1Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 4
5
LỜI NÓI ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: 1
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu : 2
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài: 2
1.1. Khái niệm và cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở 3
1.1.1. Khái niệm 3
1.1.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở 3
1.1.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng 3
1.1.2.2. Về mặt giá - Tác động qua lãi suất 4
1.2. Các loại nghiệp vụ thị trường mở 5
1.3. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 7
1.3.1. Đấu thầu khối lượng 7
1.3.2. Đấu thầu lãi suất 8
1.4. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở 9
1.4.1. Tín phiếu kho bạc 9
1.4.2. Chứng chỉ tiền gửi 10
1.4.4. Trái phiếu chính phủ 11
1.4.5. Trái phiếu chính quyền địa phương 11
1.4.6. Các hợp đồng mua lại 11
1.5. Ưu, nhược điểm của công cụ nghiệp vụ thị trường mở 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIÊT NAM 13
2.1. Sự cần thiết ra đời nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN 13
2.1.1. Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thấp 13
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIÊT NAM 13
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
5Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
1Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam sau gần hai mươi năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng và to lớn, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.Kết quả đó có sự đóng góp rất
lớn từ việc vận hành đúng đắn và chính xác chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước .
Thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ như: chiết khấu,dự trữ bắt buộc, nghiệp
vụ thị trường mở, hạn mức tín dụng, tỷ giá… ngân hàng nhà nước 1 mặt cung cấp đầy
đủ phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, mặt khác giữ ổn định giá trị của đồng nội tệ.
Một trong những công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ, Nghiệp vụ thị trường
mở sau khoảng thời gian đi vào hoạt động từ ngày 12 tháng 7 năm 2000, công cụ này
đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình với những ưu thế vốn có của nó, góp phần
ổn định giá trị đồng nội tệ, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên hoạt
động thị trường mở trong thời gian qua vẫn bộc lộ một số hạn chế : số lượng hàng hoá
giao dịch và số thành viên tham gia trên thị trường mở còn khiêm tốn, phương thức
giao dịch còn nhiều thủ tục, kém linh hoạt….
Do vai trò quan trọng và còn nhiều điểm hạn chế trong việc vận hành công cụ thị
trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời gian qua nên việc nghiên cứu
nhằm phát triển nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam là một đòi
hỏi cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Vì vậy đề tài : “Thị trường
mở và thực trạng sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính
sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn 2012- đầu 2013” được lựa chọn nghiên cứu
cho đề án này. Bài làm gòm 2 phần chính:
1. Ngiệp vụ thị trường mở của Ngân Hàng Trung ương
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn hoặc
trung và dài hạn nhưng thời gian còn lại cho đến khi đáo hạn là ngắn hạn của NHTW
trên thị trường tiền tệ, điều hoà cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối dự
trữ của các NHTM , từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các NHTM dẫn
đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
1.1.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động
trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên
thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá
và mặt lượng.
1.1.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động
ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của
các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gửi của
khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO).
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại
NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Trường
hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
3
NHTW
bán
GTCG
Dự trữ
NH
giảm
Dự trữ mở
rộng cho
vay giảm
TPKB
Dự trữ NH
giảm
Đầu tư
giảm
Cung của quỹ
cho vay giảm
Lãi suất ngắn
hạn tăng
Lãi suất thị
trường tăng
Giá TPKB
giảm
LS thị trường
tăng
tăng
5Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh
lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong
các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động
trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng.
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng.
Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi
suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường.
Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng
cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều
này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn
đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãi suất và hạn chế
sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi suất thị trường tăng
lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất
xác định trong tương lai. Sự chênh lệch giá bán chứng khoán tại thời điểm t=o và thời
điểm t=T là lãi suất của khoản vay (Repor). Nói chung hợp đồng mua lại được sử dụng
trong một thời gian rất ngắn. Thường là qua đêm với t = 1 ngày. Tuy nhiên, cũng có khi
thời hạn hợp đồng mua lại dài hơn với t > 1 ngày, được coi là Repor có thời hạn. Với
loại Repor mở, thời hạn t không được xác định trước mà 2 bên thoả thuận lại vào mỗi
ngày.Giao dịch theo hợp đồng Repor thực chất là một khoản vay có bảo đảm bằng
chứng khoán có tính thị trường cao.
Các giao dịch hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường mở vì
những lý do sau đây:
Thứ nhất: đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh
hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng.
Thứ hai: chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp đồng
mua bán đứt đoạn.
Thứ ba: thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không hoàn
hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục.
