Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Chiến tranh đã lùi xa hơn 1/3 thế kỷ, hòa bình đã lập lại trên đất nước Việt
Nam nhỏ bé hình chữ “S”. Việt Nam đã trải qua cuộc đấu tranh với hai đế quốc lớn
với những phương tiện chiến tranh hiện đại, quân đội hùng hậu, chúng đã tàn phá,
hủy diệt biết bao xóm làng, bao nhiêu vùng quê của người Việt.Nhưng chủ quyền
của Việt Nam là thiêng liêng, tinh thần yêu nước của người Việt là vô tận. Bao
nhiêu con người đã ngã xuống, đã đổ máu xương để quyết chiến bảo vệ cho được
nền độc lập ấy. Họ đã đấu tranh và đã giành được độc lập cho dân tộc, cho nước
Việt ta được thống nhất.Để đạt được điều đó, bao thế hệ cha anh đã phải đánh đổi
cả tuổi thanh xuân, cả tính mạng, máu của họ đã tô thắm lá cờ Việt Nam.
Họ ra đi khi tuổi mười tám, đôi mươi, hiến dâng tuổi trẻ cho sự nghiệp bảo vệ
tổ quốc của nước nhà.Hàng triệu người Việt Nam đã ra đi mãi không trở về, họ đã
mãi nằm dưới lòng đất mẹ.
Chiến tranh mãi mãi là nỗi đau khó có thể nào vơi đi trong mỗi con người
Việt Nam,dù là thế hệ đã nằm xuống hay những người đang còn ngồi đây và ôm
trong mình nỗi đau về thể xác cũng như nỗi đau về tinh thần.
Mất mát chồng chất đau thương suốt những thập kỉ qua,mà những người gánh
chịu là những người đã trực tiếp chiến đấu và than của những người đã nằm xuống.
Chiến tranh đã lấy đi những người đồng đội của họ,để lại cho gia đình nỗi
đau thương vô cùng tận.Một số người trở về nhưng 1 phần than thể vẫn còn đó
nơi chiến trường khốc liệt.Trở về với cuộc sống thời bình nhưng trong mình vẫn
mang nhiều nỗi đau,đó là những vết sẹo,những dị tật mà thời gian khó có thể
làm dịu được.
Chiến tranh đã qua đi gần 4 thập kỷ nhưng những hậu quả của nó vẫn chưa
thể khắc phục hết được.Đó là những người thương binh,bệnh binh nói riêng và
thân nhân của họ nói chung. Vì thế mà hệ thống an sinh xã hội đã có những cơ
sở để hình thành và phát triển đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của con
người. An sinh xã hội ra đời vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế vừa có ý nghĩa về
mặt xã hội, đặc biệt nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và giá trị tinh thần nhân
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề lien quan đến thương,bệnh binh ở Việt Nam đã có
những công trình nghiên cứu như:
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ có “Cải cách chế độ trợ cấp ưu đãi đối với thương, bệnh
binh”.
Cuốn “Sổ tay công tác đối với người có công với cách mạng ở xã phường”
của viện Thương binh liệt sỹ.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 2
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
Những cuốn sách, đề tài trên đã đề cập đến những chương trình, chính sách
cụ thể liên quan đến thương ,bệnh binh và đã có những đánh gia ban đầu về hiệu
quả của việc thực hiện các chương trình, chính sách đó.
- Cuốn “50 năm uống nước nhớ nguồn” và “Những kỷ niệm sâu sắc về đề tài thương
binh, liệt sĩ” của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đưa ra một số công tác cụ
thể với người có công với cách mạng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi
người về công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, bệnh
binh.
