S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN & TRUYỀN THÔNG HÀ THỊ THU HIỀN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ RA QUYẾT ĐỊNH
ỨNG DỤNG TRONG TƯ VẤN
HỌC ĐƯỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH
Thái Nguyên - 2013
S
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
Tư vấn tâm lý học đường là hình thức trợ giúp tâm lý đắc lực không
những cho học sinh mà còn cho các lực lượng giáo dục khác từ ban giám hiệu,
giáo viên, giám thị Quá trình hoạt động tư vấn tâm lý học đường giúp học sinh
gặp khó khăn trong các vấn đề tâm lý khác nhau nảy sinh trong học tập, trong
hoạt động hướng nghiệp, trong các mối quan hệ (với bạn bè, thầy, cô giáo,
người thân ) ở bất kỳ thời điểm nào.
Ở phần lớn các trường học hiện nay vấn đề trợ giúp tâm lý học đường
vẫn chưa được chú trọng. Hoạt động trợ giúp tâm lý rất ít được tổ chức ở trường
cho nên mỗi khi gặp khó khăn về tâm lý các em chủ yếu tâm sự với bạn bè, một
số ít thì tâm sự với cha mẹ hoặc không nói với ai, thậm chí giải quyết sự việc
một cách tiêu cực. Điều đó cho thấy, các em thật sự cần một người đáng tin cậy
và có chuyên môn để chia sẻ tâm sự hoặc trợ giúp các em tìm cách thức giải
quyết các vấn đề một cách tốt nhất.
Liên quan đến hệ thống trợ giúp, người ta quan tâm đến hệ thống thông
tin. Hệ này có một vai trò quan trọng cho việc ra quyết định quản lý hệ thống.
Trong thời đại ngày nay sự bùng nổ của công nghệ thông tin làm cho nhu cầu có
được thông tin chính xác, đầy đủ kịp thời cho việc ra quyết định quản lý là
không thể thiếu được. Hỗ trợ quyết định quản lý thuộc phạm trù các công nghệ
hỗ trợ quản lý. Do đó tầm quan trọng của việc hỗ trợ quản lý gắn liền với tầm
quan trọng của hệ hỗ trợ quyết định. Một quyết định kịp thời, đúng đắn sẽ đẩy
công tác quản lý nói chung tiến triển tốt. Do đó việc nghiên cứu và tìm ra một
phương pháp có tính chất tương đối phổ biến cho các dạng quyết định là công
việc của hệ hỗ trợ quyết định mà ta sẽ đề cập tới trong luận văn này.
Khái niệm về Hệ trợ giúp quyết định DSS (Decision Support System)
lần đầu tiên được Scott Morton đưa ra vào đầu năm 1970, ông định nghĩa là “các
1.1.1. Khái niệm hệ hỗ trợ ra quyết định
Trong thập niên 1970, Scott Morton đưa ra khái niệm đầu tiên về Hệ hỗ
trợ ra quyết định (Decision Support System – DSS). Ông định nghĩa DSS như là
những hệ thống máy tính tương tác nhằm giúp những người ra quyết định sử
dụng dữ liệu và mô hình để giải quyết các vấn đề không có cấu trúc.
Hệ hỗ trợ ra quyết định là các hệ dựa trên máy tính, có tính tương tác,
giúp các nhà ra quyết định dùng dữ liệu và mô hình để giải quyết các bài toán
phi cấu trúc (S. Morton, 1971)
DSS kết hợp trí lực của con người với năng lực của máy tính để cải tiến chất
lượng của quyết định. Đây là các hệ dựa vào máy tính hỗ trợ cho người ra quyết
định giải các bài toán nửa cấu trúc (Keen and Scott Morton, 1978)
DSS là tập các thủ tục dựa trên mô hình nhằm xử lý dữ liệu và phán đoán
của con người để giúp nhà quản lý ra quyết định (Little, 1970)
Cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất về DSS, tuy nhiên tất cả đều
đồng ý mục đích cơ bản nhất của DSS là để hỗ trợ và cải tiến việc ra quyết định
Một số khái niệm về DSS theo thời gian:
Bảng 1.1. Tiến trình phát triển các chức năng của DSS
Thời gian
Các chức năng của DSS
1970
Chức năng hệ thống, đặc tính giao tiếp (Little)
1980
Mục tiêu hệ thống, khuôn mẫu sử dụng (Alter)
1980
Quá trình phát triển (Keen)
1980
Năng lực hệ thống, khuôn mẫu sử dụng (Moore and Chang)
1989
Thành phần hệ thống (Bonczek và các cộng sự)
Tiến trình phát triển các chức năng của DSS thay đổi từ nhận thức DSS
Năm 1980, Moore & Chang cho rằng tính cấu trúc trong cá định nghĩa trước
đây không thực sự có ý nghĩa vì rằng bài toán mô tả là có cấu trúc hay phi cấu trúc
chỉ tương ứng theo người ra quyết định và tình huống cụ thể. Vì vậy, nên định
nghĩa DSS như là hệ thống hỗ trợ các mô hình quyết định và phân tích dữ liệu tùy
biến, được sử dụng ở các khoảng thời gian bất kỳ, không hoạch định trước.
