447 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Thuận - Pdf 23

1

LỜI MỞ ĐẦU

NHTM - một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với quá
trình phát triển xã hội loài người - một tổ chức trung gian tài chính quan trọng bậc
nhất phục vụ công chúng. Nhưng không giống với nhiều sản phẩm khác, xét về
mặt bản chất và các hành vi mà nó ứng xử, có thể xem NHTM là một sản phẩm
xã hội, một ngành công nghiệp dòch vụ với tính cộng đồng và nhân văn rất cao,
chằng chòt vô số các mối liên hệ với đông đảo công chúng, không chỉ trải rộng
trong phạm vi một quốc gia mà còn lan tỏa ở phạm vi quốc tế. Không giống như
các tổ chức tài chính khác, NHTM luôn phải kinh doanh chủ yếu bằng tiền của
người khác. Vì vậy, sự an toàn và phát triển của bất kỳ một NHTM nào đều có
liên quan mật thiết đến hàng loạt NHTM khác. Mặt khác, hiệu quả hoạt động của
NHTM phản ánh thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia.
Lòch sử phát triển NHTM ( 1401 ) – NH Valencia ( Tây Ban Nha) đến nay,
nhân loại đã nhiều lần chứng kiến những cảnh sụp đổ đến mức hoang tàn và thế
giới cũng xem đó, ít nhất là dấu hiệu đầu tiên của khủng hoảng kinh tế.
Ở nước ta, gói gọn trong thập niên mà chúng ta đang sống, sự sụp đổ và ra
đi của hàng loạt HTX tín dụng, của một số NHTM cổ phần và ngay cả một số
NHTM nhà nước, nếu không có “ rào chắn” từ nhà nước thì có thể cũng rơi vào
cảnh đổ vỡ. Tuy nhiên, dù áp dụng bất cứ “ rào chắn” kiên cố như thế nào thì nó
chỉ có thể hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại chứ không phải là không có
thiệt hại. Vì vậy, sự ổn đònh, an toàn và có hiệu quả đối với NHTM là vấn đề
phải luôn được coi trọng.
Edward W.Reed và Edward R. Goll người mỹ trong tác phẩm nghiệp vụ
NHTM của mình đã cho rằng : “ NHTM là một tổ chức kinh doanh được điều
2

hành một cách chặt chẽ nhất, ít có lónh vực kinh doanh nào bò kiểm tra thường
xuyên và quản trò chặt chẽ bởi các nhà chức trách và các nhà quản trò để xem

thực hiện một số giải pháp nhằm tháo gở những vướng mắc trong hoạt động của
hệ thống chi nhánh trực thuộc, bảo đảm sự không ngừng lớn mạnh trong hoạt
động kinh doanh của NHNo VN.
Với mục tiêu tổng quát nêu trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Nghiên cứu hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận giai đoạn 2001-
2004.
- Nghiên cứu một số chủ trương, chính sách, qui đònh của nhà nước liên
quan đến hoạt động NHTM nói chung, NHNo VN, trong đó NHNo Bình Thuận
nói riêng.
- Một số chủ trương của đòa phương về phát triển kinh tế - xã hội thời gian
qua.
Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung nghiên cứu được triển khai theo
phương pháp tổng thể- dựa trên cơ sở nghiên cứu khía cạnh chung, thống nhất ở
các đơn vò trực thuộc NHNo Bình Thuận, qua đó phát biểu thành vấn đề chung
của NHNo Bình Thuận.

4

CHƯƠNG I
PHẦN LÍ LUẬN - TỔNG QUAN VỀ NHTM
I. Những vấn đề cơ bản về NHTM.
Theo pháp luật Việt Nam, NHTM là loại hình TCTD, hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dòch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng các dòch vụ thanh toán. [16]
NHTM – một tổ chức trung gian tài chính, có hoạt động gần gũi với công
chúng và nền kinh tế – NHTM xuất hiện theo yêu cầu của nền kinh tế. Trong quá
trình hình thành và phát triển NHTM đã đi từ bước cực kỳ thô sơ và chính nhu cầu
phát triển của nền kinh tế - xã hội đã là tác nhân thúc đẩy hoạt động NH để có
được mức độ hiện đại ngày hôm nay. Lòch sử đã chứng minh rằng NHTM là sản
phẩm và được tách ra từ NHTW ( NH phát hành). Vào thời sơ khai, hoạt động NH

