đại học thái nguyên
Tr-ờng đại học KHOA HọC
NGUYN S T
THẩM ĐịNH HIV/AIDS CủA MộT Số
BệNH NHÂN ở TỉNH HòA BìNH BằNG
Kỹ THUậT SINH HọC PHÂN Tử
LUN VN THC S TON HC thái nguyên - năm 2014
đại học thái nguyên
Tr-ờng đại học KHOA HọC NGUYN S T
Khoa học - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh
Hoà Bình, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian làm
việc và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin cảm ơn các anh chị, các bạn đồng nghiệp Phòng Miễn dịch học
(Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực nghiệm và hoàn thành luận văn này.
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong
gia đình, những người bạn thân thiết nhất của tôi đã cùng chia sẻ những khó
khăn và dành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong quá trình học
tập và hoàn thành luận văn. Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên cao học Nguyễn Sĩ Tú ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và thầy giáo
hƣớng dẫn.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Sơ lƣợc về virus HIV 3
1.2. Dịch tễ học của HIV/AIDS 4
1.2.1. Tình hình nhiễm HIV trên thế giới 4
1.2.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam 8
1.3. Phân tích chiều hƣớng lây truyền HIV trong các nhóm quần thể 10
1.4. Tình hình nhiễm HIV tại khu vực tỉnh Hòa Bình 12
1.5. Cấu trúc hình thái và hệ gen của virus HIV 13
1.5.1. Cấu trúc hình thái 13
1.5.2. Cấu trúc hệ gen virus HIV 15
1.6. Các đƣờng lây truyền HIV 16
1.6.1. Lây truyền qua đƣờng tình dục 17
1.6.2. Lây truyền qua đƣờng máu 17
1.6.3. Lây truyền từ mẹ sang con 18
1.7. Chƣơng trình phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam 18
1.8. Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS 20
1.8.1. Nội dung của giám sát HIV/AIDS 20
1.8.2. Mục tiêu giám sát HIV 21
1.9. Xét nghiệm HIV 21
1.9.1. Mục tiêu xét nghiệm HIV 21
1.9.2. Các phƣơng cách xét nghiệm 21 iv
1.9.3. Các phƣơng pháp thu thập mẫu máu 22
1.10. Chƣơng trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone 22
v
3.4.3. Các yếu tố liên quan khác 45
3.5. Thẩm định virus HIV bằng phƣơng pháp sinh học phân tử 45
3.5.1. Thực hiện RT-PCR, tách dòng và thu nhận đoạn gen pol của các mẫu
HIV 46
3.5.2. Kết quả truy cập Ngân hàng gen 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ADN
Deoxyribonucleic acid
Axit Deoxyribonucleic
AIDS
Acquired Immunodeficiency
Syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải ở ngƣời
ARN
Ribonucleic acid
UBQGPC
Ủy ban Quốc gia phòng, chống
QHTD
Quan hệ tình dục
VAAC
Vietnam Administration for
HIV/AIDS Control
Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt
Nam
Viện
VSDTTW
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ƣơng
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Lũy tích nhiễm HIV từ 2009-2013 32
Bảng 3.2. Nhiễm HIV theo địa phƣơng và độ tuổi (2009-2013) 34
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm HIV theo giới tính (2009-2013) 35
Bảng 3.4. Tỷ lệ % nhiễm HIV theo giới tính từ năm 2009-2013 37
Bảng 3.5. Các trƣờng hợp nhiễm HIV theo đƣờng lây truyền từ năm 2009-2013 38
Bảng 3.6. Các trƣờng hợp nhiễm HIV theo nghề nghiệp 2009-2013 39
Bảng 3.7. Kết quả giám sát trọng điểm HIV giai đoạn 2009 - 2013 41
Hình 3.17. So sánh trình tự chuỗi nucleotide của gen pol của 8 chủng (HIV-T1;
HIV-T2; HIV-T3; HIV-T4; HIV-T5; HIV-T6; HIV-T7; HIV-T8) với các chủng
virus HIV-1 của Việt Nam và thế giới. 52
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do virus HIV gây ra sự suy giảm
miễn dịch ở ngƣời đƣợc phát hiện ở Mỹ năm 1981, đến nay đã trở thành “căn bệnh
thế kỷ” trên toàn thế giới.