Năm 1980, Bonezek cho rằng DSS là một hệ máy tính gồm 3 thành phần
tương tác với nhau: hệ thống ngôn ngữ (cơ chế để giao tiếp giữa người dùng và
các thành phần khác), hệ kiến thức (kho lưu trữ các kiến thức của lĩnh vực đang
xét dưới dạng dữ liệu hay thủ tục) và hệ xử lý vấn đề (liên kết giưa 2 thành phần
kia, chứa một hay nhiều năng lực xử lý vấn đề tổng quát cần để ra quyết định)
Năm 1980, Keen áp dụng thuật ngữ DSS cho các tình huống ở đó hệ
thống cuối cùng chỉ có thể được xây dựng bằng một quá trình thích nghi về
nghiên cứu và tiến hóa. Vì vậy, DSS là sản phẩm của quá trình phát triển ở đó
người dùng hệ thống, người xây dựng hệ thống và bản thân hệ thống có khả
năng ảnh hưởng lên nhau gây ra một tiến hóa và khuôn mẫu sử dụng.
1.1.2. Lý do sử dụng DSS
a) Một số vấn đề của Nhà trường trong quá trình đào tạo và quản lý sinh viên
Đào tạo nhiều bậc học và theo nhiều hình thức
Số lượng sinh viên lớn
Khó nắm bắt tâm lý, tâm tư nguyện vọng của sinh viên
Nhà trường chưa có cố vấn về học tập cũng như về tâm lý
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Mới chuyển đổi từ hình thức đào tạo niên chế sang tín chỉ đối với bậc
Đại học
Cần có một hệ thống trợ giúp cho sinh viên trong việc lựa chọn môn học
cũng như giải quyết các vấn đề tâm lý.
b) Lý do sử dụng DSS
Chi phí
Giảm công việc hành chính, tiết kiệm chi phí hành
chính
Quyết định
Đưa ra quyết định tốt hơn
Khả năng làm việc
Theo nhóm
Thời gian
Tiết kiệm
Nguồn tài nguyên
Sử dụng tài nguyên tốt hơn
Bảng 1.3. Các thuận lợi của hệ DSS S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
d) Năng lực của hệ hỗ trợ ra quyết định
DSS
Bài toán nửa phi cấu trúc
(1)
Cho các nhà quản lý
các cấp (2)
Cho nhóm & cá nhân
(3)
Quyết định liên
thuộc/tuần tự (4)
Hỗ trợ tìm kiếm, thiết
kế, chọn lựa (5)
Đưa ra các quyết định
hỗ trợ phong phú (6)
Khả năng thích nghi
và linh hoạt (7)
Tích hợp và kết nối
WEB (14)
Truy vấn dữ liệu (13)
Mô hình hóa & phân
tích (12)
Tích hợp người sử
dụng cuối (11)
Yếu tố con người (10)
Khả năng sử dụng (9)
Tính tương tác cao (8)
Hình 1.5. Các thành phần của Hệ hỗ trợ ra quyết định
Quản lý dữ liệu (Data Management) gồm một cơ sở dữ liệu (Database)
chứa các dữ liệu cần thiết của tình huống và được quản lý bởi một hệ quản trị cơ Quản lý
dữ liệu
Dữ liệutrong
Các hệ thống máy
cầu của công ty, dùng bởi nhiều người (vị trí), đơn vị chức năng và ở các ứng
dụng khác nhau
CSDL của DSS có thể lấy từ kho dữ liệu, hoặc được xây dựng theo yêu
cầu riêng. Dữ liệu được trích xuất từ các nguồn bên trong và bên ngoài tổ chức.
