Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
MỤC LỤC
TRANG
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................4
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ..................6
1.2 VỊ TRÍ VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ...........................................................................7
1.2.1 Vị trí...........................................................................................................7
1.2.2 Nhiệm vụ....................................................................................................7
1.3 MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA..................................................................................7
1.3.1 Kiểm soát lạm phát....................................................................................7
1.3.2 Ổn định giá trị đồng bản tệ.......................................................................8
1.3.3 Tạo việc làm và giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp..............................................9
1.3.4 Ổn định và tăng trưởng kinh tế..............................................................10
1.3.5 Các mục tiêu trung gian..........................................................................10
1.4 QUAN HỆ GIỮA CÁC MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.........................................................11
1.5 CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ...................................................................................11
1.5.2. CÁC CÔNG CỤ TRỰC TIẾP.......................................................................................................18
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM21
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1999 ĐẾN 2010..............................................................................................................21
2.1.1 Giai đoạn 1999 – 2003.............................................................................21
2.1.2 Giai đoạn 2004-2006................................................................................31
2.1.3. Giai đoạn 2007-2010...............................................................................37
2.2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM NHỮNG THÁNG ĐẦU NĂM 2011..........................................50
2.3 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY......................51
2.3.1 Những mặt đạt được................................................................................51
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP.............................................59
3.1 KINH NGHIỆP TỪ NƯỚC BẠN......................................................................................................59
3.2.1.2.Giải pháp cụ thể...............................................................................................................................................63
a)Đối với công cụ thị trưởng mở............................................................................................................................63
USD Đồng đô la Mỹ
VND Việt Nam đồng
3
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm tiến hành đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa quan liêu bao
cấp sang nên kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự điều tiết
và quản lý vĩ mô của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng
kể.
Trong nền kinh tế thị trường, bản chất là một nền kinh tế tiền tệ, Chính sách tiền tệ
là một chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền
kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm,
tốc độ tăng trưởng, lạm phát... Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong
thời gian qua đã đạt mức cao song tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao, đồng nội tệ ngày càng
mất giá... Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải có một chính sách tiền
tệ đúng đắn, linh hoạt để tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền
vững, đồng thời đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.
Với những nhận định trên, em quyết định lựa chọn đề tài:" Chính sách tiền tệ -
Thực trạng & Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm để hiểu rõ hơn và sâu sắc hơn cơ sở lý
luận về chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, xem xét việc thực thi
chính sách tiền tệ ở nước ta trong giai đoạn 1999-2011 và và từ đó đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà nước
(NHNN) Việt Nam trong xu thế hội nhập
Nội dung của đề án được kết cấu thành 3 phần :
Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tiền tệ
Chương 2 : Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, dù đã nỗ lực hết mình nhưng với kiến thức
của một sinh viên và thời gian còn hạn chế thì đề án cũng không thể tránh khỏi những
vào từng thời kỳ, tình hình của mỗi quốc gia mà xác định đâu là mục tiêu chính.
Một chính sách tiền tệ hoàn hảo sẽ xây dựng được một “tứ giác thần kỳ” ứng với một
tốc độ lạm phát 1 – 3%, thất nghiệp vào khoảng 4%, tăng trưởng kinh tế phải đạt từ 3 –
6
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
5% và làm sao cho số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm từ 2 – 3% trên GNP.
Một quốc gia sẽ cực kỳ ổn định nếu nó đạt được tứ giác thần kỳ này.
1.2 Vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ
1.2.1 Vị trí
Kinh tế thị trường về thực chất là một nền kinh tế tiền tệ. Ở đó bao giờ chính sách
tiền tệ cũng là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của Nhà
nước, bên cạnh chínhớách tài khoá, chính sách phân phối thu nhập, chính sách kinh tế
đối ngoại…
NHNN sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay thắt chặt trong việc
cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản tệ, đưa sản lượng và việc làm của quốc gia
đến mức mong muốn.
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của NHNN. Có thể coi chính
sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động của NHNN. Các hoạt động khác
của NHNN đều nhằm thực thi chính sách tièn tệ đạt được các mục tiêu của nó.
1.2.2 Nhiệm vụ
Chính sách tiền tệ, một mặt là cung cấp đủ phương tiện thanh toán cho nền kinh tế
(lượng tiền cung ứng), mặt khác phải giữ ổn định giá trị đồng bản tệ. Để thực hiện được
điều đó, thông thường trên thé giới, việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ được
giao cho NHNN. Có một số nước, việc xây dựng chính sách tiền tệ có thể do một cơ
quan khác, nhưng thực hiện chính sách tiền tệ vẫn là NHNN. Tuy nhiên trong lĩnh vực
này, NHNN cần được độc lập ở một mức độ nhất định với Chính phủ.
