MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SECPENTIN VÀ PHÂN BÓN THANH HÓA - Pdf 15

MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 1
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
Chương I:
Hiệu quả kinh doanh và những chỉ tiêu đánh giá ........................................ 2
I. Khái niệm hiệu quả kinh doanh ........................................................................ 2
II. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp .................... 6
1. Các chỉ tiêu chung ......................................................................................... 6
2. Chỉ tiêu cụ thể ............................................................................................... 7
2.1.Doanh thu ................................................................................................ 7
2.2.Lợi nhuận ................................................................................................. 8
2.3.Tỷ suất lợi nhuận ..................................................................................... 9
2.4. Hiệu quả sử dụng lao động ................................................................... 10
2.5. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định ......................................................... 11
2.6. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ....................................................... 11
2.7. Nộp ngân sách nhà nước: ..................................................................... 12
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ...... 12
1. Các nhân tố bên ngoài .................................................................................. 12
2.Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp: ....................................................... 18
IV. Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần trong nền kinh tế
thị trường .............................................................................................................. 20
1. Đặc điểm của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa ......................................... 20
2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần hóa. ............. 22
3.Tình hình hiệu quả kinh doanh của các công ty sau cổ phần hóa ................... 23
4.Các yếu tố cải thiện hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần ................ 24
Chương II:
Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Secpentin và Phân
bón Thanh Hóa .............................................................................................. 27
I. Tổng quan về công ty cổ phần Secpentin và Phân bón Thanh Hóa ........... 27
1.Lịch sử hình thành và phát triển công ty ....................................................... 27
2.Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm cung cấp ................................................. 29

Do đó việc nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi
hỏi tất yếu đối với doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hiện nay.
Vì vậy trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Secpentin và phân bón
Thanh Hóa,với những kiến thức đã tích lũy được cùng với sự quan tâm giúp đỡ tận
tình của các cô chú tại công ty và đặc biệt là sự góp ý,hướng dẫn của thầy giáo – PGs
Nguyễn Tiến Dũng đã giúp em thực hiện đề tài : “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SECPENTIN
VÀ PHÂN BÓN THANH HÓA”
Nội dung chuyên đề bao gồm các phần sau:
Chương I : Hiệu quả kinh doanh và những chỉ tiêu đánh giá
Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Secpentin và
Phân bón Thanh hóa.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ
phần Secpentin và Phân bón Thanh Hóa.
1
Chương I:
Hiệu quả kinh doanh và những chỉ tiêu đánh giá
I. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, việc nâng cao hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh luôn là một vấn đè được đặt lên hàng đầu. Nó là yếu tố
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp trước sự cạnh tranh
khốc liệt của thị trường như hiện nay.
Vậy hiệu quả kinh doanh là gì?
Trước hết ta tìm hiểu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là gì và như thế
nào thì được gọi là hiệu quả?
Hoạt động kinh doanh theo luật định, là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện trên
thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, chẳng
hạn:

nghĩa là với cùng một mức nguồn lực như nhau. Doanh nghiệp đó sẽ tạo ra được
nhiều hàng hóa dịch vụ hơn các doanh nghiệp khác, như vậy mức lợi nhuận của
doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác tinh theo cùng một mức nguồn lực sẽ cao
hơn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của doanh nghiệp.
Hay cũng có thể hiểu theo một cách khác: “ Hiệu quả sản xuất kinh doanh là
các chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh sự khai
thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ các mục tiêu kinh tế của doanh
nghiệp”.
3
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế,nó phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuất,kinh doanh đạt hiệu quả
cao nhất với mức chi phí thấp nhất.Bên cạnh đó hiệu quả cũng phải gắn liền với việc
thực hiện mục tiêu của doanh nghiêp và được thể hiện qua công thức :
Hiệu quả kinh doanh(H)=
Với quan niệm trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí
đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; hiệu quả kinh doanh được hiểu trước tiên là
việc hoàn thành mục tiêu, nếu không hoàn thành mục tiêu thì không thể có hiệu quả
và để hoàn thành mục tiêu ta cần sử dụng nguồn lực như thế nào?
Trong thực tế hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được
trong các trường hợp sau:
Kết quả tăng, chi phí giảm.
Kết quả tăng, chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng
của kết quả.
Nói tóm lại, ở tầm vĩ mô hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của
quá trình sản xuất kinh doanh như: Kết quả kinh doanh,trình độ sản xuất tổ chức,tổ
chức sản xuất và quản lý, trình độ sử dụng của yếu tố đầu vào…Đồng thời nó yêu
cầu sự phát triển của doanh nghiệp theo chiều sâu.
Có thể nói hiệu quả kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng hơn
đối với sự phát triển của một doanh nghiệp nói riêng và sự tăng trưởng của toàn bộ
nền kinh tế nói chung và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh

Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là nâng cao khả năng sử dụng các
nguồn lực có hạn trong sản xuất,đạt được sự lựa chọn tối ưu.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, trong
cuộc cạnh tranh đó có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng không
ít doanh nghiệp đã thua lỗ,giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại trong cơ chế thị
5
trường,các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng sản phẩm,giảm chi phí sản
xuất, nâng cao uy tín…nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận.Trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay,các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận
càng cao càng tốt. Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh
luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để
doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Trông bối cảnh toàn cầu hóa thương mại, và việc Việt Nam gia nhập WTO thì
cơ hội phát triển cho công ty Cổ Phần Secpentin và phân bón Thanh Hóa lại càng
nhiều.Nhưng cơ hội luôn đi đôi với những thách thức,thách thức ở đây chính là sự
cạnh tranh. Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc cạnh tranh sẽ ngày càng
khốc liệt hơn.Điều đó bắt buộc công ty phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
nếu như không muốn bị tụt hậu và bị đối thủ cạnh tranh loại khỏi thương trường.
II. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống chỉ tiêu này được áp cho hầu hết các doanh nghiệp trong việc đánh giá
hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, phụ thuộc vào tình hình của từng doanh nghiệp mà
có thể áp dụng một trong số các chỉ tiêu trong hệ thống sau.
1. Các chỉ tiêu chung
Hiệu quả kinh doanh = .
Kết quả đầu ra có thể được đo bằng chỉ tiêu hiện vật như số lượng sản xuất sản
phẩm sản xuất ra tính theo đơn vị của sản phẩm sản xuất ra hay có thể được tính
bằng đơn vị giá trị như tiền hoặc các đơn vị giá trị khác.
Chi phí đầu vào cũng vậy, có thể được đo bằng chỉ tiêu hiện vật như số lượng
nguyên vật liệu cần cho sản xuất, số lượng nguyên liệu để sản xuất. Nhưng cũng có
thể được đo lường bằng đơn vị giá trị mà cụ thể là số tiền chi trả cho việc mua các

- Giá tăng, sản lượng tăng. Điều này là điều ít gặp trong nền kinh tế thị trường
nhưng không có nghĩa là không xảy ra. Hầu hết nó diễn ra trong các loại hàng hóa
độc quyền ví dụ như điện, nước….
Tuy nhiên,nói như vậy không có nghĩa khi doanh thu tăng lên đã chứng tỏ
doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Doanh thu tăng nhiều khi do giá bán trên thị trường
tăng nhưng giá bán tăng có thể do một số tác động như lạm phát, đầu cơ…những yếu
tố này làm cho doanh thu tăng nhưng hoạt động kinh doanh được xem là không hiệu
quả.
Hơn nữa khi doanh thu tăng lên do sản lượng tăng, nhưng cũng vì vậy kéo theo
chi phí sản xuất cũng lên.Nếu tốc độ tăng của chi phí sản xuất lớn hơn tốc độ tăng
của doanh thu điều này làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.Điều này cho thấy
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả.
Vì thế, khi đánh giá chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp phải có sự xem xét
một cách đồng bộ tất cả những vấn đề trên.
2.2.Lợi nhuận
Trong kế toán,lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất.Có
sự khác nhau như vậy,bởi vì trong kế toán, họ chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền,
mà không kể các chi phí cơ hội như trong kinh tế học
Trong kinh tế học, lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận được sau quá
trình đầu tư khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó.bao gồm cả chi phí cơ
hội.Hay chính là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Lợi nhuận= Doanh thu – Chi phí.
Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hóa lợi nhuận sẽ chọn mức sản
lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.Tức là doanh thu khi bán thêm một
đơn vị sản phẩm bằng chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản
xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của
8
doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản như lao động, vật tư,
tài sản cố định..

cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại.
Tuy nhiên, như trình bày ở trên, doanh thu trong một số trường hợp nó lại
không đánh giá chính xác những gì đang diễn ra ở doanh nghiệp.Do đó khi sử dụng
chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả kinh doanh cần phải xem xét tất cả các khía cạnh
trên.
b.Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
P
2
= x 100%
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng chi phí kinh doanh thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận thu được.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.
Tuy nhiên, việc so sánh lợi nhuận thu được với chi phí kinh doanh con phải tính
đến những yếu tố làm tăng lợi nhuận nhưng không phản ánh chính xác hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp như đã phân tích ở trên.
c.Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh
P
3
= x100%
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
Chỉ tiêu này càng lớn so với các kỳ trước hay so với các doanh nghiệp khác,
chứng tỏ khả năng sinh lợi của doanh nghiệp càng cao,hiệu quả kinh doanh càng lớn
và ngược lại.
2.4. Hiệu quả sử dụng lao động
a. Năng suất lao động bình quân
10
Năng suất lao động bình quân =
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả đạt được của một lao động trong thời gian nhất
định.

Phần nộp ngân sách Nhà Nước được trích ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp, và
nó là một khoản bắt buộc phải thực hiện đối với mọi doanh nghiệp hoạt động trong
nền kinh tế quốc dân.Khoản nộp ngân sách càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả, thu được nhiều lợi nhuận.
Đối với các công ty cổ phần, chỉ tiêu quan trọng nhất là những chỉ tiêu về hiệu
suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1. Các nhân tố bên ngoài
a. Môi trường kinh tế và xu hướng thị trường
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh doanh và thành công của doanh nghiệp. Các nhân tố chủ yếu mà các doanh
nghiệp thường phân tích là : Khủng hoảng của nền kinh tế,tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát…
Các cuộc khủng hoảng kinh tế,suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2008 khiến nhiều quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề và Việt Nam cũng chịu
những ảnh hưởng không nhỏ. Sự khan hiếm về đầu vào cũng như gặp khó khăn trong
công đoạn tiêu thụ sản phẩm có những tác động không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
12
Trong những giai đoạn khác nhau, nền kinh tế cũng có tốc độ tăng trưởng khác
nhau theo các giai đoạn thịnh vượng, suy thoái, phục hồi sẽ có những ảnh hưởng nhất
định đến chi tiêu, tiêu dùng.Khi nền kinh tế ở trong giai đoạn tăng trưởng cao, khi đó
cơ hội để kinh doanh càng lớn bởi vì nó thu hút được nhiều nhà đầu tư, tạo điều kiện
mở rộng các hoạt động của doanh nghiệp.Nhưng khi nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng thấp cũng là biểu hiện của một nền kinh tế sa sút. Khi đó, lượng tiêu thụ hàng
hóa giảm và ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu cũng như hiệu quả của doanh nghiệp.
Mức lãi suất cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
của doanh nghiệp. Bởi vì mức lãi suất có ảnh hưởng nhất định đến khả năng vay vốn
của doanh nghiệp.Một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu không có vốn. Vì vậy,