Dữ liệu bên trong thường là quá trình xử lý giao tác (TPS – Transaction
Processing System) của tổ chức, có thể ở các đơn vị chức năng khác nhau.
Dữ liệu bên ngoài thường gồm các dữ liệu về ngành công nghiệp, nghiên
cứu thị trường, kinh tế quốc gia … có nguồn gốc từ các tổ chức chính phủ, các
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
hiệp hội thương mại, công ty nghiên cứu thị trường… hay từ sự nỗ lực tự thân
của công ty.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: Các DSS trang bị hệ quản trị cơ sở dữ liệu tiêu
chuẩn (thương mại) có khả năng hỗ trợ các tác vụ quản lý. Chúng có khả năng
duyệt xét các bản ghi dữ liệu, tạo lập và duy trì các quan hệ dữ liệu, tạo sinh báo
cáo theo nhu cầu… Tuy nhiên, sức mạnh thực sự của các DSS chỉ xuất hiện khi
tích hợp dữ liệu với các mô hình của nó. Phương tiện truy vấn được sử dụng
trong quá trình xây dựng và sử dụng DSS.
Quản lý mô hình (Model Management) còn được gọi là hệ quản trị cơ sở
mô hình (MBMS – Model Base Management System) là gói phần mềm gồm các
thành phần về thống kê, tài chính, khoa học quản lý hay các phương pháp định
lượng nhằm trang bị cho hệ thống năng lực phân tích, cũng có thể có các ngôn
ngữ mô hình hóa. Thành phần này có thể kết nối với các kho chứa mô hình của
công ty hay ở bên ngoài. Bao gồm các mô hình đưa ra quyết định (DSS Model)
và việc quản lý các mô hình đó
Một số ví dụ của các mô hình này bao gồm:
Mô hình nếu thì
Mô hình tối ưu
Ngôn ngữ mô hình hóa Các mô hình (cơ sở mô hình)
Chiến lược, chiến thuật, vận hành
Thống kê, tài chánh, tiếp thị
Giao diện cơ sở dữ liệu
Các khối xây dựng mô hình Đối tƣợng
mô hình
Bộ xử lý lệnh, tích
hợp và thực thi
mô hình
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Quản lý dựa vào kiến thức có thể hỗ trợ các quá trình khác hay hoạt động
độc lập nhằm đưa các quyết định tốt. Nó cũng có thể được kết nối với các kho
dữ liệu khác của tổ chức.
Cung cấp khả năng cần để giải quyết một vài khía cạnh của bài toán và
tăng cường năng lực vận hành của các thành phần khác của DSS
Năm 1995, Silverman đề nghị 3 cách tích hợp các hệ chuyên gia dựa trên
kiến thức với mô hình toán:
Trợ giúp quyết định dựa trên kiến thức – giúp hỗ trợ các bước của quá
trình quyết định không giải quyết được bằng toán
Các hệ mô hình hóa quyết định thông minh – giúp người dùng xây dựng,
áp dụng và quản lý thư viện các mô hình
Quản lý dữ
liệu
Quản lý dựa trên
kiến thức
Quản lý mô hình và
hệ quản trị cơ sở
mô hình Quản lý dữ liệu và
hệ quản trị cơ sở
dữ liệu
Quản lý giao diện
ngƣời dùng
Bộ xử lý ngôn ngữ
tự nhiên
Nhập
Các ngôn ngữ
hành động
Xuất
Các ngôn ngữ
hiển thị
Kiểm tra (Monitoring)
So sánh dữ liệu thu lượm được với dữ liệu chuyên
môn để đánh giá hiệu quả
Lập kế hoạch
(Planing)
Lập kế hoạch sản xuất theo yêu cầu
Dự đoán (Prognosis)
Dự đoán hậu quả từ một tình huống xảy ra
Chữa trị (Remedy)
Chỉ định cách thụ lý một vấn đề
Điều khiển (Control)
Điều khiển một quá trình, đòi hỏi diễn giải, chuẩn
đoán, kiểm tra, lập kế hoạch, dự đoán và chữa trị
1.2. Các vấn đề trong bài toán tư vấn
1.2.1. Các khái niệm chung
Tư vấn (Mentoring) là một quá trình tăng cường việc học liên quan đến sự
phát triển của công việc, sự nghiệp hoặc chuyên môn. Tư vấn thường thông qua
kênh giao tiếp không chính thống giữa một người được cho là có kiến thức liên
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
quan rộng hơn, hiểu biết hơn, hoặc có kinh nghiệm hơn („người hướng dẫn‟) và
một người được cho là ít kiến thức liên quan hơn, ít hiểu biết hơn hoặc có ít kinh
nghiệm hơn („người được hướng dẫn‟/người được đào tạo, học viên).