1.3 Mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia
1.3.1 Kiểm soát lạm phát
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian. Khi lạm phát ở mức độ
cao (lạm phát phi mã, siêu lạm phát) thì sẽ dẫn tới phân phối lại thu nhập và của cải giữa
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao (đồng bản tệ có giá trị thấp so với ngoại tệ) có
tác dụng bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu
tương đối đắt, hàng xuất khẩu tương đối rẻ hơn.
Như vậy một tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều dẫn tới những tác động kép tích cực
và tiêu cực. Do đó nhiệm vụ của NHNN là sử dụng những công cụ, chính sách của
mình, can thiệp, giữ cho tỷ giá không thăng trầm quá đáng, làm dịu bớt những tình trạng
bất ổn định của nền kinh tế quốc dân trong nuớc.
1.3.3 Tạo việc làm và giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp
Những người trong lực lượng lao động khi không có việc làm sẽ trở thành người
thất nghiệp. Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mỗi quốc gia có nền kinh tế thị
truờng cho dù quốc gia đó là phát triển, đang phát triển hay kém phát triển.
Khi tỷ lệ thất nghiệp cao, sản xuất sút kém các nguồn lực không được sử dụng hết,
thu nhập của dân cư giảm sút. Khó khăn kinh tế tràn sang lĩnh vực xã hội, nhiều hiện
tượng tiêu cực phát triển, tác hại của thât nghiệp là rất rõ ràng. Thất nghiệp luôn gắn liền
với các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của
nhiều người, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, làm xói mòn lối sống lành
mạnh …
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp chứ không
phải là làm cho thất nghiệp bằng không mà ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, khi nền kinh tế
toàn dụng nhân công. Trong thực tế có một số người thất nghiệp có lợi cho nền kinh tế.
Đó là khi người lao động quyết định đi tìm một công việc khác tốt hơn, phù hợp hơn, thì
người lao động đó bị thất nghiệp trong thời gian đang tìm việc làm. Hoặc một số nguời
lao động tự nguyện rời bỏ công việc của mình để theo đuổi các hoạt động khác như học
tập hay du lịch … và khi họ quyết định gia nhập trở lại thị truờng lao động, họ phải mất
một thời gian đẻ tìm đúng công việc mà họ mong muốn.
Thông qua chính sách tiền tệ có thể tác động đến công ăn việc làm, tức đến tỷ lệ
thất nghiệp trong nền kinh tế. Nếu chính sách tiền tệ của NHNN nhằm mở rộng cung
ứng tiền tệ, tạo điều kiện mở rộng đầu tư sản xutấ, các doanh nghiệp và nền kinh tế cần
9
Bằng việc tăng giảm các khối lượng tiền tệ NHNN góp phần đến tác đông tăng,
giảm tổng cung và tổng cầu tiền tệ của xã hội. Đồng thơi NHNN cũng có thể sử dụng
công cụ lãi suất để tác động đến sự tăng giảm khối luợng tiền tệ, từ đó tác động đến tổng
cung và tổng cầu của xã hội.
1.4 Quan hệ giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Nhìn tổng quát và có chiến lược lâu dài thì các mục tiêu chính sách tiền tệ có quan
hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Điều đó cho thấy rằng trong quá trinh
thực hiện chính sách tiền tệ không thể tuyệt đối hoá một mục tiêu nào, không thể giải
quyết các mục tiêu một cách độc lập trên tầm vĩ mô. Tuy nhiên, có nơi có lúc, trong thời
gian ngắn có thể xảy ra sự xung đột, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau giữa các mục tiêu. Điều
thường gặp và dễ thấy nhất là sự mâu thuẫn giữa tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ thất nghiệp.
Tuy vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau, song nhìn chung, mục tiêu cơ bản của chính
sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng bản tệ, trên cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã
hội.
1.5 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Để thực hiện các chính sách tiền tệ có hiệu quả thì ngoài xác định rõ ràng mục tiêu
chính sách tiền tệ phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế,thì đòi hỏi ngân hàng
Trung ương phải lựa chọn và xây dựng hệ thống công cụ chính sách tiền tệ phù hợp và
điều hành chúng một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách
tiền tệ.
Các chính sách tiền tệ được chia thành 2 loại chủ yếu: Công cụ tiền tệ gián tiếp và
công cụ tiền tệ trực tiếp.