Trải qua hơn 20 năm, các quốc gia trên thế giới đã và đang phải đƣơng đầu
với một đại dịch có tính chất hết sức nguy hiểm HIV/AIDS. Đại dịch HIV/AIDS là
vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nhất trên toàn cầu, ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh
tế xã hội và phát triển bền vững của nhân loại. Để có thể đối phó với dịch HIV cần
có sự kết hợp chặt chẽ của mọi quốc gia, mọi cộng đồng, mọi cá nhân và mọi lĩnh
vực của xã hội, trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ chốt [44].
Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều nơi cũng lần lƣợt công bố những trƣờng
hợp suy giảm miễn dịch trên những bệnh nhân bị mắc bệnh ƣa chảy máu đã từng
truyền máu nhiều lần, hay những ngƣời tiêm chích ma túy, sau đó virus HIV đã lan
truyền sang châu Á. Đầu những năm 90, HIV đã có mặt ở tất cả các quốc gia tại
châu lục này, thậm chí ở một số nƣớc dịch đang trên đà phát triển [16], [25], [30].
Ở Việt Nam, đại dịch HIV đã và đang lan rộng, Thủ tƣớng Chính phủ đã có
quyết định phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia phòng chống HIV/AIDS, trong đó
chƣơng trình quản lý và điều trị các nhiễm trùng lây qua đƣờng tình dục là một
trong các chƣơng trình hành động của chiến lƣợc [21].
Chỉ tính riêng trong năm 2013, về địa bàn phân bố dịch tính đến 30/11/2013,
toàn quốc đã phát hiện ngƣời nhiễm HIV tại 78% xã/phƣờng, gần 98% quận/huyện và
63/63 tỉnh/thành phố số trƣờng hợp báo cáo hiện nhiễm HIV là 216.254 trƣờng hợp, số
4. Các yếu tố liên quan tới nhiễm HIV/AIDS tại Hòa Bình.
5. Sử dụng phƣơng pháp sinh học phân tử thẩm định chính xác virus HIV tại
Hòa Bình nhằm tiến tới xây dựng phƣơng pháp PCR đa mồi trong chẩn đoán
đa nhiễm HIV/HCV/HGV trong cộng đồng ngƣời nhiễm HIV/AIDS.
Nội dung nghiên cứu
- Thu thập và đánh giá số lƣợng ngƣời nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Hòa Bình từ
năm 2009 – 2013.
- Sử dụng phƣơng pháp sinh học phân tử thẩm định virus HIV ở một số bệnh
nhân nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Hòa Bình.
3
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lƣợc về virus HIV
Virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời, viết tắt theo tiếng Anh là HIV
(Human Immunodeficiency Virus) là loại virus khi xâm nhập vào cơ thể gây hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), đó là trạng thái hệ thống miễn dịch
của cơ thể con ngƣời bị suy yếu dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội dẫn đến những
tổn thƣơng nặng do virus HIV gây ra. Trong cơ thể ngƣời bệnh, HIV tồn tại ở cả
dạng hạt virus tự do lẫn dạng virus đã bị nhiễm vào các tế bào khác của hệ thống
miễn dịch [1].
Về phân loại, HIV là một thành viên của chi Lentivirus thuộc họ Retrovirus,
đây là nhóm virus có hệ gen là ARN sợi đơn dƣơng nhƣng trong chu trình sống có
giai đoạn tồn tại dạng ADN kép do có enzym phiên mã ngƣợc (RT) mà bản chất là
ADN polymerase phụ thuộc ARN với hai type chính là HIV type 1 (HIV-1) và HIV
type 2 (HIV-2), trong đó HIV-1 gây ra 98% sự lan truyền còn HIV-2 chỉ chiếm ƣu
thế ở vùng tây châu Phi, ít lan truyền trên thế giới. Vì vậy, HIV-1 đƣợc xem nhƣ là
[30], [42].
Từ khi HIV-1 đƣợc mô tả lần đầu năm 1983 [25], [29], hai virus này đã đƣợc
xác định là nguyên nhân gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS)
trong 20 năm qua. Hai loại virus này đều làm suy giảm hệ thống miễn dịch của
ngƣời và đặt tên chung là virus HIV. Trên kính hiển vi điện tử, HIV-1 và HIV-2 có
cấu trúc gần nhƣ giống nhau hoàn toàn. Chúng chỉ khác nhau ở trọng lƣợng phân tử
của các protein cũng nhƣ các gen phụ trợ. HIV-2 gần hơn về mặt di truyền với SIV
ở các con khỉ sooty mangabey (SIVsm) và rất có khả năng HIV-2 đƣợc truyền sang
ngƣời từ khỉ [28], [32].