Tư vấn qua mạng (E-mentoring) là một phương tiện qua đó duy trì mối
quan hệ hướng dẫn (a guided mentoring relationship) sử dụng các công cụ trực
tuyến hoặc thư điện tử. Đó là mối quan hệ giữa người hướng dẫn và người được
hướng dẫn, giao tiếp thông qua phương tiện điện tử. Tư vấn qua mạng nhằm mục
đích nâng cao kiến thức, kỹ năng, sự tự tin và hiểu biết văn hóa của người được
2.1. Tìm hiểu chương trình tư vấn
Chương trình tư vấn (eMentor Pro) đã và đang giúp cung cấp tư vấn an
toàn trên internet cho những người trẻ và dễ bị tổn thương từ năm 2002 và được
mở rộng về chuyên môn để tư vấn bao gồm các lĩnh vực giáo dục, xã hội và tư
vấn doanh nghiệp.
Tư vấn cho phép những người có kỹ năng hoặc trong lĩnh vực cụ thể hoặc
trong kỹ năng sống để giúp những người có ít kinh nghiệm, khi họ làm việc để thiết
lập nguyện vọng của mình và làm thế nào họ có thể đạt được mục tiêu của họ .
eMentor Pro tạo điều kiện cho các mối quan hệ bằng cách cho phép giao
tiếp an toàn và an toàn mà không có sự hạn chế về thời gian và địa lý .
Ưu điểm của chương trình tư vấn:
Nó có thể được thực hiện bất cứ nơi nào
Nó có thể được thực hiện bất cứ lúc nào
Nó khuyến khích thông tin phản hồi trung thực
Cả hai cố vấn và mentees có thời gian để đưa ra câu hỏi và xem câu
trả lời
Không cần điều phối thời gian cho việc cố vấn
Ghi lại được các sự kiện của quá trình tư vấn
Báo cáo hoạt động có thể được tạo ra theo yêu cầu
kết hợp với mặt đối mặt .
Chương trình tư vấn được thiết kế để:
Bảo vệ mentee
Truy cập dễ dàng
Mạnh mẽ và đơn giản
Giảm bớt công việc điều phối viên
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
đào tạo
Số lượng các trường đại học ngày càng nhiều
Nhu cầu của người học
Trình độ giảng viên
Trình độ của sinh viên
Các yếu tố khác bên ngoài Thực tế cho thấy trong quá trình học tập sinh viên gặp phải rất nhiều
những vấn đề khó khăn như: lựa chọn môn học sao cho phù hợp với năng lực mà
vẫn đảm bảo tiến độ, chưa có phương pháp học tập phù hợp để đạt kết quả học
tập tốt, chưa biết cách tự học, không có kỹ năng về làm bài tập lớn, viết báo cáo
môn học, làm tiểu luận
Quan hệ tình cảm cũng là một vấn đề gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá
trình học tập của sinh viên cũng như khó khăn trong công tác quản lý sinh viên
của Nhà trường
Các em sinh viên chủ yếu trong độ tuổi tâm sinh lý phát triển đầy đủ
nhưng lại chưa được trang bị kiến thức về giáo dục giới tính cũng như hiểu biết
về xã hội nên thường khi mắc phải những khó khăn trong quan hệ bạn bè, quan
hệ tình cảm thì không biết phải nhờ sự giúp đỡ từ đâu.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
Hình 2.2. Chức năng tƣ vấn về tài liệu
Tình trạng bạo lực trong trường học đã và đang diễn ra nóng bỏng trên
khắp thế giới ở tất cả những cấp học, lớp học khác nhau. Bạo lực học đường
lại một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho
người khác. Bắt nạt là đặc trưng của một cá nhân hành xử theo một cách nào đó
để đạt được quyền lực trên người khác”.