NHTW thì các NH còn lại chỉ làm nhiệm vụ những trung gian tài chính giữa
người cho vay và người đi vay tiền trong nền kinh tế, các NHTW hoàn toàn biệt
lập với công chúng, mọi hoạt động của nó đều thông qua những đònh chế trung
gian và chính phủ để tiếp cận với công chúng. Từ nguyên nhân này, những NH
còn lại trong nền kinh tế được gọi là “ NH trung gian”. Trong loại hình NH trung
gian, hệ thống các NHTM chiếm vò trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về
thành phần các nghiệp vụ – hoạt động của NHTM bao gồm 3 lónh vực: nghiệp vụ
nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới
trung gian (dòch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật có
giá….). Ba loại nghiệp vụ đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau
phát triển, tạo nên uy tín cho NH, chính sự kết hợp đồng đồng bộ đó đã trở thành
qui luật hoạt động cho NH và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng
của các NHTM. [3]
Vai trò & nhiệm vụ của NHTM thể hiện qua sơ đồ sau:
Cá nhân


Cá nhânTổ chức

Tổ chức
Cho vay

quan.

II. Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM.
1- Quan hệ tín dụng NHTM dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
NHTM với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, hoạt động trên cơ sở
đi vay để cho vay thông qua nghiệp vụ tín dụng. Hành vi kinh doanh tiền tệ của
NHTM thực chất là mua quyền sử dụng vốn ( thuê ) và bán ( cho thuê ) lại quyền
sử dụng vốn đó, nó hoàn toàn khác với các loại hình kinh doanh khác của các tổ
chức kinh tế, thể hiện như sau:
- Quan hệ tín dụng (đi vay và cho vay) chủ yếu dựa vào lòng tin lẫn nhau.
Khác với quan hệ mua bán thông thường khác, quan hệ tín dụng NH chỉ trao đổi
quyền sử dụng giá trò khoản vay, chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay.
Người cho vay giao giá trò khoản vay dưới dạng tiền tệ và hàng hoá cho đối tác sử
dụng khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả toàn bộ giá trò
khoản vay cộng thêm khoản lợi tức trả cho người cho vay. Do vậy, thực thể khoản
vay vẫn còn tồn tại và có thể luân chuyển từ người này sang người khác do hoạt
động cho vay của chủ thể cho vay.
Trong quan hệ tín dụng, giá trò hàng hoá “khoản vay” không thay đổi hình
thái, mà nó chỉ được chuyển từ người cho vay sang người đi vay và chỉ có một
bên nhận được giá trò, bởi vì chỉ có một bên nhượng đi giá trò mà thôi.
Điều này có nghóa là hàng hoá “ khoản vay ” có đặc điểm sẽ quay trở về
điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữ nguyên vẹn giá trò vốn có, đồng thời lại lớn
lên thêm trong quá trình vận động.
2- Lãi suất – đặc trưng về giá cả trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Lãi suất là giá cả của tín dụng. Lãi suất biểu hiện giá cả khoản tiền mà
7

người cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho
người khác. Người đi vay coi lãi suất là khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử
dụng tạm thời tiền của ngưòi khác. Khi sử dụng khoản tiền vay vào quá trình