Virus HIV-1 và HIV-2 đều nhân bản trong tế bào T nhóm CD4 và đều gây
bệnh ở ngƣời, mặc dù mức độ suy giảm miễn dịch do HIV-2 gây ra là ít hơn. Nhóm
virus này gây ung thƣ cho ngƣời và động vật. Nhiễm HIV gây suy giảm miễn dịch,
làm mất sức đề kháng của cơ thể, cuối cùng dẫn tới bệnh lý nhiễm trùng cơ hội của
bệnh lý ung thƣ (giai đoạn AIDS (Acquired Immunodeficiency Syndrome) và tử
vong. Thời gian trung bình từ khi nhiễm HIV đến khi tiến triển thành AIDS khoảng
10 năm. Một số bệnh nhân có thể tiến triển nhanh đến AIDS trong vòng vài tháng.
Một số khác (5%) có thể kéo dài 15 đến 20 năm vẫn không có các triệu chứng
AIDS và số lƣợng tế bào CD4 không giảm. Do đó, bệnh nhân dễ bị một số loại ung
thƣ và nhiễm trùng cơ hội mà bình thƣờng có thể đề kháng đƣợc. Thuật ngữ AIDS 5
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) đƣợc dùng để chỉ giai đoạn muộn hơn
của bệnh HIV.
Năm 1985: Thử nghiệm đầu tiên để tìm kháng thể HIV đƣợc áp dụng sử
dụng các sinh vật phẩm để phát hiện kháng thể HIV bằng kỹ thuật ELISA.
Năm 1986: Có hơn 38.000 trƣờng hợp AIDS trên 85 quốc gia trên thế giới.
Hệ thống toàn cầu ngƣời nhiễm HIV/AIDS đƣợc thành lập
Năm 1987: WHO phát động Chƣơng Trình Toàn cầu chống nhiễm HIV/AIDS.
Thuốc trị bệnh AIDS đầu tiên Zidovudine (AZT) đƣợc dùng ở Hoa Kỳ. [31].
Mục tiêu 1: Cách mạng hóa công tác phòng chống HIV. Loại bỏ nhiễm HIV
mới ở trẻ em. Hỗ trợ giai đoạn tiếp theo của việc điều trị, chăm sóc. Cung cấp dịch
vụ toàn diện và thích hợp cho các nhóm đối tƣợng.
Mục tiêu 2: Tăng cƣờng liên kết giữa các chƣơng trình HIV và các chƣơng
trình y tế khác.
Mục tiêu 3: Tăng cƣờng sáu khối xây dựng của hệ thống y tế [44].
Mục tiêu 4: Thúc đẩy bình đẳng giới và loại bỏ các chuẩn mực giới có hại;
Nâng cao quyền con ngƣời và thúc đẩy bình đẳng sức khỏe; Đảm bảo sức khỏe
trong tất cả các chính sách, pháp luật và các quy định [46], [47].
Kể từ khi ca bệnh đầu tiên đƣợc xác định vào năm 1981, số tử vong vì bệnh
lên tới trên 25 triệu ngƣời. Theo WHO, nếu không có biện pháp ngăn chặn, số tử
vong vì AIDS tăng gấp đôi vào năm 2020. Chỉ trong vòng hơn 30 năm, bệnh đã lan
truyền từ một số điểm nóng tại vài quốc gia tới hầu nhƣ mọi nơi trên thế giới Bệnh
đã gây rất nhiều trở ngại cho nhiều quốc gia trong việc giảm thiểu nghèo đói, nâng
cao giáo dục, thúc đầy bình đẳng nam nữ, giảm tử vong ở trẻ em và chấn chỉnh sức
khỏe các bà mẹ.
Nhiễm HIV/AIDS ở nam giới: 67% do giao hợp nam/nam; 15% giao hợp dị
tính; 13% do dùng cần sa ma túy. Nhiễm HIV/AIDS ở nữ giới: 80% do giao hợp
không an toàn, 19% do dùng cần sa ma túy [6].