- Ngoài ra, còn có nhiều bài báo, tạp chí viết về thương,bệnh binh. Nhiều khóa luận,
báo cáo tốt nghiệp của sinh viên các trường đại học và nhiều cá nhân, tập thể khác.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên phần lớn nghiêng về mặt lí thuyết, chưa
đi sâu vào tìm hiểu đời sống, nhu cầu của thương,bệnh binh. Những nghiên cứu về
mặt an sinh xã hội còn ít và chưa tìm được một hướng đi thực tiễn. Vì vậy, để đi
sâu tìm hiểu đời sống của thương,bệnh binh,đồng thời để vận dụng những lý thuyết
về tiến trình công tác xã hội vào thực tế, để từ đó có những biện pháp can thiệp
phù hợp nên tôi đã thực hiện đề tài: “ An sinh xã hội cho thương,bênh binh tại xã
Hồng Quảng,huyện A lưới,tỉnh Thừa Thiên Huế”.
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
- Tiếp cận chính sách ASXH tại địa phương làm cơ sở thực hiện mạng lưới
ASXH hiệu quả cho đối tượng là thương bệnh binh.
5.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
5.2.1.1.Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu thành văn: Là phương pháp thu thập thông
tin thứ cấp thông qua các tài liệu có sẵn.
- Để có được những thông tin cơ bản về địa bàn thực tế: điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội, dân cư,… cũng như những thông tin về chính sách an sinh xã hội đang áp
dụng ở địa phương,… chúng tôi tìm hiểu một số tài liệu như: nghị định của Chính
phủ, bảng báo cáo tổng kết công tác thực hiện an sinh xã hội ở địa phương, lịch sử
Đảng bộ,… từ kho tư liệu của Uỷ ban nhân dân xã Hồng Quảng, huyện A Lưới,
tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng được sử dụng chủ đạo trong đề tài
nghiên cứu.
5.2.1.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
* Phương pháp quan sát
- Quan sát là phương pháp thu thập thông tin sơ cấp về đối tượng nghiên cứ bằng
cách tri giác trực tiếp và ghi chép lại những nhân tố có liên quan đến đối tượng
nghiên cứu và mục đích nghiên cứu.
- Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp quan sát được sử dụng để thu thập
những thông tin thực nghiệm liên quan đến các vấn đề:
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 4
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
- Điều kiện cuộc sống ăn, ở, sinh hoạt, các vật dụng sinh hoạt, phương tiện sản xuất,
… để hiểu rõ hơn về cuộc sống của những TBB. Từ đó thấy được những thuận lợi
cũng như khó khăn trong cuộc sống của gia đình họ và có biện pháp can thiệp phù
hợp.
- Quan sát những hoạt động của các cơ quan địa phương có liên quan đến TBB. Tù
đó đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách đó.
- Quan sát thái độ, cách ứng xử của các đối tượng.
- Phương pháp quan sát được sử dụng trong những lần tiếp xúc, nói chuyện, đến
thăm nhà của TBB. Thông qua cuộc nói chuyện, vừa quan sát hoàn cảnh cũng như
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
6.1 Đóng góp về mặt lí thuyết
Thông qua việc thực hiện đề tài, giúp việc vận dụng một số lý thuyết vào quá
trình tìm hiểu, nghiên cứu trong cộng đồng như thuyết vai trò, thuyết nhu cầu,
thuyết hệ thống.Từ đó, góp phần luận giải những lí luận của lí thuyết đó.Những lí
thuyết này được vận dụng trong thực tế của thương, bệnh binh như thế nào?
Mặt khác, công tác xã hội là một lĩnh vực vẫn còn mới ở Việt Nam, hệ thống
lý thuyết của nó chưa được thực nghiệm nhiều trong thực tế. Vì vậy, với đề tài An
sinh xã hội cho thương, bệnh binh sẽ tạo điều kiện vận dụng, lí giải một số lí
thuyết, khái niệm của công tác xã hội mà đặc biệt là trong mảng an sinh xã hội.
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đối với chính quyền địa phương: Kết quả nghiên cứu của bài báo cáo sẽ có thể sẽ
là một căn cứ, một tài liệu tham khảo cho cán bộ địa phương khi làm việc với
thương binh, bệnh binh. Từ đó có những điều chỉnh hợp lý để thực hiện có hiệu
quả các chính sách, pháp lệnh đối với thương, bệnh binh và để làm tốt công tác đền
ơn đáp nghĩa.