đàm phán, các điều kiện phục vụ… thì quan hệ tín dụng vẫn có thể không phát
sinh.
Lòng tin trong quan hệ tín dụng có những nét đặc biệt hơn so với yếu tố
lòng tin trong các quan hệ phi NH bởi NH đóng vai trò là người cho vay vừa là
người đi vay. Do vậy, NH một mặt phải thể hiện lòng tin , mặc khác phải kiểm tra
lòng tin với khách hàng. Điều này trực tiếp quyết đònh sự an toàn, hiệu qủa, đồng
nghóa với sự sinh tồn của NHTM.
Một đặc thù của hoạt động NH là tình trạng tài chính của một NH phụ
thuộc vào niềm tin của khách hàng gửi tiền đối với giá trò tài sản của NH đó. Nếu
họ tin rằng nhiều tài sản của NH đã giảm giá trò thì có thể làn sóng rút tiền ký
thác sẽ diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến phá sản không chỉ riêng NH quản lý kém về
tài sản mà còn kéo theo cả hệ thống.
4- Tín dụng NH tạo tiền ký thác, tạo tài nguyên cho hoạt động NH.
Tạo và hủy tiền là chức năng riêng của tín dụng NH và làm cho hoạt động
tín dụng của NH khác hẳn với hoạt động kinh doanh thông thường khác. Thû sơ
khai, các NH có thể tạo tiền bằng việc phát hành các ngân phiếu thanh toán ( tiền
thân của giấy bạc NH ) thay cho vàng trong lưu thông. Ngày nay, NHTM tạo tiền
bằng cách tạo ra bút tệ ( tiền ghi sổ) theo phương pháp cho vay chuyển khoản.
Khi NHTM cho vay bằng tiền mặt, việc cho vay thực chất là chuyển số tiền
từ tay người này sang tay người khác sử dụng, người cho vay mất đi cái mà người
đi vay nhận được. Nhưng khi NH cho vay chuyển khoản thì NH không mất đi cái
gì mà khách hàng còn có phương tiện tạo ra sức mua.
Tóm lại, trong các loại tín dụng khác, cho vay hoặc thu nợ đều là quá trình
chuyển một lượng tiền từ tay người này sang tay người khác. Trong khi NHTM
cho vay chuyển khoản sẽ tăng lượng tiền (bút tệ), ngược lại khi thu nợ bằng
chuyển khoản sẽ làm giảm một lượng tiền.
Có thể nói rằng NHTM thông qua công cụ tín dụng đã tạo và hủy tiền,
cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. Như vậy, NHTM đã tạo tài
nguyên quan trọng nhất phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
5- Sử dụng công nghệ đặc biệt: công nghệ biến đổi cơ cấu thời hạn của các

được quyền sử dụng.
6- Trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế.
Quan niệm về NHTM và hoạt động của nó chỉ thực sự đúng đắn và đầy đủ
ý nghóa thực tiễn khi được xem xét gắn với hoạt động của nền kinh tế. Đặc biệt
khi được xem xét dưới góc độ rủi ro của nền kinh tế. Ở những nội dung trên, khi
bàn về tính chất trung gian tài chính của NHTM, chúng ta chỉ xem xét NHTM
10

theo các chức năng tương đối độc lập trong quan hệ với nền kinh tế. Trong thực
tiễn, hệ thống NH và nền kinh tế luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
một cách chặt chẽ và nhạy bén. Khi NHTM làm nhiệm vụ trung gian tín dụng,
hoạt động NHTM đã ngầm chứa đựng rủi ro. Hơn nữa khách hàng của NHTM là
các chủ thể chứa đựng rủi ro, họ đến NH là muốn san sẽ rủi ro đó cho NH.
Đối với khách hàng, rủi ro gây ra cho họ hết sức đa dạng và phong phú và
xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau ở môi trường nội tại lẫn ngoại vi; từ những
yếu tố kinh tế vi mô đến những tác động từ kinh tế vó mô. Qua con đường tín
dụng họ có thể chuyển các rủi ro đó cho NH.
Đến lượt mình, với chức năng trung gian tài chính, NH trở thành một trung
gian chuyển rủi ro trong nền kinh tế. Thông qua các kênh ký thác, NHTM nhận
các luồng tài chính từ những người cho vay đầu tiên, còn thông qua kênh tín
dụng, NHTM chuyển các luồng tài chính đến người vay sau cùng. Tương tự,
NHTM cũng chuyển đi hoặc nhận về các luồng tài chính từ các đònh chế tài chính
khác. Khi làm việc này, NHTM cũng đồng thời tạo lập các kênh dẫn rủi ro giữa
các chủ thể kinh tế, các đònh chế tài chính với nhau. Rủi ro này có tính chất lây
lan. Vì vậy, tác hại lây lan rủi ro của NHTM là đặc điểm cần lưu ý.
NHTM là chủ thể kết nối ý nguyện về thời hạn đồng tiền giữa 2 chủ thể
nêu trên . Làm việc này, NHTM đã biến đổi rủi ro – giảm rủi ro tái đầu tư cho
người điù vay cuối cùng, đồng thời giảm rủi ro thanh khoản cho người cho vay đầu
tiên. Trường hợp này, NHTM tất nhiên đã nhận về mình các rủi ro khách hàng
chuyển đến .