1.5.1 Các công cụ gián tiếp
1.5.1.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHTW sử dụng các nghiệp vụ
mua, bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ mở (là thị trường tiền tệ mà ngoài các ngân
hàng còn có chính phủ, các chủ thể kinh tế phi ngân hàng tham gia mua bán) để thay đổi
cơ số tiền (MB), từ đó tác động tới lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thị trường.
11
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Điều này buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất tiền gửi để hạn chế tình trạng “phi
trung gian hoá”. Đồng thời, lãi suất của các chứng khoán mới phát hành cũng bị kích
thích tăng tương ứng.
* Đặc điểm của việc áp dụng công cụ
-
Các chủ thể có liên quan đến công cụ này bao gồm: các ngân hàng, các tổ chức tài
chính, các công ty và cả những người chuyên buôn bán chứng khoán - những
người
này sau đó sẽ bán lại chúng cho các chủ thể trên.
-
Các chứng khoán mà Ngân hàng trung ương sử dụng trong nghiệp vụ thị trường
12
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
mở thường là các
chứng khoán chính phủ, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc. Lý do là vì
các chứng
khoán này có tính lỏng cao, cho nên Ngân hàng trung ương có thể thực hiện
nghiệp vụ một cách
nhanh chóng và dễ dàng. Hơn nữa, thị trường chứng khoán chính
phủ có khối
lượng giao dịch lớn nên có khả năng tiếp nhận một lượng lớn nghiệp
vụ của
NHTW mà không làm giá trên thị trường biến động quá mạnh, dẫn đến sụp đổ
thị
trường. Ở Việt nam do thị trường chứng khoán chính phủ chưa phát triển nên
NHNN phát hành tín phiếu NHNN để điều tiết việc cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên do thị
trường loại tín phiếu này chỉ diễn ra giữa một bên là NHNN và một bên là các NHTG
nên hiệu quả điều tiết không cao, chỉ chủ yếu tác động vào dự trữ của các NHTG.
* Ưu nhược điểm của công cụ
13
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Nhờ những ưu điểm nêu trên mà nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ hữu
hiệu nhất trong các công cụ của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, việc thực hiện công cụ
này đòi hỏi sự phát triển của thị trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ
nói riêng. Ngoài ra, Ngân hàng trung ương phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự
biến động của lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng.
Tại Việt nam, nghiệp vụ thị trường mở chính thức được Ngân hàng Nhà nước đưa
vào sử dụng từ tháng 7 năm 2000.
1.5.1.2. Chính sách chiết khấu, tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các qui định về việc cho vay của Ngân hàng
trung ương đối với các ngân hàng trung gian. NHTW thường cho các ngân hàng thương
mại vay dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu
kho bạc và thương phiếu) do các ngân hàng thương mại đưa đến, bởi
vậy chính sách cho
vay của NHTW đối với các ngân hàng thương mại được gọi là chính sách tái chiết
khấu. Các ngân hàng thương mại vay từ Ngân hàng trung ương chủ yếu là nhằm giải
quyết vấn đề thiếu hụt tiền mặt tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc để bù
đắp thiếu hụt trong quỹ dự trữ bắt
buộc. Những thay đổi trong chính sách tái chiết
khấu của NHTW sẽ tác động đến khối
lượng vay chiết khấu của các ngân hàng thương
mại, từ đó ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng.
* Cơ chế tác động
NHTW thông qua việc thay đổi các qui định về hạn mức tái chiết khấu, lãi suất tái
chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động đi vay chiết
khấu từ NHTW của các ngân hàng thương mại trên hai phương diện: khối lượng và giá.
- Khối lượng vốn khả dụng được bổ sung từ NHTW có thể bị giới hạn hoặc nới
rộng căn cứ vào hạn mức tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu, từ đó ảnh hưởng
đến khả
sụp đổ ngân hàng xảy ra sẽ gây tổn
hại nghiêm trọng đến nền kinh tế do nó làm
giảm sút nghiêm trọng cung ứng tiền, đồng
thời cản trở khả năng các thị trường tài chính chuyển vốn tới những nơi có cơ hội đầu tư
sinh lời. Tuy nhiên điểm bất lợi
của chức năng này là các ngân hàng lớn có thể vì thế
mà chấp nhận nhiều rủi ro
hơn trong kinh doanh với suy nghĩ đã có NHTW đứng đằng
sau. Điều này khiến
cho các NHTW phải rất thận trọng không sử dụng quá thường
xuyên chức năng
này.