Thứ tư: làm giảm bớt thời giam thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị
trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW.
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
6
7Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
Ngoài ra một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trong nghiệp vụ
thị trường mở như: phát hành chứng chỉ nợ của NHTW, giao dịch hoán đổi các chứng
khoán đến hạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ.
1.3. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở
Các giao dịch OMO thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu là
đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất.
1.3.1. Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW công bố
trước. NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thức đấu
thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện. NHTW công bố điều kiện đặt thầu để các thành
)
được xác định như sau:
W
i
= k x b
i
1.3.2. Đấu thầu lãi suất
Theo phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng ký số tiền
ứng với mỗi mức lãi suất do tự mình lựa chọn.
- Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việc mua
GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo các mức lãi
suất từ cao xuống thấp. Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu tiên
phân bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết. Nếu tại mức lãi suất
thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơn khối lượng được phân
phối thì quá trình phân bổ như sau:
Gọi: - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán
- r
t
: là mức lãi suất thứ t được đăng ký
- b(r
t
)
i
là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi suất r
t
- b(r
t
) là tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức lãi suất r
t
b r
−
=
∑
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
8
9Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
B(r
m
)
Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k(r
m
), khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i
(W
i
) tại mức lãi suất r
m
được xác định như sau:
W(r
m
) = k(r
m
) x b(r
m
)
- Trường hợp NHTW cần hút tiền từ lưu thông về thông qua việc bán GTCG thì
các quy trình diễn ra ngược lại.
Trên thế giới có hai phương thức đấu thầu lãi suất là đấu thầu theo kiểu Mỹ và đấu
thầu theo kiểu Hà Lan. Nếu đấu thầu theo kiểu Mỹ thì tất cả các mức lãi suất đã đăng
ký trong phạm vi đặt thầu đều thực hiện theo đúng mức lãi suất đã đăng ký. Nếu đấu
gửi đánh dấu sự thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: Chuyển từ quản lý tài
sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho
ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền. Tính ưu việt của chứng chỉ tiền
gửi chính là đảm bảo cho sức sống của nó, và do đó nó được sử dụng như là hàng hóa
phổ biến cho nghiệp vụ thị trường mở .
1.4.3 Thương phiếu.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết
thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian xác định. Đây là
giấy ghi nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu vốn ngắn
hạn của doanh nghiệp. Luật và pháp lệnh thương phiếu ở các nước đảm bảo tính chất an
toàn cho công cụ này bằng các quy định về điều kiện được phép phát hành thương
phiếu. Thương phiếu là tài sản có đối với người sở hữu, có thể là ngân hàng ( thông qua
các hành vi chiết khấu hoặc cho vay có bảo đảm bằng thương phiếu) hoặc các tổ chức
phi ngân hàng trong quan hệ thanh toán trực tiếp ( cơ chế bảo lãnh của ngân hàng là là
cho thương phiếu có tính chuyển nhượng cao và vì thế được chấp nhận dễ dàng trong
thanh toán của tổ chức này). Vì vậy, việc mua, bán thương phiếu của NHTW sẽ ảnh
hưởng mạnh đến dự trữ của các NHTM hoặc tiền gửi của các khách hàng tại cá NHTM.
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
10
11Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
1.4.4. Trái phiếu chính phủ.
Trái phiếu chính phủ là chứng khoán nợ dài hạn được nhà nước phát hành nhằm
bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước. Mặc dù là dài hạn nhưng trái phiếu chính phủ
được sử dụng phổ biến trong nghiệp vụ thị trường mở ở một số quốc gia bởi tính an
toàn, khối lượng phát hành, tính ổn định trong phát hành và khả năng tác động trực tiếp
đến giá cả tín phiếu kho bạc trên thị trường tài chính.
1.4.5. Trái phiếu chính quyền địa phương.
Tương tự như trái phiếu chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương khác
về thời hạn và các điều kiện ưu đãi liên quan đển trái phiếu. Thông thường người sở
hữu trái phiếu của chính quyền địa phương được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập từ trái
trực tiếp vào khả năng cung ứng tín dụng của các tổ chức tín dụng.
Thứ hai : Đây là công cụ có tính linh hoạt và chính xác cao,có thể sủ dụng ở bất
kỳ mức độ nào, mong muốn mức thay đổi của dự trữ hoặc cơ số tiền tệ dẫu lớn hay nhỏ
thế nào, NHTW cũng có thể thực hiện được bằng cách mua hợc bán một khối lượng
lớn, nhỏ chứng khoán.