Thông thường, tài sản “có” của NHTM bao gồm:
+ Tiền mặt và tiền gửi ở NHNN: loại tài sản này không sinh lời, chủ yếu
dùng vào mục đích thanh khoản (trừ loại dự trữ thặng dư khi được sử dụng như tài
sản “có” sinh lời). Loại này gọi chung là tiền dự trữ, bao gồm: dự trữ bắt buộc
(dự trữ pháp đònh), dự trữ luân chuyển, dự trữ thặng dư (dự trữ dư thừa).
Tiền dự trữ là các tài sản lưu hoạt cao, có thể đáp ứng tức khắc các nhu cầu
rút tiền của người ký thác.
+ Cho vay các TCKT và các tầng lớp dân cư : đây là bộ phận sinh lời chủ
yếu và cũng là nơi phát sinh nhiều rủi ro của NHTM.
+ Đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
+Tài sản có khác: tài sản cố đònh và thiết bò; các khoản phải thu….
12

Để phân tích tài sản “có” một cách toàn diện, các nhà quản trò phải nghiên
cứu từ việc xác đònh chính sách, chiến lược kinh doanh đến các thủ tục nghiệp vụ,
khả năng kiểm soát nội bộ và độ an toàn về tài sản của NH. Khi cấp tín dụng, các
NH phải quan tâm đến nguyên tắc rủi ro… Khi phân tích tài sản “có”, công việc
đầu tiên của nhà quản trò là phải phân loại các khoản nợ để quản lý một cách
hiệu quả các khoản nợ này.
Tài sản “có” của NHTM phần lớn là các khoản cho vay. Do đó, việc đánh
giá chất lượng tín dụng và xem xét sự tác động của nó đối với các yếu tố tài
chính là việc làm quan trọng trong phân tích. Sức bền của một NHTM phụ thuộc
rất nhiều vào chất lượng tài sản “có” và tình hình trích lập dự phòng rủi ro.
2- Khả năng thanh toán.
Khả năng thanh toán của NHTM có thể xem xét theo nhiều góc độ khác
nhau. Theo chúng tôi khả năng thanh toán của một NHTM là tình trạng tiền mặt
sẳn sàng (Access to ready cash) để chi trả hay gia tăng tài sản có.
Đánh giá khả năng thanh toán của một NHTM là vấn đề khó khăn. Về cơ
bản, phân tích khả năng thanh toán của một NHTM là xem xét khả năng giải
quyết được vấn đề nguồn vốn vào lúc tương đối bức xúc.

NHTM:
Tài sản “có” động
Khả năng thanh toán tức thì = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
Tài sản “nợ” dễ biến động

Tài sản có động là tài sản có dễ chuyển đổi thành tiền. Chỉ số đo lường khả
năng thanh toán tức thì cao, chứng tỏ NH có thanh khoản tốt. Nhưng nếu chỉ số
này quá cao, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NH.
Vấn đề đặt ra là chỉ số này ở mức bao nhiêu là hợp lý. Thông thường, các
NHTM hoạt động tốt có thể duy trì chỉ số này tương đối thấp so với NHTM hoạt
động yếu kém.
4. Khả năng sinh lời: Để đánh giá lợi nhuận của NHTM, người ta thường sử
dụng các chỉ số sau đây:
Thu nhập ròng Thu nhập ròng
ROA = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100 ; ROE = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
Tài sản có Vốn tự có

Ngoài ra, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu bổ sung sau:
Thu nhập ròng
* Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng thu nhập = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
Tổng thu nhập

Lãi ròng
*Tỷ suất lợi nhuận = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100
14

Tài sản có sinh lời
Thu nhập lãi - chi phí lãi
*Lãi ròng biên tế = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
Tích sản sinh lãi ròng