Năm 2007, ngân sách liên bang dành cho các chƣơng trình HIV/AIDS là 22.8
tỷ USD, chia ra 18.9 tỷ cho điều trị chăm sóc, trợ cấp tài chính- nhà ở, phòng chống,
nghiên cứu tại nội địa Hoa Kỳ và 3.9 tỷ hỗ trợ cho các quốc gia khác trên thế giới.
Hầu nhƣ mọi ngƣời bệnh tại Hoa Kỳ đều đƣợc điều trị với thuốc đặc trị ARV
do chƣơng trình bảo trợ y tế liên bang hoặc tiểu bang, bảo hiểm tƣ nhân đài thọ…
nên họ có thể sống lâu hơn và đời sống của họ cũng đƣợc bảo đảm một cách tƣơng
đối. Trung bình, chi phí thuốc đặc trị cho mỗi bệnh nhân/ năm là 12.000 USD. 7
Một điều đáng lƣu ý là, ngay tại Hoa Kỳ với phƣơng tiện truyền thông rộng
8
Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV sẽ làm giảm tác dụng của
những ứng phó đối với dịch, khiến nhiều ngƣời không tiếp cận đƣợc với các dịch vụ
quan trọng. Sự phân biệt đối xử sẽ khiến ngƣời sống chung với HIV ít có cơ hội tiếp
cận hơn với việc làm, nhà ở, bảo hiểm, các dịch vụ xã hội, giáo dục, y tế và các
quyền thừa kế. Ở một số nƣớc, thành kiến nặng nề với ngƣời sống với HIV thƣờng
xảy ra khi họ tìm đến các dịch vụ y tế. Những ngƣời thuộc diện có nguy cơ cao
cũng hay bị phân biệt đối xử, tách ra ngoài lề và thậm chí còn bị coi là tội phạm ở
một số quốc gia.
1.2.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
Trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện tháng 12 năm 1990 ở thành
phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 12 năm 1992 phát hiện thêm 11 ca nhiễm mới. Số
ngƣời nhiễm HIV đƣợc phát hiện tăng mạnh vào những năm 1993-1994 cùng với sự
tăng cƣờng khả năng giám sát và xét nghiệm phát hiện. Phần lớn các trƣờng hợp
nhiễm thuộc nhóm nghiện chích ma túy nhƣng lây nhiễm HIV qua đƣờng tình dục
ngày càng tăng đặc biệt thông qua hoạt động mua bán dâm. Việt Nam đang ở giai
đoạn dịch tập trung, có tỷ lệ nhiễm HIV còn thấp ở nhóm quần thể dân cƣ và cao
trong một số nhóm nhƣ nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm [8].
Theo báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định
hƣớng kế hoạch năm 2014, tính đến hết 30/11/2013, số trƣờng hợp báo cáo hiện
nhiễm HIV là 216.254 trƣờng hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và đã có 68.977
trƣờng hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 248
ngƣời trên 100.000 dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phƣơng có tỷ lệ nhiễm HIV trên
100.000 dân cao nhất cả nƣớc (1029), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (682), thứ
3 là Thái Nguyên (632). Trong 11 tháng đầu năm 2013, cả nƣớc xét nghiệm phát
hiện mới 11.567 trƣờng hợp nhiễm HIV, trong đó 5.493 bệnh nhân AIDS; báo cáo
có 2.097 ngƣời tử vong do AIDS. 10 tỉnh có số trƣờng hợp xét nghiệm mới phát
hiện dƣơng tính lớn nhất trong 11 tháng đầu năm 2013, bao gồm TP. Hồ Chí Minh
Kết quả giám sát phát hiện cho thấy, tỷ lệ ngƣời nhiễm HIV là ngƣời nghiện
chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu, đang có xu hƣớng giảm dần từ 2008 đến 2012, tuy
nhiên trong năm 2013, tỷ lệ ngƣời nhiễm HIV đƣợc phát hiện báo cáo là ngƣời
nghiện chích ma tuý có tăng nhẹ, chiếm 39,2%. Ngƣợc lại, trong gia đoạn từ 2007
đến 2012, tỷ lệ ngƣời nhiễm HIV đƣợc phát hiện là đối tƣợng tình dục khác giới có
xu hƣớng gia tăng, tuy nhiên, trong năm 2013 phân bố ngƣời nhiễm HIV đƣợc phát
hiện và báo cáo là đối tƣợng tình dục khác giới giảm còn 18%. Các nhóm còn lại
chiếm một tỷ lệ thấp. 10
1.3. Phân tích chiều hƣớng lây truyền HIV trong các nhóm quần thể
a) Nhóm nghiện chích ma túy
Năm 2013 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tiếp
tục có xu hƣớng giảm, năm 2012 tỷ lệ này là 10,3% giảm 1,3% so với năm 2012
(giảm 11,6%). Tất cả các vùng trong cả nƣớc tỷ lệ nhiễm % HIV trong nhóm nghiện
chích ma túy đều giảm, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy
có sự khác nhau giữa các khu vực. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma
túy tập trung cao ở các tỉnh ở khu vực ở Miền núi Phía bắc và đồng bằng Bắc bộ và
Tp. Hồ Chí Minh (Thái Nguyên 32%; Lai Châu 27,7%; Hà Nội 24%; Quảng Ninh
22,4%; thành phố Hồ Chí Minh 18,24%; Cao Bằng 17,2%; Lạng Sơn 15,6%; Hải
Phòng 14,67%; Sơn La 14,3%) [3].