- Đối với TBB trên địa bàn nghiên cứu: giúp họ hiểu hơn về các thông tin về chính
sách xã hội mà mình đang hoặc chưa được hưởng. Thông qua tiến trình công tá xã
hội sẽ giúp can thiệp, giải quyết một phần nào đó những vấn đề mà họ đang gặp
phải.
- Đối với bản thân: Đây làn cơ hội để tôi áp dụng những lý thuyết về công tác xã hội
đã được học ở nhà trường vào thực tế, để từ đó có thể đạt hiệu quả học tập cao hơn
theo tinh thần “học đi đôi với hành”. Đồng thời, đây cũng là chuyến đi thực tế đầu
tiên vào cộng đồng, giúp tôi hiểu rõ hơn về cộng đồng và có những kinh nghiệm,
kiến thức cho công việc của mình sau khi ra trường.
7. Bố cục của đề tài
Niên luận này ngoài lời nói đầu, phần kết luận và phụ lục, nội dung chính
gồm các chương sau:
Chương 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và một số lý thuyết liên quan
đến vấn đề nghiên cứu
cùng kỳ vụ Đông xuân 2013-2014, trong đó:
+ Lúa nước: 25 ha; đạt 49,1% kế hoạch; giảm 0,9 ha so với cùng kỳ;
+ Ngô: 50 ha; đạt 100 % kế hoạch; so với cùng kỳ;
+ Sắn: 65 ha; đạt 100 % kế hoạch; tăng 5 ha so với cùng kỳ;
+ Rau màu các loại: 5,4 ha, đạt 72 % kế hoạch; tăng 1,9 ha so với cùng kỳ;
+ Khoai các loại: 8 ha, đạt 77,7 % kế hoạch; tăng 4 ha so với cùng kỳ;
+ Đậu các loại: 0,5 ha, đạt 50 % kế hoạch, bằng so với cùng kỳ.
* Tỷ lệ sử dụng giống xác nhận:
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 8
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
Vụ Đông xuân 2013-2014, được Chính phủ hỗ trợ giống từ nguồn dự trữ
quốc gia khắc phục hậu quả thiên tai, xã Hồng Quảng tiếp nhận 2,62 tấn giống lúa
Khang dân, 1,15 tấn giống Ngô lai và ngô nếp, 14 kg giống rau củ các loại.
+ Đối với cây lúa: 100 %;
+ Đối với cây ngô: 100 %.
* Năng suất một số cây trồng chính:
+ Lúa nước: 50,2 tạ/ha; vượt 6,6% kế hoạch, tăng 4,5 tạ/ha so với cùng kỳ;
+ Ngô: 53,2 tạ/ha; vượt 1,3% kế hoạch, giảm 1,8 tạ/ha so với cùng kỳ;
Sản lượng lương thực có hạt: 391,5 tấn; đạt 69,23 % kế hoạch giảm 1,9 tấn so
với cùng kỳ;
Lương thực bình quân đầu người: 187,8 kg/người/6 tháng; đạt 69,17 % kế
hoạch, giảm 3,5 kg so với cùng kỳ;
Thu nhập bình quân đầu người: 7.800.000đ/người/6 tháng, đạt 57,78% KH,
tăng 500.000đ/người so với cùng kỳ.
* Cây công nghiệp và chuối hàng hóa và cây mây
Cây chuối:
Đến nay xã Hồng Quảng đã trồng trồng mới chuối hàng hóa được 0,6 ha, đạt
40% kế hoạch, UBND xã đã chỉ đạo các hộ đăng ký trồng chuối tiếp tục tiến hành
đào hố, bón lót phân chuồng, phân lân theo đúng quy trình hướng dẫn.
Cây cao su:
Xã Hồng Quảng có 25 ngôi nhà được xét duyệt để xây dựng theo Quyết định
22. Đã thực hiện được xây dựng 23 nhà, còn lại 02 nhà chưa thực hiện được, do
điều kiện gia đình khó khăn nên chưa thể tiến hành xây dựng được.
Đến nay đã nghiệm thu hoàn thành và đưa vào sử dụng 3 ngôi nhà, các nhà còn lại
đang trong giai đoạn hoàn thành và sẽ tiếp tục đề nghị nghiệm thu đưa vào sử dụng.
* Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch
Các công trình xây dựng cơ bản (đường dân sinh thuộc vốn 135, xây dựng kè
chống sạt lở) trên địa bàn xã đang thực hiện phù hợp với quy hoạch. Riêng xây trụ
sở UBND xã đã thay đổi vị trí, theo Quy hoạch Nông Thôn Mới xây dụng tại trung
tâm thôn Pất đuh ngã 3 Nhâm nhưng hiện nay theo chỉ đạo của huyện quyết định
xây mới tại ví trí cũ.
* Công tác quản lý về đầu tư xây dựng, quản lý chất lượng công trình xây dựng
Hiện nay trên địa bàn xã đang thực hiện hai dự án, dự án xây dựng đường dân
sinh tại 3 thôn Priêng, Y Ry và Pất Đuh thuộc nguồn vốn 135 năm 2014-2015 và
công trình đê kè chống sạt lở tại hai thôn Priêng, Y Ry. Tổng kinh phí dự án đầu tư
trong 6 tháng đầu năm 2014: 533.964.000đ đạt 41,07% KH.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 10
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
* Công tác bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông
Các công trình giao thông đường liên xã đi qua địa bàn hiện nay đang xuống cấp, mặt
đường bị vỡ, lề đường bị sạt lở, hệ thống đường mương bị vùi lấp do mưa bão hàng năm.
* Quản lý phương tiện mô tô, xe máy và phương tiện thủy nội địa
Ủy ban nhân dân xã thường xuyên chỉ đạo Công an xã làm tốt công tác tuyên
truyền, vận động người dân thực hiện an toàn giao thông đường bộ, đi xe đội mũ
bảo hiểm. Đặc biệt trên địa bàn xã có 7 chiếc đò lớn nhỏ của người dân hoạt động
thường xuyên về A Sáp, ủy ban nhân dân xã thường xuyên nhắc nhở bà con đi đò
an toàn, phải mặc áo phao, đảm bảo của cải và tính mạng khi đi đò.
* Kết quả thu và sử dụng phí đường bộ
Công tác thu phí đường bộ Ủy ban nhân dân xã giao cho Công an xã thực
hiện, thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân tham gia. Trong sáu tháng
Trường tiểu học Hồng Quảng đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia giai
đoạn 1 tiếp tục phấn đấu trường đạt chuẩn Quốc Gia mức độ 2. Đội ngũ cán bộ,
giáo viên, nhân viên đã có nhiều phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giáo,
tham mưu giúp UBND xã thực hiện tốt chức năng lãnh đạo về hoạt động trong mọi
lĩnh vực giáo dục cho địa phương. Trường có 16 giáo viên dạy giỏi cấp trường và
04 giáo viên dạy giỏi cấp huyện. Nhiều thầy cô giáo không ngừng phấn đấu rèn
luyện trong giảng dạy ngày càng đổi mới và tiến bộ hơn.Trường có 05 lớp học với
tổng số học sinh là: 208 em và 24 CBGVNV.Trong đó, Học sinh giỏi: 47 em đạt
23,15%; học sinh khá: 78 em đạt 38,42%. Học sinh trung bình: 72 em 35,46%, HS
yếu: 6 em chiếm tỷ lệ 2,95%.
*Trường Trung Học Cơ Sở Quang Trung:
Năm học 2013-2014 trường có 37 CBGVNV, học sinh có 543 em/4 xã các em
Hồng Quảng- Thái- Nhâm- Bắc đang theo học tại trường. Về chất lượng dạy và
học của toàn trường; có 3 học sinh đạt giỏi cấp huyện, 8 giáo viên dạy giỏi cấp
huyện và có giáo viên tham gia thi giáo viên dạy cấp tỉnh. Kết quả 17 học sinh
giỏi, khá: 166 em, trung bình 29 em, yếu: 26 em.
- Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) thường xuyên tuyên truyền sâu
rộng đến cán bộ và nhân dân. Xã Hồng Quảng đã được công nhận đạt phổ cập
Trung học cơ sở (bao gồm đạt phổ cập tiểu học và phổ cập mầm non trẻ em dưới 5
tuổi). Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS hằng năm được tiếp tục học bậc trung học
đạt 100%. Số học sinh phổ cập được vận động tham gia 2013-2014 lên lớp học: 20
em. Hội khuyến học cùng với nhà trường đã phối kết hợp với TTHTCĐ xã tổ chức
thực hiện theo quyết định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ GD&ĐT.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 12
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
Nhìn chung về giáo dục & đào tạo, trong thời gian qua tinh thần và trách nhiệm của đội
ngũ cán bộ, giáo viên giảng dạy chuyên cần, nhiệt tình có rất nhiều học sinh và phụ huynh quý
trọng. Tình hình cơ sở, vật chất của 03 trường được xây dựng bảo đảm tốt.
1.1.3.3. Y tế, Dân số và chăm sóc sức khỏe nhân dân:
* Về Y tế
*. Công tác tuyên truyền, cổ động:
- Tổng số tổ chức tuyên truyền, cổ động Pano, áp phích là: 03 tấm.
- Tổng số cắt dán và trang trí các loại câu khẩu hiệu tuyên truyền tại xã là: 107 câu.
- Tổng số Bằng rôn đã treo và tuyên truyền tại Cổng trụ sở UBND xã và ngang đường 08 câu.
- Tổ chức vận động toàn dân làm cổng Chào. Tổng số 38 cổng Chào / 6 thôn.
- Tổ chức vận động Cán bộ, đảng viên và nhân dân treo cờ Đảng, cờ Tổ quốc
và cờ Phướn, nhân dịp các ngày lễ lớn như: lễ “Mừng Đảng - mừng Xuân Giáp
Ngọ 2014 và mừng quê hương đất nước đổi mới”. Tổng số đã treo là: 3.600 lá các
loại cờ / 6 thôn. (Riêng tại Trụ sở UBND xã đã treo là: 450 lá).
* Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”:
- Tổng số làng xin đăng ký xây dựng văn hóa: 06 làng
- Tổng số làng được công nhận danh hiệu đạt tiêu chuẩn văn hóa: 06 làng
- Trong đó, đã được công nhận lần II là: 04 làng
- Được công nhận lần I là: 02 làng, (Pất Đuh và Y Ry)
- Tổng số nhà SH Cộng đồng thôn là: 6/6 làng.
- Tổ chức tổng dọn vệ sinh tại khu vực làng là: 6 /6 làng
* Công tác gia đình:
- Tổng số hộ gia đình tiếp tục đăng ký xây dựng “Gia đình văn hóa”: 511 hộ
- Tổng số hộ gia đình được công nhận “GĐVH” (trong 3 năm liền): 396 hộ
- Tổng số hộ gia đình chưa đăng ký xây dựng “Gia đình văn hóa”: 28 hộ
- Tổng số hộ đạt “GVH tiêu biểu xuất sắc” cấp xã, (5 năm liền) là: 30 hộ/6 thôn
- Tổng số hộ đạt “GĐVH tiêu biểu xuất sắc cấp tỉnh, (5 năm liền): 01 hộ/xã
* Hoạt động Văn hóa, Nghệ thuật:
- Tổng số buổi tổ chức hoạt động văn hóa, nghệ thuật là: 18 buổi.
- Tổng số người đến xem và cổ vũ là: 4.800 người / 06 thôn.
- Trong đó, nhân dịp các ngày diễn ra lễ lớn và trọng đại của quê hương đất
nước. Ban VHTT xã thường xuyên chủ động phối hợp tuyên truyền và vận động
nhân dân thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật
của Nhà nước đề ra, như:
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 14
chức. Tổng số là 04/04 VĐV tham gia thi đấu.
- Tham gia phối hợp cùng với xã Đoàn tổ chức thi đấu môn Bóng đá nam, nữ
nhân dịp lễ 26/3. Tổng số 06/06 thôn tham gia thi đấu.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 15
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
- Nhân dịp lễ 26/3, Ban VHTT xã tổ chức giao hữu bóng chuyền với 03 xã:
xã Nhâm, xã Hồng Thái và xã Sơn Thủy. Tổng số 72/72 VĐV tham gia thi đấu.