15
IV- Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu lý luận:
Từ thực trạng hoạt động NHNo Bình Thuận, luận văn đã nêu lý do chọn đề
tài luận văn là nhằm tháo gở những vùng mắc và hạn chế trong hoạt động kinh
doanh của NHNo Bình Thuận. Trong phạm vi nghiên cứu, các nội dung nghiên
cứu được thực hiện theo phương pháp tổng thể - nghiên cứu khía cạnh chung,
thống nhất ở các đơn vò trực thuộc, qua đó phát biểu thành vấn đề chung của
NHNo Bình Thuận.
Trong phần lý luận, luận văn đã khái quát lòch sữ hình thành và phát triển
của hệ thống NHTM trên thế giới và Việt Nam nói riêng; đề cập vai trò, nhiệm
vụ của NHTM. Trọng tâm của phần lý luận là hệ thống hóa những vấn đề cơ bản
về đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM, từ đó đề cập đến nội dung về
hiệu quả kinh doanh của NHTM nói chung, cũng như những qui đònh về quản lý
hiệu quả kinh doanh trong hệ thống NHNo VN.
Qua nghiên cứu lý luận tổng quan về NHTM có thể rút ra một số bài học
chủ yếu để vận dụng vào quản trò NHTM như sau:
- Sự hình thành và phát triển của NHTM xuất phát từ yêu cầu của nền sản
xuất hàng hóa và gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của xã hội loài người qua
nhiều giai đoạn lòch sữ.
- NHTM – trung gian tài chính có khả năng kết nối ý nguyện giữa chủ thể
ký thác và chủ thể vay vốn để kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác; có
khả năng biến đổi cơ cấu thời hạn các đồng tiền để ứng dụng vào hoạt động kinh
doanh một cách có hiệu quả dựa trên qui luật số lớn, nhưng đồng thời cũng có
nhiều khả năng nhận rủi ro và chuyển rủi ro trong mối quan hệ với nền kinh tế.
Vì vậy, yếu tố niềm tin và chất lượng tín dụng luôn là cơ sở và nền tảng của hiệu
quả kinh doanh. Mọi sự suy giảm về niềm tin (có sự chi phối chủ yếu của chất
lượng tín dụng) đều dẫn đến suy giảm hiệu quả kinh doanh hoặc đổ vở hoạt động
NHTM, mà tác động của hậu quả này không chỉ dừng lại ở một NHTM riêng lẽ,
đồng thời tác động xấu đến kinh tế vó mô. NHTM luôn phải lưu ý rằng: càng cao
lợi nhuận càng nhiều rủi ro. Vì vậy, trong quản trò hoạt động tín dụng luôn cần có

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHNo BÌNH THUẬN.

I. Tình hình kinh tế – xã hội Tỉnh Bình Thuận.
Bình Thuận là một tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, diện tích vùng lãnh hải
52.000 km
2
với 192 km bờ biển. Bình Thuận tiếp giáp với Tỉnh Đồng Nai và Bà
Ròa- Vũng Tàu, đây là điều kiện để Bình Thuận tiếp cận, giao lưu với khu vực
kinh tế phát triển vào loại bậc nhất Việt Nam. Bình Thuận với diện tích tự nhiên:
7.828 km
2
, với 10 huyện, thành phố, trong đó có 4 huyện với 62 xã thuộc miền
núi, vùng cao, 27 xã thuộc diện khó khăn. Bình Thuận có vò trí khá thuận lợi, có
nhiều tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên để phát triển
nông nghiệp, công nghiệp, dòch vụ du lòch biển. Về công nghiệp, Bình Thuận với
nền công nghiệp tuy còn non trẻ, nhưng có nhiều triển vọng phát triển. Với chính
sách khuyến khích đầu tư thông thoáng và tạo nhiều thuận lợi, đã làm cho Bình
Thuận trở thành một trong những miền đất thu hút được nhiều dự án đầu tư trong
và ngoài nước. Bình Thuận có dân số 1,220 triệu ngøi với 27 dân tộc chung
sống, trong đó gần 70% sống ở nông thôn; mặt bằng dân trí còn thấp, nhiều hủ
tục chi phối đời sống kinh tế văn hóa. Đây là một trong những khó khăn làm hạn
chế khả năng phát triển kinh tế – xã hội trên đòa bàn. Cơ cấu kinh tế Tỉnh Bình
Thuận hiện đang chuyển dòch từ: Nông nghiệp – Dòch vụ – Công nghiệp sang
Công nghiệp – Dòch vụ – Nông nghiệp giai đoạn 2005-2010. Bên cạnh diện tích
đất nông nghiệp, Bình Thuận có diện tích đất rừng khá lớn, có điều kiện phát
triển chăn nuôi gia súc như : bò, dê, cừu… Với chiều dài bờ biển như trên, Bình
Thuận có nhiều thuận lợi trong khai thác đánh bắt thủy sản với nhiều loại có giá
trò cao trong tiêu thụ nội đòa và xuất khẩu. Có thể nói, Bình Thuận là một trong số
các đòa phương có thế mạnh về biển. Cũng từ thế mạnh này, kinh tế Bình Thuận

