,
7
ở Việt Nam hiện nay đây là một cách rất phổ biến nhưng đây cũng không
phải là hình thức tạo vốn quan trọng. Việc phát hành những chứng khoán
mua, bán trên thị trường không phải là biện pháp hàng đầu để các doanh
nghiệp tài trợ cho các hoạt động của họ. Nguyên nhân có thể thây là không
phải doanh nghiệp nào cũng được phép phát hành chứng khoán trên thị
trường. Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì chỉ có loại hình doanh nghiệp là
công ty cổ phần mới được phép phát hành chứng khoán trên thị trường. Do
đó, người chủ của các doanh nghiệp khác không thể sử dụng việc phát
hành chứng khoán để tạo vốn. Tuy nhiên, không phải bất cứ công ty cổ
phần nào cũng có thể phát hành chứng khoán bởi vì các công ty này phải
nộp hồ sơ để trở thành công ty đại chúng cho UBCKNN, nếu được chấp
nhận thì mới được phát hành. Việc phát hành chứng khoán ra thị trường
thường tốn chi phí không nhỏ, để cân bằng các doanh nghiệp mỗi đợt phát
hành sẽ phát hành với một số lượng lớn vừa đủ để có thể đảm bảo mục tiêu
huy động vốn của mình. Vấn đề đặt ra là không thể lúc nào doanh nghiệp
hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật).
- Hồ sơ mục đích sử dụng vốn vay: mục đích của hồ sơ này là chứng
minh doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã quy đinh,
không sử dụng vốn vào những hành vi trái pháp luật. Trong trường hợp
doanh nghiệp vay vốn để thực hiện dự án thì cần có hồ sơ dự án đầu tư khả
thikèm theo.
- Hồ sơ tài chính: mục đích của hồ sơ này là chứng minh doanh nghiệp
có đủ khả năng trả nợ ngân hàng trong tương lai.
- Hồ sơ về tài sản thế chấp: mục đích của hồ sơ này để phòng ngừa rủi
ro doanh nghiệp không trả được nợ ngân hàng thì ngân hàng có thể tịch thu
tài sản bảo đảm.
9
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN VAY VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Chứng minh doanh nghiệp có năng lực pháp luật dân sự, năng lực
hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp
luật.
2.1.1 Nội dung điều kiện.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, và cũng tuỳ theo yêu cầu mỗi ngân
hàng có khác nhau, vì thế các loại hồ sơ này cũng khác nhau. Tuy nhiên về
cơ bản, những giấy tờ cần thiết cho hồ sơ pháp lý bao gồm:
- Quyết định thành lập doanh nghiệp (nếu có).
- Điều lệ doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân).
- Quyết định bổ nhiệm Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc, Kế toán
trưởng, quyết định công nhận ban quản trị, chủ nhiệm HTX.
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư
cấp; các Giấy đăng ký thay đổi (nếu có).
- Giấy phép hành nghề (nếu có).
- Giấy phép đầu tư (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).
doanh nghiệp nhà nước luôn thuận lợi hơn rất nhiều so với các doanh
nghiệp khác, nhắc đến doanh nghiệp nhà nước là ngân hàng cho vay hết
sức rộng rãi mà ko cần quá nhiều thủ tục rườm rà, số lượng vốn mà doanh
nghiệp nhà nước vay được thậm chí lớn gấp mấy chục lần vốn chủ sở hữu.
Hơn nữa, các doanh nghiệp nhà nước, luôn thành thạo và hiểu biết hơn về
thủ tục vay vốn, nên việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng của doanh
nghiệp nhà nước có thể coi là thuận lợi nhất trong các loại hình doanh
nghiệp.
11
- Công ty cổ phần: Với công ty cổ phần, có thể thấy rằng, những công
ty cổ phần với quy mô lớn thường có điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín
dụng trong vấn đề hồ sơ pháp lý. Những công ty với quy mô lớn phần nào
đã chiếm được sự tín nhiệm từ phía Ngân hàng, nên các thủ tục giấy tờ sẽ
ko quá khắt khe. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đầy đủ đúng thủ tục yêu cầu.
Với công ty cổ phần quy mô nhỏ, hầu hết những công ty này rất cần sử
dụng vốn tín dụng nhưng việc vay vốn còn gặp nhiều khó khăn cho việc
chuẩn bị hồ sơ pháp lý. Thiếu kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp, đồng
thời chưa có mối quan hệ hay sự tín nhiệm từ phía Ngân hàng nên việc thủ
tục sẽ rườm rà hơn.
- Công ty tư nhân: Có thể nói khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn khó tiếp
cận nguồn vốn ngân hàng. Hồ sơ pháp lý mà ngân hàng yêu cầu từ doanh
nghiệp tư nhân có những nét khác hơn so với công ty cổ phần. Khi vay
vốn, hồ sơ của doanh nghiệp tư nhân sẽ phức tạp hơn và bị kiểm tra hết
sức chặt chẽ. Do ngân hàng rất e dè trong việc cung cấp tín dụng đối với
khu vực kinh tế tư nhân. Và sự hỗ trợ của nhà nước cho doanh nghiệp tư
nhân vay vốn cũng chưa được thoả đáng.
2.2 Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
2.2.1 Nội dung điều kiện:
Việc sử dụng vốn vay Ngân hàng một cách hợp pháp là một việc hết sức
quan trọng đối với DN. Phạm vi sử dụng vốn có thể thấy vào một số hoạt
quy định mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết phải đảm bảo an toàn
vốn vay, các ngân hàng sẽ tiến hành xem xét quyết định khách hàng
vẫn phải cam kết mua bảo hiểm đối với đối tượng vay vốn.
Đối với doanh nghiệp thì để đảm bảo điều kiện này phải lập hồ sơ
tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ( 2- 3
năm liên tục gần nhất trở lại), báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh lũy kế
từ đầu năm hay các tài liệu có liên quan khác như: biên bản góp vốn điều
lệ (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), quyết định giao
13
vốn (đối với doanh nghiệp được nhà nước giao vốn như công ty trách
nhiệm hưữ hạn 1 thành viên), hoặc tài lệu thuyết trình khả năng tài chính
đối với doanh nghiệp tư nhân. Trường hợp pháp nhân mới thành lập thì
phải có bảng báo cáo các số liệu tài chính chi tiết tại thời điểm vay vốn
Những thẩm định của ngân hàng về phương diện tài chính đối với
khách hàng vay vốn là doanh nghiệp được dựa trên cơ sở nhiều năm
(thường là hai năm gần nhất), so sánh sự tăng giảm về số tuyệt đối số, số
tương đối giữa các năm, từ đó rút ra những nhận xét về xu hướng tăng
trưởng, phát triển và tính ổn định, an toàn. Phân tích các tồn tại và biện
pháp khắc phục.
Các chỉ tiêu tài chính được ngân hàng sử dụng để phân tích, đánh
giá giá bao gồm:
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ
tiêu được sử dụng để đánh giá tình trạng thanh khoản ngắn hạn của
doanh nghiệp và là mối quan tâm hàng đầu trong kinh doanh của Ngân
hàng thương mại. Bao gồm:
Hệ số thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh
toán ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
K
nh