- Tổ chức giao lưu môn Bóng đá với xã Sơn Thủy. Tổng số 44/44 VĐV tham gia
thi đấu. Trong dịp lễ lần này, hơn 900 các cổ động viên tham gia xem và đến cổ vũ.
- Tổ chức vận động các thôn giao lưu bóng đá Nữ nhân dịp lễ: 30/4 ngày giải
phóng miền Nam hoàn toàn thống nhất đất nước và 19/5 nhân ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại. Tổng số 26/26 VĐV nữ tham gia.
* Công tác quản lý văn hóa, dịch vụ:
- Tổng số hoạt động Karaoke tại địa bàn xã là 08 hộ. Trong đó; có 03 hộ thuộc về dịch vụ
kinh doanh (có thu tiền). 05 hộ thuộc dạng hoạt động Karaoke vui chơi, giải trí trong gia đình.
* Hoạt động thông tin triển lãm, bảo tồn và du lịch:
- Tổng số điểm Bảo tồn du lịch, và di tích lịch sử trên địa bàn xã là 03. Trong
đó; 01 Hồ Tar Lonh Aluoi, 01 là Bia tưởng niệm Tổ quốc ghi công, và 01 khu Di tích
lịch sử Cách mạng địa đạo A Đon, trong thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
1.1.4. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội đối với
việc thực hiện ASXH cho thương, bệnh binh
*Thuận lợi:
Vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho các ngành hàng
dịch vụ phát triển như giao thông vận tải, giao thương buôn bán…
Điều kiện khí hậu và nguồn tài nguyên tự nhiên của xã thuận lợi cho trồng
trọt chăn nuôi, phát triển kinh tế của xã. Phát triển các làng nghề truyền thống,phục
vụ cho sinh hoạt và xuất khẩu.
Cơ sở hạ tầng đang từng bước được cải thiện đã phần nào đáp ứng được sản
xuất nông lâm nghiệp,thương mại, dịch vụ và đời sống dân cư.
Nhìn chung giáo dục, y tế sức khoẻ cộng đồng đã được quan tâm đúng mức
hóa,truyền thống đang còn nhiều bất đồng giữa các dân tộc với nhau,bất đồng về
ngôn ngữ,vẫn đàn còn tình trạng phân biệt đối xử…
Khó khăn trong vấn đề tuyên truyền,giáo dục,văn hóa.
1.2. Một số lý thuyết liên quan
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1 Chính sách xã hội
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về CSXH, tựu trung lại có 3 loại ý kiến
như sau:
+ CSXH là một lĩnh vực tri thức Xã hội học, bao hàm cả những vấn đề lý thuyết và
thực tiễn nhằm nghiên cứu hệ thống về các quá trình xã hội quyết định hoạt động
sống của con người trong xã hội, hướng tới mục đích quản lý các quá trình xã hội
và mối quan hệ trong quá trình ấy.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 17
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
+ CSXH là tổng hòa các biện pháp và phương pháp của nhà nước, của các giai cấp,
các tổ chức, các đảng phái chính trị nhằm đảm bảo lợi ích cho giai cấp và các tầng
lớp nhân dân lao động trong xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
+ CSXH là tác động định hướng theo mục tiêu đến những hiện trạng cơ cấu có vấn
đề, trong đó trước hết là các cấp xét duyệt nhà nước và các tổ chức, tập đoàn là
người thực hiện. Các mục tiêu quan trọng của CSXH là: đền bù trong những
trường hợp xảy ra tai nạn, trợ giúp và tư vấn trong việc giải quyết hoàn cảnh cuộc
sống vượt quá khả năng của cá nhân (dịch vụ xã hội), chăm sóc trong trường hợp
không có khả năng tự mình bảo đảm nhu cầu tối thiểu để tồn tại; sự phân bố lại cả
về thu nhập vật chất cũng như vị trí, quyền lực xã hội; điều hành các triển vọng
tương lai thông qua các tổ chức đoàn kết.