-
Chức năng thông báo: Chính sách chiết khấu còn có một chức năng khác nữa đối
với NHTW, đó là nó có thể được sử dụng để thông báo cho thị trường về ý định
của
NHTW về chính sách tiền tệ trong tương lai. Ví dụ: khi NHTW muốn ngăn ngừa nguy cơ
lạm phát bằng một chính sách lãi suất cao, nó sẽ nâng mức lãi suất tái chiết khấu lên.
Điều này cung cấp dấu hiệu về một chính sách tiền tệ thắt chặt trong tương lai. Điểm bất
lợi của chức năng này là nó có thể bị thị trường giải thích sai lệch đi. Chẳng hạn, nếu
NHTW nhận thấy rằng lãi suất tái chiết khấu đang được áp dụng quá thấp so
với mức
lãi suất thị trường, có thể dẫn đến việc các NHTG lạm dụng các khoản
vay từ NHTW
15
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
để tăng cung tín dụng làm lượng tiền cung ứng tăng mạnh không có
lợi cho nền kinh tế,
nên đã quyết định nâng lãi suất tái chiết khấu lên. Như vậy,
mục đích của việc tăng lãi
phần trăm nhất định trên
tổng số dư tiền gửi trong một khoảng thời gian nào đó. Mức
dự trữ bắt buộc được qui
định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mô
và tính chất hoạt động của
ngân hàng thương mại .
* Cơ chế tác động
16
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc và do đó mức dự trữ bắt buộc ảnh
hưởng đến
lượng tiền cung ứng theo ba cách:
- Thứ nhất, khi NHTW quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bộ phận dự trữ dư
thừa trước đây của các ngân hàng chuyển thành dự trữ bắt buộc, làm giảm khả năng cho
vay của hệ thống ngân hàng.
- Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần trong mẫu số của hệ số mở rộng
tiền gửi. Vì thế sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hệ số mở rộng
tiền
gửi và do đó là khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống ngân hàng.
- Thứ ba, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên làm giảm mức cung vốn của các ngân hàng
thương mại trên thị trường liên ngân hàng. Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng không
thay đổi,
sự giảm sút này làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó dẫn đến tăng các mức
lãi
suất dài hạn và giảm khối lượng tiền cung ứng. Quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
sẽ gây nên những ảnh hưởng ngược lại.
* Ưu nhược điểm của công cụ
- Lợi thế chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc trong việc kiểm soát lượng tiền cung
ứng là sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các
ngân hàng.
sự di
chuyển của các luồng tiền tệ của các nước khác nhau. Với ý nghĩa là tỷ lệ trao đổi
giữa
đồng tiền quốc gia này với đồng tiền quốc gia khác, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng
quan
trọng, có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự di chuyển của các luồng tiền nói
trên.Chính vì vậy, việc xác lập một tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm khuyến khích các hoạt
động kinh tế đối ngoại phát triển phục vụ cho nền kinh tế quốc gia là một nhiệm vụ quan
trọng của CSTT. Sự can thiệp nhằm tác động tới tỷ giá hối đoái được thực hiện thông
qua các hoạt động mua vào hoặc bán ra ngoại tệ của NHTW trên thị trường ngoại hối.
Mức độ can thiệp của NHTW vào sự hình thành tỷ giá hối đoái trên thị trường phụ thuộc
vào chế độ tỷ giá hối đoái (Exchange rate regime) mà quốc gia đó áp dụng. Có ba chế độ
tỷ giá hối đoái mà các nước đã và đang áp dụng:
+ Chế độ tỷ giá cố định - A fixed (hay pegged) exchange rate regime: là chế độ tỷ
giá hối đoái, trong đó NHTW buộc phải can thiệp trên thị trường ngoại hối để duy
trì tỷ
giá biến động xung quanh một mức tỷ giá cố định (gọi là tỷ giá trung tâm)
trong một
biên độ hẹp đã được định trước. Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW buộc phải
mua vào hay bán ra đồng nội tệ nhằm giới hạn sự biến động của tỷ giá trong biên độ đã
định. Chế độ tỷ giá này giảm bớt rủi ro của việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng
tiền khác do tỷ giá được cố định. Tuy nhiên ngày nay
nó ít được các nước sử dụng do
gây ra vấn đề phụ thuộc của CSTT vào các biến
động của bên ngoài và cán cân thanh
toán không thể tự động cân bằng. Hơn nữa,
để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại
18
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
hàng.
Thực tế áp dụng ở hầu hết các nước đều cho thấy đây là một công cụ cứng nhắc, dễ
gây tác động xấu tới hoạt động tiết kiệm và đầu tư. Vì vậy, nó thường chỉ được sử dụng
trong
điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, hay các yếu tố thị trường
chưa
phát triển hoàn chỉnh.