Phương Nam – Qũy TDND, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là tại
đòa bàn thành phố Phan Thiết, thò xã Lagi. NHNo Bình Thuận được thành lập
năm 1988 sau khi chủ trương hình thành NH 2 cấp ra đời. NHNo Bình Thuận hiện
có 368 CBVC, đa phần được tiếp nhận từ NHNN và NH Đầu Tư Phát Triển (cũ);
mạng lưới rộng khắp từ thành phố Phan Thiết đến các Huyện, Thò xã, trụ sở chính
đặt tại Thành phố Phan Thiết với 10 chi nhánh cấp 2 và 14 chi nhánh cấp 3,
phòng giao dòch trực thuộc.
NHNo Bình Thuận là chi nhánh cấp 1 hạch toán báo sổ, trực thuộc NHNo
VN. Hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận tập trung chủ yếu vào lónh vực
tín dụng, trong đó tín dụng nông nghiệp chiếm tỷ trọng dư nợ trên 60%. Bên cạnh
sự cạnh tranh của các TCTD trên đòa bàn, hoạt động kinh doanh của NHNo Bình
Thuận luôn chòu ảnh hưởng nặng nề bởi rủi ro tín dụng do thiên tai cùng các yếu
19

tố thuộc môi trường nội tại. Vì vậy, kết quả kinh doanh của NHNo Bình Thuận
nhiều năm liền còn hạn chế và chỉ chuyển biến đáng kể trong những năm gần
đây.
2- Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
2.1- Kết quả đạt được.
Thứ nhất, NHNo Bình Thuận đã huy động một lượng vốn đáng kể, góp
phần tháo gỡ khó khăn về vốn để cấp tín dụng, từng bước mở rộng hoạt động
kinh doanh.
Biểu 1: Tăng trưởng nguồn vốn của NHNo Bình Thuận.

Đơn vò tính: tỷ đồng

Chỉ Tiêu 2001 2002 2003 2004 BQ
1- Vốn huy động của NHNo
B.Thuận
294 442 593 896 556

NHNo Bình Thuận tháo gở khó khăn về vốn tín dụng và thanh toán, từng bước
chủ động hơn về nguồn vốn để đáp ứng cho các nhu cầu thanh khoản và cho vay.
Biểu số 2 : Cơ cấu nguồn vốn của NHNo Bình Thuận.

Đơn vò tính: tỷ đồng
2001 2002 2003 2004 B. quân
Chỉ tiêu
Tiền % Tiền % Tiền % Tiền % Tiền %
1-Tổng
nguồn vốn
799 100 1.032 100 1.450 100
1.58
4
100
1.21
6
100
- Trong
đó, nguồn
huy động
294 36,80 442 42,83 593
40,9
0
896
56,5
6
556
45,7
2
2-Thò phần

- Tỷ lệ tăng so năm trước(%) - +26,95 +33,82 +25,73 + 28,78
- Tỷ lệ dư nợ trung, dài hạn (%) 46,44 44,24 47,60 43,90 45,54
2- Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế (%) 100 100 100 100
- Nông, Lâm, Ngư nghiệp (%) 66,53 61,45 57,27 52,53
- Công nghiệp, TTCN (%) 14,30 14,45 14,93 15,52
- Thương mại, dòch vụ (%) 4,93 8,06 12,46 16,52
- Khác (%) 14,24 16,04 15,34 15,43
3- Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh
tế (%)
100 100 100 100
- DN nhà nước (%) 15,83 15,31 11,30 9,40
- DN ngoài QD và HTX (%) 3,54 7,09 13,00 17,60
- Hộ gia đình, cá nhân (%) 80,63 77,60 75,70 73,00
* Thò phần theo số dư nợ (%) 50,00 55,00 60,00 59,00 56,00
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Thời gian qua, tổng dư nợ NHNo Bình Thuận (không kể dư nợ
UTNHCSXH) liên tục tăng với mức bình quân là 28,78%/năm. Đây là mức tăng
trưởng khá, dù trong điều kiện năm 2004 NHNo VN khống chế tăng trưởng dư
nợ. So với toàn hệ thống NHTM kể cả Quỹ TDND, thò phần tín dụng của NHNo
Bình Thuận luôn ở mức cao với bình quân thò phần khoản 56%. Phần lớn thò
trường tín dụng nông thôn do NHNo nắm giữ.
Bên cạnh vốn tín dụng đang phân bổ vào nền kinh tế tỉnh ngày càng hợp lý
hơn theo hướng mở rộng tín dụng đối với kinh tế tư nhân, tín dụng trung dài hạn,
tỷ trọng đầu tư nông nghiệp giảm, công nghiệp, dòch vụ tăng phù hợp với chuyển
dòch cơ cấu kinh tế đòa phương.
Quá trình triển khai hoạt động tín dụng, NHNo Bình Thuận đã phân bổ vốn
tín dụng, áp dụng lãi suất cho vay một cách hợp lý giữa khu vực thành thò và nông
thôn tạo điều kiện cạnh tranh, mở rộng thò phần thành thò, chiếm lónh hầu hết thò
22