1.2.1.2 An sinh xã hội
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm an sinh xã hội:
Theo B.R.Compton: ASXH là một thiết chế bao gồm các chính sách và pháp
luật được các tổ chức tự nguyện hoặc tổ chức nhà nước thực thi nhằm cung ứng
+ Các chính sách và chương trình bảo hiểm y tế
+ Các chính sách và chương trình trợ giúp đặc biệt (ưu đãi người có công)
• Ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước
và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với cá nhân hay tập thể có những
cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và đất nước.
Mục đích của ưu đãi xã hội là nhằm ghi nhận và tri ân cá nhân hay tập thể có
những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng và đất nước. Nhằm đảm bảo công bằng
xã hội, ai cống hiến nhiều cho xã hội thì người đó được hưởng nhiều.Đồng thời,
nhằm tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc và giáo dục truyền
thống cho thế hệ tương lai, đảm bảo ổn định thể chế chính trị của Nhà nước.
+ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh:
• Thương binh: là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng
lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “ giấy chứng
nhận thương binh” và “ huy hiệu thương binh” thuộc 1 trong các trường hợp sau:
làm nghĩa vụ quốc tế; chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; bị địch bắt, tra
tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;
đấu tranh chống tội phạm; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm
phục vụ quốc phòng, an ninh, dũng cảm cứu người, tài sản của Nhà nước và nhân
dân; làm nghĩa vị quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn.
• Người hưởng chính sách như thương bình: là người không phải là quân nhân, công
an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc 1
trong các trường hợp trên được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp “Giấy chứng
nhận người hưởng chính sách như thương binh”.
Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm
khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan,
đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993.
+ Bệnh binh:
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 19
bình đẳng và tiến bộ xã hội. CTXH còn là một dịch vụ đã chuyên môn hóa góp
phần giải quyết các vấn đề về xã hội, về con người mang tính bức xúc nhằm thỏa
mãn những lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội. Mặt khác,
góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 20
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
CTXH có 3 chức năng kép đó là: chẩn đoán và dự báo, chữa trị và phòng
ngừa, phục hồi và phát triển. CTXH sử dụng 3 phương pháp chính: CTXH với cá
nhân, nhóm và cộng đồng để thực hiện những chức năng trên.
1.2.2 Một số lý thuyết liên quan
1.2.2.1 Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống là một trong những lí thuyết quan trọng được vận dụng
trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Các quan điểm hệ thống trong CTXH
có nguồn gốc từ lí thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy – nhà sinh học nổi
tiếng.Đây là một lí thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ
thống được tạo nên từ những tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ
thống lớn hơn. Do đó, con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các
phân tử, mà được dùng từ những nguyên tử nhỏ hơn.
Có 3 loại hệ thống thỏa mãn cuộc sống của con người:
• Hệ thống chính thức: tổ chức công đoàn, cộng đồng,…
• Hệ thống phi chính thức: bạn bè, gia đình,…
• Hệ thống xã hội: bệnh viện, nhà trường,…
Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa
cá nhân với cá nhân, với nhóm và ngược lại.Trong thực hành công tác xã hội
không thể không chú ý tới sự ảnh hưởng đó.Tạo dựng và phát huy những tiềm
năng, sức mạnh của hệ thống sẽ tạo nên những lợi thế trong thực hành CTXH.
1.2.2.2 Lý thuyết nhu cầu (Maslow)
Theo lý thuyết của A.Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia
thành các thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ cơ bản
của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên,
những cá nhân nào là người có uy tín, có tiếng nói trong cộng đồng để tác động
vào những cá nhân đó để ảnh hưởng đến các đối tượng cũng như cộng đồng.
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 22
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG
AN SINH XÃ HỘI CHO THƯƠNG,BỆNH BINH TẠI XÃ HỒNG
QUẢNG,HUYỆN A LƯỚI,TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Thực trạng đời sống của thương, bệnh binh tại xã Hồng Quảng, huyện A
Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1. Quy mô, cơ cấu đối tượng
Thừa thiên Huế là một trong những mảnh đất anh hùng đã phải oằn mình
chống chọi với những khắc nghiệt của chiến tranh và phải chịu không ít những đau
thương mất mát mà bom đạn và chất độc hóa học để lại.