1.5.2.3. Kiểm soát hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng
19
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
phải tuân
thủ khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Mức dư nợ được qui định cho từng ngân
hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàng (cơ cấu khách hàng, mức rủi
ro), định hướng cơ cấu kinh tế tổng thể, nhu cầu tài trợ các đối tượng chính sách và nó
phải nằm trong giới hạn của tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong
một khoảng thời gian nhất định.
Công cụ này được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt động tài chính
được điều tiết chặt chẽ. Ví dụ trong trường hợp lạm phát cao, hạn mức tín dụng được sử
dụng nhằm khống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng trong trường hợp
khi các công cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường
20
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Chương II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội và việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt
Nam giai đoạn từ 1999 đến 2010
Giai đoạn 1991-2010 đã diễn ra những biến đổi quan trọng trong quá trình chuyển
đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Đây là
giai đoạn thực hiện chiến lược 10 năm 2001-2010, thời kỳ nước ta tham gia ngày càng
động hơn do những biện pháp kích cầu của Chính phủ. Nhưng nó cũng không tăng nhiều
năm so với năm 1999.
Giai đoạn 2001-2003 là giai đoạn mở đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần
thứ IX, kế hoạch 5 năm (2001-2005) đầu tiên, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 10 năm 2001-2010. Khi triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm này, thuận lợi cơ bản là
sau 15 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, thế và lực của nước ta cũng như kinh nghiệm
tổ chức quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tăng
lên đáng kể. Tuy nhiên khó khăn cũng không phải ít. Trong khi nền kinh tế nước ta còn
nhiều mặt yếu kém, kinh tế thế giới chưa ra khỏi trì trệ thì lại phải đối phó với những tác
động tiêu cực của khủng bố quốc tế liên tiếp xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới và
trong khu vực...
22
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Giai đoạn này kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao và cơ cấu kinh tế tiếp
tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác
động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Tổng sản phẩm trong nước trong những năm
1992 - 1997 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8 - 9%, đã đột ngột giảm xuống còn
5,8% vào năm 1998 và 4,8% vào năm 1999. Năm 2000 chúng ta chặn được sự giảm sút
về tốc độ tăng trưởng và năm 2001 đã đưa tổng sản phẩm trong nước tăng 6,89% và
mức lạm phát 0,8%; năm 2003 đạt tốc độ tăng 7,34%. Tính trong 3 năm 2001 - 2003
bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,06%.
Đời sống của các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện và xoá đói giảm nghèo
đạt kết quả quan trọng. Tiền lương tối thiều được điều chỉnh từ 180 nghìn đồng cuối
năm 2000 lên 210000 đồng đầu năm 2001 và 290000 dầu năm 2003, cùng với việc triển
khai nhiều chương trình xoá đói giảm nghèo nên đời sống của các tầng lớp dân cư được
cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người theo giá trị thực tế là 356,8 nghìn
đồng/người/tháng, tăng 21% so với năm 1999 trong đó khu vực thành thị đạt 625,9
nghìn đồng, tăng 21,1%; khu vực nông thôn đạt 274,9 nghìn đồng, tăng 22,2%.
- Tình hình thực hiện chính sách tiền tệ giai đoạn 1999 - 2003
sau:
Đơn vị: triệu VNĐ
Chỉ tiêu
6 tháng cuối
năm 2000
Năm
2001
Năm
2002
102 phiên 2003 (đến
16/12/2003)
Tổng
cộng
Doanh số
hoạt động
1.903,5 3.933,8 9.145,53 16.740 31.722,83
NHNN mua 1.353,5 3.313,8 7245,53 9.500 21.412,83
NHNN bán 550 620 1.900 7.240 10.310
Số phiên
giao dịch
17 48 85 102 252
24
Đề án môn học GVHD: ThS.Võ Văn Vang
Nguồn: NHNNVN
Trong năm 2002 bằng cách tiếp tục duy trì 2 phương thức giao dịch mua có kỳ hạn
và bán hẳn, NHNN đã tổ chức được 85 phiên thị trường mở, với tổng khối lượng giao
dịch 9145,53 tỷ đồng, bằng 232,48% so với năm 2001. Thông qua đó NHNN cung ứng
thêm vốn cho nền kinh tế hoặc rút bớt tiền từ lưu thông về, tạo điều kiện cho các
NHTM tham gia có hiệu quả trên thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc. Cụ thể: thông
qua 57 phiên giao dịch theo phuơng thức mua có kỳ hạn NHNN đã cung ứng 7.254,53 tỷ