b) Nhóm phụ nữ bán dâm
Theo kết quả sơ bộ giám sát trọng điểm năm 2013, tỷ lệ hiện nhiễm HIV
trong nhóm phụ nữ bán dâm là 2,6% (giảm 0,1% so với năm 2012). Tỷ lệ này có sự
khác nhau ở các khu vực, ở các tỉnh đồng bằng bắc bộ tỷ lệ này chiếm 4,9%, khu
vực miền núi phía bắc là 2,2%, các tỉnh miền đông nam bộ là 2,8%, các tỉnh bắc
trung bộ là 2,2%, khu vực đồng bằng sông cửu long là 2,5%, khu vực tây nguyên
0,4%, khu vực duyên hải miền trung 0,8%.
Các tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm cao là thành phố
việc lây truyền HIV tại những tỉnh thành phố có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm
phụ nữ MD cao [2].
Khoảng 2% nam giới có quan hệ tình dục với nam (MSM) nhiễm HIV trong
giai đoạn 2007- 2012 [2]. Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm thấp, nhƣng với kích cỡ quần thể
lớn, nhóm quần thể này sẽ đóng vai trò quan trọng trong hình thái dịch HIV tại Việt
Nam. Điều cần lƣu ý là nguồn số liệu đƣợc sử dụng cho các ƣớc tính ở nhóm này
không phong phú bằng các nhóm khác, cùng với đó là chiều hƣớng tăng lên nhanh
chóng của dịch HIV trong nhóm MSM ở các tỉnh, thành khác có thể đang xuất hiện
ở Việt Nam.
Trong thời gian qua, nhờ những hoạt động can thiệp của dự án phòng chống
HIV/AIDS nên tỷ lệ nhiễm HIV của Việt Nam đã giảm từ 25% (2006) xuống còn
hơn 12% (2012). Dự án phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam có tổng kinh phí gần
66 triệu USD, do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ và một phần vốn đối ứng của
chính phủ Việt Nam, đƣợc triển khai ,tại 32 tỉnh và thành phố, từ tháng 6/2005 và
kết thúc vào tháng 12/2013 [5], [15], [16].
Mặc dù chiều hƣớng dịch HIV tại nhiều nhóm quần thể nguy cơ cao trên
toàn quốc có xu hƣớng ổn định, tuy nhiên số lƣợng ngƣời nhiễm HIV vẫn tiếp tục
gia tăng cho thấy vẫn tiếp tục có các trƣờng hợp nhiễm mới, trong đó lây truyền từ
nhóm nam giới có nguy cơ cao sang vợ hoặc bạn tình thƣờng xuyên của họ sẽ đóng
một vai trò quan trọng. Hình thái lây truyền HIV qua đƣờng tình dục tăng và có xu
hƣớng ngày càng cao hơn so với việc lây truyền qua đƣờng máu. Ngƣời nhiễm tập
trung chủ yếu trong nhóm tuổi từ 30-39, tỷ lệ nữ nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng 12
trong những năm gần đây. Dịch HIV/AIDS cũng gia tăng ở các huyện khu vực miền
núi, vùng sâu, vùng xa ở một số tỉnh Tây Bắc, tây Thanh Hóa, Nghệ An
Tại khu vực Tây Bắc, mặc dù nguồn số liệu chƣa đầy đủ, có thể thấy dịch
HIV đang gia tăng một cách nhanh chóng ở tất cả các nhóm trong cộng đồng, khởi
phát từ dịch HIV trong những ngƣời NCMT.