Thứ ba : NHTW dễ dàng đảo ngược tình thế khi có một quyết định sai lầm về
việc sủ dụng công cụ này bằng cách lập tức đảo ngược việc sủ dụng công cụ đó.Thí dụ ,
nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ qua nhanh do đó mua quá nhiều giấy tờ có giá
trên thị trường mở thì nó có thể sửa chữa ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán các
giấy tờ có giá đó trên thị trường mở.
Thứ tư : Việc thực hiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở có thể được hoàn thành
nhanh chóng. Khi muốn thay đổi cơ số tiền tệ hoặc dự trữ, NHTW có thể quyết định và
thực hiện ngay trong phiên giao dịch.
Với những lợi thế hơn hẳn so với các công cụ khác, sau khi ra đời công cụ nghiệp
vụ thị trường mở đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước phát triển. Tuy nhiên
công cụ nghiệp vụ thị trường mở vẫn còn một số hạn chế. Nhược điểm lớn nhất của
công cụ này là để nó có thể phát huy được hết hiệu quả của mình thì quốc gia đó phải
có thị trường tài chính phát triển, hàng hoá của thị trường (các giấy tờ có giá) phải đa
dạng và phong phú. Không những thế , NHTW phải có khả năng dự báo được mức vốn
khả dụng của toàn hệ thống để có thể đưa ra quyết định mua hoặc bán, có như vậy việc
can thiệp mới có ý nghĩa lớn trong việc tác động vào lượng tiền cung ứng . Ngoài ra
,khi NHTW thực hiên việc mua bán trên thị trường mở thì sẽ tác động đến lượng tiền
trung ương, từ đó sẽ ảnh hưởng tới lãi suất . Vì vậy, để có thể kiểm soát được các ảnh
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
12
13Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
hưởng này, NHTW phải có các giải pháp xử lý phù hợp. Điều này đòi hỏi NHTW phải
rất nhạy cảm và linh hoạt trong việc phối hợp các công cụ, điều hành chính sách tiền tệ.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIÊT NAM
hoạt động của thị trường tiền tệ, nhất là hoạt động cho vay ngắn hạn hoặc qua đêm giữa
các ngân hàng, có lúc gây ra thiếu phương tiện thanh toán trầm trọng.
Các công cụ hiện hành không cho phép NHNN có thể điều chỉnh linh hoạt lượng
vốn khả dụng trong điều kiện dư thừa. Tình trạng dự trữ dư thừa không mong muốn tại
các ngân hàng bắt đầu từ năm 1994 và kéo dài đến năm 2000 là cho các ngân hàng phải
chịu áp lực mạnh về chi phí vốn, đồng thời giảm hiệu quả tác động của CSTT, đặc biệt
công cụ tái cấp vốn. Các công cụ này tỏ ra thiếu chủ động trong việc điều chỉnh lượng
tiền cung ứng. Điều này thể hiện rõ trong hai năm 1998-1999 khi trần lãi suất cho vay
liên tục giảm nhưng khối lượng tín dụng không tăng tương ứng, đồng thời giá cả và sản
lượng giảm liên tục.
Hiệu quả của CSTT thấp còn bởi vì chúng chỉ tác động được qua kênh truyền dẫn
duy nhất là kênh tín dụng của hệ thống ngân hàng. Các kênh tác động khác như lãi suất
và thị trường tài chính chưa phát huy do thị trường tiền tệ và chứng khoán chưa hoạt
động. Vì vậy, tác động của CSTT trong giai đoạn này chủ yếu thông qua tác động về
khối lượng.
Để khắc phục nhược điểm này, bên cạnh việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các
công cụ hiện có cũng như kênh truyền dẫn tác động, việc đưa vào áp dụng các công cụ
CSTT gián tiếp có khả năng tác động đến lãi suất và khối lượng vốn của nền kinh tế là
cấp thiết. Một trong những công cụ đó là nghiệp vụ thị trường mở. Chính vì vậy, sự
hình thành thị trường mở trở thành mục tiêu của NHNN trong việc hoàn thiện công cụ
CSTT trong giai đoạn này.
2.1.2. Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán nợ
Trước năm 1990, nền kinh tế Việt Nam được tài trợ từ các trung gian tài chính mà
chủ yếu là các ngân hàng. Từ đầu thập niên 1990s, tình trạng này đã được cải thiện.