6,70 7,18 10,52 11,01 8,85
d-Trích dự phòng rủi ro
9,65 8,32 6,60 11,43 9,00
e-Chi phí hoạt động KD khác
7,83 11,15 16,03 26,41 15,36
3-Qũy thu nhập
24,72 25,25 33,02 27,68 27,67
4-Lợi nhuận trước thuế
18,02 18,07 22,50 16,67 18,82
5-Tốc độ tăng doanh thu (%)
- +29,02 +35,45 +18,37 +27,42
6-Tốc độ tăng chi phí (%)
- +37,86 +37,90 +27,31 +34,26
7-Tốc độ tăng quỹ thu nhập (%)
- +2,14 +30,77 -16,17 +3,84
8-Tốc độ tăng lợi nhuận trước
thuế (%)

-
+0,28 +24,52 -25,91 -2,56
9-Lợi nhuận sau thuế
12,97 13,01 16,20 12,00 13,55
10-Chênh lệch lãi suất (%)
+0,315 +0,380 +0,266 +0,354 +0,329
Nguồn: Báocáo Tài chính NHNo Bình Thuận các năm 2001, 2002, 2003, 2004.
23

Từ đơn vò khó khăn về tài chính do đòa bàn dàn trải rộng, biên chế lao động
lớn, chi phí hoạt động cao, lại thường xuyên gặp rủi ro bất khả kháng, đến nay
NHNo Bình Thuận đã cơ bản vượt qua khó khăn, từng bước cân đối được tài


Biểu số 5: Cơ cấu nguồn vốn huy động của NHNo Bình Thuận phân theo tính
chất nguồn vốn.

Đơn vò tính: tỷ đồng
2001 2002 2003 2004 BQ
Chỉ tiêu
Giá
trò
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trò
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trò
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trò
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trò
Tỷ

trò
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trò
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trò
Tỷ
trọng
(%)
Nguồn huy
động
294 100 442 100 593 100 896 100 556 100
+TG không kỳ
hạn
117 39,80 179 40,50 249 42,00 372 41,52 229 41,19
Trong đó: TG
KBNN
53 18,02 120 27,15 135 22,76 224 25,00 133 23,92
+TG có kỳ hạn
< 12 tháng
123 41,84 148 33,48 190 32,04 309 34,50 193 34,71
+TG có kỳ hạn
≥ 12 tháng
54 18,37 116 26,24 154 25,97 215 23,97 134 24,10
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.


Đơn vò tính: tỷ đồng
CHỈ TIÊU 2001 2002 2003 2004 BQ
1-Dư nợ 757 961 1286 1617 1155
2-Nợ QH thực tế (%) 2,90 6,07 5,65 3,85 5,08
3-Nợ QH trên cân đối kế toán(%) 1,27 1,56 1,74 1,00 1,48
4-Nợ khoanh, đọng (%) 0,73 3,78 2,94 2,85 2,95
5-Nợ QH chưa chuyển (%) 0,90 0,73 0,97 0 0,65
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Nợ quá hạn trên cân đối kế toán chiếm tỷ trọng bình quân 1,48%, Tuy
nhiên nợ quá hạn thực tế (bao gồm: nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chưa
chuyển) lại là con số lớn hơn nhiều. Qua nghiên cứu số liệu 4 năm (2001-2004)

Trích đoạn TÀI LIEƠU THAM KHẠO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status