13
1.5. Cấu trúc hình thái và hệ gen của virus HIV
1.5.1. Cấu trúc hình thái
Virus HIV-1 là thành viên của họ Retrovirus thuộc nhóm hỗn hợp các virus
có hệ gen ARN chuỗi đơn và enzym phiên mã ngƣợc. Chức năng của enzym phiên
mã ngƣợc là sao chép ARN hệ gen virus thành ADN chuỗi kép, đó là một pha đặc
biệt trong chu kỳ sống của Retrovirus. HIV là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh
Human Immuno-deficiency Virus (Virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời). AIDS là
tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Acquired Immuno Deficiency Syndrom (Hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời).
Về phân loại, HIV gồm hai type chính là HIV type 1 (HIV-1) và HIV type 2
(HIV-2), trong đó HIV-1 gây ra 98% sự lan truyền còn HIV-2 chỉ chiếm ƣu thế ở
vùng tây châu Phi, ít lan truyền trên thế giới. Vì vậy, HIV-1 đƣợc xem nhƣ là
nguyên nhân chính gây nên AIDS [1]. HIV-1 đƣợc chia thành 3 nhóm là M (main),
O (outlier), nhóm N (new), trong đó hơn 90% sự lây nhiễm của HIV thuộc nhóm M.
Trong nhóm M gồm các phân nhóm A, B, C, D, F, G, H, J, K và nhiều dạng tái tổ
hợp khác (circulating recombinant form - CRF). Các phân nhóm khác nhau chủ yếu
ở cấu trúc của các protein vỏ và đặc trƣng cho sự truyền nhiễm theo khu vực địa lý.
Đây là một đặc điểm đáng lƣu ý trong các nghiên cứu để tìm ra thuốc điều trị cho
các bệnh nhân HIV/AIDS theo từng khu vực [12].
Hình 1.1A: Virus HIV nhìn dƣới kính
hiển vi điện tử truyền qua (TEM).
Nguồn:
Hình 1.1B: Mô hình cấu trúc virus HIV
Nguồn: www.shutterstock.com
hợp ADN 2 sợi. Đoạn cuối hai đầu của ADN mới tạo này có khả năng gắn đƣợc ổn
định vào nhiễm sắc thể ADN của tế bào và trở thành 1 tiền virus. Tiền virus này sẽ 15
nhƣ một gen của tế bào bị nhiễm virus và có thể tồn tại thầm lặng không phát triển
và truyền sang cho thế hệ tế bào sau khi có phân bào. Virus cũng có thể nhờ enzym
ribonuclease của tế bào nhiễm để tạo ra ARN thông tin giúp tạo ra các protein của
virus hoàn chỉnh. Đây là một đặc trƣng của HIV và gây khó khăn cho việc sản xuất
các thuốc để tiêu diệt HIV khi virus xâm nhiễm trong tế bào và lại gắn vào ADN
của tế bào. Tính biến đổi gen của HIV là rất lớn vì vậy gây khó khăn cho việc phát
triển các vắc xin phòng HIV cũng nhƣ sản xuất thuốc điều trị [28].
1.5.2. Cấu trúc hệ gen virus HIV
Hệ gen của HIV-1 nằm trong phần lõi của virus và bao gồm hai sợi ARN (+)
đơn, mỗi sợi có chiều dài khoảng 9,8 kb và có 9 gen mã hóa cho 15 protein khác
nhau (Hình 1.2).
Trên mỗi sợi ARN có 3 gen cấu trúc là gag, pol và env; trong đó gag có
nghĩa “group-antigen” (kháng nguyên nhóm), pol là “polymerase” và env là
“envelope” (vỏ). Các gen gag và env mã hóa cho nucleocapsid và glycoprotein của
màng virus; gen pol mã hóa cho 3 enzym: reverse transcriptase, integrase và
protease. Ngoài ra, HIV-1 còn có 6 gen (vif, vpu, vpr, tat, rev và nef) ở vùng ARN
khoảng 9 kb [35].