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
14
15Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
Nhiều người có nhu cầu vốn đã bắt đầu làm quen với hình thức huy động vốn trực tiếp
từ công chúng trên cơ sở sử dụng các giấy tờ có giá với các thời hạn khác nhau. Đây là
điều kiện nền tảng cho hoạt động thị trường mở. Các thị trường chứng khoán nợ (ngắn
Quy chế đầu tiên về nghiệp vụ thị trường mở được Thống đốc NHNN ban hành
kèm theo Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN14 ngày 9/3/2000 là mốc quan trọng đánh
dấu sự phát triển của thị trường tiền tệ Việt Nam. Ngày 5/1/2007, Thống đốc NHNN đã
ban hành Quy chế về nghiệp vụ thị trường mở kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-
NHNN và Quy chế này được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN
ngày 30/9/2008. Qua các lần sửa đổi, hệ thống pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn, làm
tiền đề cho sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở nói riêng và thị trường tiền tệ Việt
Nam nói chung.
2.3. Diễn biễn hoạt động thị trường mở Việt Nam giai đoạn 2010 – đầu
năm 2013
2.3.1. Hàng hóa giao dịch trên thị trường mở
CTCG
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005-đầu
năm 2013
Tín phiếu KBNN X X X X X X
Tín phiếu NHNN X X X X X X
Trái phiếu CP X X X
Trái phiếu KBNN X X X
Trái phiếu đầu tư X
2010
Năm
2011
Năm
2012
NHNN VN 1 1 1 1 1 1 1
NHTM NN 5 3 3 3 3 3 3
NHTM CP 23 32 38 38 38 39 39
Ngân hàng
nước ngoài
11 14 14 14 15 16 16
Ngân hàng
liên doanh
2 4 4 4 4 4 4
Công ty tài
chính
1 1 1 1 1 1 1
Qũy tín
dụng NHTW
1 1 1 1 1 1 1
Tổng thành
viền
44 56 62 62 63 64 64
Bảng 2.2: Số lượng thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở qua các năm
( Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Số lượng thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở ngày càng càng tăng, năm
2012 có 39 NHTM cổ phần, 4 Ngân hàng lien doanh, 16 Ngân hàng nước ngoài tham
gia Như vậy số lượng thành viên tham gia tang lên và không chỉ là NHTM mà còn có
sư tham gia của ngân hàng nước ngoài và các công ty tài chính.
2.3.3. Doanh số giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở
giao dịch buổi chiều trên thị trường mở thay vì chỉ có một phiên buổi sáng. Trong đó
phiên giao dịch buổi sáng cho kỳ hạn 28 ngày và phiên giao dịch buổi chiều cho kỳ hạn
7 ngày. Đồng thời, NHNN bơm 8200 tỷ đồng kỳ hạn 4 tuần với lãi suất 8% và 2500 tỷ
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
18
19Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: Ths. Phạm Văn Sơn
đồng kỳ hạn 7 ngày với mức lãi suất 7,5%. Trong 9 tháng đầu năm, khối lượng chào
mua bình quân khoảng 5400 tỷ đồng/ phiên, khối lượng trúng thầu bình quân khoảng
3200 tỷ đồng/ phiên. Ba tháng cuối năm trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao, tín
dụng và tổng thanh toán vượt mục tiêu, nghiệp vụ thị trường mở được điều hành chặt
chẽ hơn nhưng đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ. Trong 3 tháng, khối lượng chào mua
bình quân khoảng 7160 tỷ đồng/phiên, khối lượng trúng thầu bình quân khoảng 6970 tỷ
đồng.
Năm 2011
Theo số liệu thống kê về nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá năm 2012, NHNN đã
bơm ra thị trường 2.796.543 tỷ đồng, trong khi hút vào 2.804.472 tỷ đồng. Như vậy, cả
năm 2012, NHNN đã hút ròng 7.929 tỷ đồng. Số liệu cụ thể tổng hợp ở bảng số liệu
dưới đây:
ĐVT: Tỷ đồng
Thời gian Cung ứng Hút vào
Cung ứng
ròng
Quý I 1.302.218 1.294.845 7.373
Quý II 997.489 1.060.364 -62.875
Quý III 138.981 120.036 18.945
Quý IV 357.855 329.227 28.628
Tổng
2.796.543,000 2.804.472,000 -7.929
Bảng 2.4: Doanh số giao dịch theo quý năm 2011( Nguồn: NHNN)
Trong 6 tháng đầu năm 2011, theo số liệu thống kê về hoạt động thị trường mở
IV 58.598 36.700 21.898
Tổng 341.704,96 394.001,365 -52.296,405
Bảng 2.5: Doanh số giao dịch theo quý năm 2011( Nguồn: NHNN)
SVTH: Nguyễn Thị Ngân-37K15.1
20