Một khái niệm khác cho rằng: bạo lực học đường là bất kỳ hình thức hoạt
động bạo lực hoặc các hoạt động bên trong các cơ sở trường học. Nó bao gồm
các hành vi bắt nạt, lạm dụng thân thể, lạm dụng bằng lời nói, ẩu đả, bắn,…
Bắt nạt và lạm dụng vật chất là những hình thức phổ biến nhất của bạo lực có
liên quan đến bạo lực học đường.
Mặc dù, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất trong giới nghiên
cứu, tuy nhiên, với những định nghĩa như vậy chúng ta có thể hiểu: bạo lực học
đường là những hành vi cố ý, sử dụng vũ lực hoặc quyền lực của học sinh hoặc
giáo viên đối với những học sinh, giáo viên hoặc những người khác và ngược lại.
Đó có thể là những hành vi bạo lực về thể xác, bạo lực về tinh thần, bạo lực về
tình dục, bạo lực ngôn ngữ, những bắt ép về tài chính hoặc những hành vi khác có
thể gây ra nhưng tổn thương về mặt tinh thần hoặc thể xác cho người bị hại.
b. Hậu quả nghiêm trọng từ bạo lực học đường
* Ảnh hưởng đến bản thân học sinh
Cả nạn nhân lẫn kẻ thực hiện hành vi bạo lực đều có hậu quả không hay.
Trong nhiều vụ bạo lực được nói tới, không ít những vụ bạo lực đã gây ra những
hậu quả nghiêm trọng về mặt thể xác. Nhẹ nhàng có thể là những vết bầm tím
nhưng cũng có thể là những thương tích nặng phải vào bệnh viện điều trị. Tồi tệ
hơn khi không ít vụ bạo lực đã cướp đi sinh mạng của những học sinh vô tội để
lại sự thiệt thòi, đau đớn không chỉ về mặt thể xác mà cả tinh thần cho học sinh và
gia đình.
Những đứa trẻ bị bạo lực, nhất là bạo lực về tinh thần, bạo lực ngôn ngữ
thường cảm thấy bị tổn thương, chán nản, lo âu, cô đơn, suy sụp… Sự sợ hãi
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
18
quả tốt nhất có thể. Thậm chí, sự căng thẳng quá mức về mặt tâm lý có thể buộc
học sinh kết thúc việc học của mình, hoặc cũng có thể vì gây ra hành vi bạo lực
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
19
mà học sinh phải nhận kỷ luật đuổi học. Từ đó, tương lai của các em rẽ sang một
bước ngoặt khác không mấy khả quan.
*Ảnh hưởng đến gia đình
Những hành vi bạo lực học đường của học sinh sẽ không thể làm cho các
bậc phụ huynh vừa lòng. Nếu con đánh nhau với bạn, bị nhà trường xử phạt, bị
cha mẹ nạn nhân lên tiếng thì cách xử lý phổ biến nhất được các bậc cha mẹ lựa
chọn là chửi mắng, trách móc, thậm chí là đánh đập con mình. Điều đó đồng
nghĩa với việc họ gieo thêm vào đứa con của mình nỗi bực tức và làm nảy sinh
mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái. Không khí gia đình sẽ trở nên căng thẳng
hơn nếu như cha mẹ cứ đổ lỗi cho nhau về việc quản lý và giáo dục con. Không
ai chịu nhận lỗi về mình, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn với nhau chỉ vì con cái.