Những người đã mãi mãi nằm xuống trên mảnh đất quê mẹ, một số người
may mắn hơn được trở về với gia đình người thân nhưng vẫn phải mang bên mình
bao nhiêu tổn thương mất mát về cả thể xác lẫn tinh thần. Đảng và nhà nước đã có
những chế độ để ghi nhận công ơn của họ với đất nước đồng thời bù đắp phần nào
nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho họ. Thời bình họ về tham gia sản xuất , sinh
hoạt cùng người thân gia đình nhưng mỗi khi trái gió trở trời,những vết thương do
bom đạn,chiến tranh lại dày vò thân xác lẫn tinh thần của những người thương
binh, bệnh binh.
Toàn xã Hồng Quảng có: 28 thương binh và 56 bệnh binh.
Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu thương,bệnh binh đang được hưởng trợ cấp
ở xã Hồng Quảng năm 2013
STT Đối tượng
Số
lượng
(người)
Tỷ lệ
(%)
tháng, một số ít người thì thỉnh thoảng có được sự hỗ trợ từ con cái.
Thu nhập của đa số thương binh, bệnh binh tương đối thấp nhưng lại phải
trang trải cho nhiều khoản chi tiêu: sinh hoạt hàng ngày, thuốc men chữa bệnh,
nuôi con ăn học,… nên với thu nhập như vậy cùng với trợ cấp ít ỏi chỉ vừa đủ
trang trải cho cuộc sống hàng ngày.
Tuy nhiên, một số thương, bệnh binh cũng có công việc và thu nhập khá cao,như
bác Đặng Năm ở thôn Pất đuh, gia đình bác sinh sống bằng thu nhập từ việc bán hàng
tạp hóa do bác gái đảm nhiệm,còn bác Năm làm mộc. Hàng năm gia đình bác có thu
nhập khá ổn định, con cái bác đều đã trưởng thành và có gia đình riêng.
“Đồng lương trợ cấp thương binh hàng tháng cũng giúp gia đình đỡ vất vả
phần nào, nhưng ăn rồi chỉ trông chờ vào nó thì cũng chật vật nên mình phải tự
vận động.Vì vậy,tôi cùng vợ bàn nhau mở thêm cái hàng tạp hóa cho bà bán hàng
còn tôi làm mộc tăng thêm thu nhập trong nhà. Trước đây con cái đi học thì có khó
khăn thật nhưng bây giờ đứa mô cũng lớn khôn có gia đình rồi nên không phải lo
chuyện chi tiêu,ông bà nuôi nhau như thế này là ổn rồi” (trích phỏng vấn sâu bác
Đặng Năm).
2.1.2.2. Nhà ở
SVTH: Võ Thị Quỳnh Page 24
Đại Học Khoa Học Huế GVHD: Trương Thị Yến
Nhìn chung người dân Hồng Quảng sống tại đây đã lâu đời, đất đai, nhà cửa
từ tổ tiên để lại. Việc xây dựng sửa chữa lại nhà ở cũng mang tính tự phát, chưa
theo quy hoạch nhất định
Một số gia đình thương, bệnh binh có nhà cửa kiên cố,tiện nghỉ đầy đủ hiện
đại như gia đình bác Hồ Văn Tông ở thôn Tầm Mu.
Tuy nhiên vẫn còn một số gia đình nhà ở xây đã lâu,cũ nát thiếu tiện nghi
sinh hoạt vì phải nuôi con đi học chưa có điều kiện sửa sang lại nhà cửa.
2.1.2.3. Sức khỏe
Trên địa bàn xã Hồng Quảng thương binh có 28 người và bệnh binh 56 người.
Họ trở về quê hương sau cuộc chiến tranh với những vết thương, thương tích trên cơ
thể. Do đó hầu hết, TBB ở trên địa bàn xã có sức khỏe không tốt. Những di chứng