Không những thế nếu những hành vi bạo lực của học sinh để lại hậu quả nghiêm
trọng về mặt thể xác thì gia đình phải mất thêm một khoản tài chính lớn để giải
quyết hậu quả. Đó là chưa kể, gần đây có những vụ bạo lực học đường đã dẫn
tới những cái chết thương tâm của những em học sinh vô tội. Nỗi đau đó đối với
bất cứ gia đình nào cũng không thể bù đắp được. Trước thực trạng bạo lực học
đường trở nên nghiêm trọng thì sự lo lắng của các bậc phụ huynh càng được đẩy
lên cao. Không chỉ lo lắng cho việc học mà còn lo lắng cho sự an toàn của con
cái, lo lắng cho tương lai và cả tính mạng của con mình.
* Ảnh hưởng đến nhà trường
Hành vi bạo lực không chỉ tác động xấu đến nạn nhân mà còn khiến
không khí trường học trở nên nặng nề, căng thẳng với nỗi sợ hãi, bất an luôn bao
trùm. Người lớn, cả thầy cô lẫn cha mẹ, có khi không hay biết, có khi xem đó
như là một phần tự nhiên của tuổi mới lớn nên để các em tự giải quyết (trừ khi
thống tốt đẹp là những điều không nên. Giờ đây, có những học trò ngang nhiên
cãi lại thầy, thậm chí đánh thầy ngay trên bục giảng đến mức ngất xỉu; bạn bè
đánh đấm, đâm chém nhau xảy ra khá thường xuyên. Chính những hành động ấy
đã càng làm lu mờ những nét văn hóa truyền thống của xã hội, thể hiện một sự
suy đồi về mặt đạo đức và sự sai lệch về mặt hành vi một cách đáng báo động.
Cùng với những ảnh hưởng tới văn hóa truyền thống của xã hội thì hành
vi bạo lực chốn học đường cũng đã là một phần không nhỏ làm mất trật tự xã
hội. Những vụ bạo lực học đường không chỉ xảy ra trong khuôn viên nhà trường
mà phần lớn còn xảy ra ở bên ngoài nhà trường. Những vụ bạo lực học đường có
thể là giữa một học sinh với một học sinh những cũng có thể là những hành vi
“đánh hội đồng” và cả những vụ bạo lực học đường có sự tham gia của những
người ngoài, vì thế sự mất trật tự xã hội mà nó gây ra không phải là nhỏ. Một
khi những vụ bạo lực học đường diễn ra thì nó đã làm cho môi trường xã hội
không còn tính lành mạnh, nếu không có những biện pháp ngăn chặn thì sự “ô
nhiễm môi trường xã hội” này sẽ ngày càng lan rộng và ảnh hưởng đến đời
sống, văn hóa xã hội của cả một quốc gia.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
21
Có thể thấy rằng hậu quả của hành vi bạo lực học đường đang ngày càng
hiển hiện trong đời sống tâm lý của học sinh, của gia đình, của nhà trường và xã
hội, nó là hồi chuông cảnh báo cho những ai thực sự quan tâm đến thế hệ trẻ và
tương lai của đất nước, sẽ còn tốn nhiều thời gian, công sức, của cải để chúng ta
giải quyết vấn nạn bạo lực học đường. Tuy nhiên, để làm được điều đó cần phải
có nhận thức đúng đắn về vấn đề bạo lực học đường, một quyết tâm cao độ đánh
tan vấn nạn bạo lực học đường, của toàn ngành giáo dục, của các cấp liên ngành,
của các lực lượng liên quan, của gia đình, nhà trường, của giáo viên và học sinh.
2.1.
Tư vấn hướng nghiệp ngay từ bậc phổ thông không được chú trọng nên S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu
23 Hình 2.6. Quá trình tƣ vấn
2.2.
Phòng tư vấn là nơi các em đến để được giải đáp các vấn đề về tâm tư tình
cảm, học tập, hướng nghiệp, các vấn đề mà các em cần giúp đỡ từ chuyên gia,
những người có hiểu biết trong các lĩnh vực.
Qua tìm hiểu cho thấy hiện nay tại một số trường trung học phổ thông ở Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã có phòng tư vấn cho học sinh, tuy nhiên thực
tế tại trường Đại học Công nghiệp Việt trì thì chưa có, các em sinh viên khi cần
giúp đỡ thường tìm đến bạn bè, giáo viên chủ nhiệm, cố vấn học tập hoặc tự mình
giải quyết mà không có sự trợ giúp nào.