c. Môi trường văn hóa , xã hội
Thái độ tiêu dùng,tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, tháp tuổi luôn là một ảnh hưởng rất
quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp.
Thái độ tiêu dùng của khách hàng là một vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào
cũng quan tâm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lượng hàng hóa mà doanh nghiệp có
thể tiêu thụ được do đó nó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, tháp tuổi cũng vậy, với những hình thái khác nhau
luôn cho ra những nhu cầu khác nhau về hàng hóa, sản phẩm, bắt buộc doanh nghiệp
phải có những hoạt động kinh doanh hợp lí mới thu được hiệu quả cao nhất.
Trình độ dân trí ngày càng cao một mặt mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp về
một đội ngũ lao động tri thức có năng suất lao động cao hơn, đồng thời cũng thách
thức các doanh nghiệp hơn nữa phải nâng cao chất lượng sản phẩm do yêu cầu của
người dân đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũng tăng lên.
14
Trên địa bàn huyện Nông Cống và tỉnh Thanh Hóa,các vấn đề về lao động trên
địa bàn luôn cần được quan tâm để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.Bên cạnh đó
công ty cần phải nắm bắt và nghiên cứu sao cho phù hợp với sức mua, thói quen tiêu
dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư.Những yếu tố này tác động một
cách gián tiếp lên quá trình sản xuất cũng như công tác Marketing và cuối cùng là
hiệu quả kinh doanh của công ty.
d. Nhân tố tự nhiên
Đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì các yếu tố tự nhiên đều có
ảnh hưởng nhất định.Các nhân tố tự nhiên ở đây bao gồm các nguồn lực tự nhiên,địa
hình, đất đai, thời tiết, khí hậu…
Các nhân tố như thời tiết, khí hậu…có ảnh hưởng rất lớn đến quy trình công
nghệ ,tiến độ thực hiện kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp
kinh doanh các mặt hàng mang tính mùa vụ như may mặc, nông ,lâm,thủy sản…Với
những điều kiện thời tiết, khí hậu nhất định thì doanh nghiệp phải có những chính
sách phù hợp với những điều kiện đó.Khi các nhân tố này mất ổn định sẽ tạo ra sự

khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.
Áp lực tương đối của nhà cung ứng thường được thể hiện trong các tình huống
như:
- Nhà cung ứng mà doanh nghiệp cần chỉ có một số thậm chí một doanh nghiệp
độc quyền cung ứng.
- Sản phẩm của nhà cung ứng không có sản phẩm thay thế,doanh nghiệp không
có người cung ứng nào khác.
- Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng của
nhà cung ứng.
16
- Loại đầu vào,chẳng hạn vật tư của nhà cung ứng là quan trọng nhiều đối với
doanh nghiệp.
Là một doanh nghiệp tự khai thác vật liệu, sản xuất sản phẩm nên mức độ ảnh
hưởng của các nhà cung ứng đối với công ty cổ phần Secpentin và phân bón là không
lớn lắm.Tuy nhiên, ở mặt hàng xăng dầu,công ty vẫn phụ thuộc vào các nhà cung cấp
dù chỉ kinh doanh ở mức độ nhỏ.
g. Khách hàng
Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của một
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thành công trước tiên phải là một doanh nghiệp có
uy tin và thõa mãn được nhu cầu của khách hàng.Có thể nói,không một doanh nghiệp
nào là không chịu tác động của khách hàng bởi vì khách hàng là nhân tố trực tiếp tác
động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu như áp lực của khách hàng lớn sẽ làm doanh nghiệp phải đáp ứng tất ả các
nhu cầu của mình về giá bán cũng như tăng chất lượng sản phẩm.Tăng chất lượng
sản phẩm trong điều kiện giá bản phải hạ thấp là nguyên nhân vừa làm cho chi phí
sản xuất tăng lên đồng thời doanh thu cũng phải chịu áp lực lớn.Do đó dễ dẫn đến
nguy cơ giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, khi áp lực của khách hành kém đi thì doanh nghiệp cũng có nhiều
hơn cơ hội thu được nhiều lợi nhuận hơn. Áp lực của khách hàng thường được thể
hiện như:

năng quản trị doanh nghiệp.
Quản lý doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một
hướng đi đúng đắn.Trong một môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt như hiện
18
nay,chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng quyết
định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến hoạt động sáng tạo của đội
ngũ lao động, đến sự đảm bảo cân đối giữa các bộ phận của doanh nghiệp,qua đó tác
động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Đội ngũ các nhà quản trị,đặc biệt là các quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp
bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất,ảnh hưởng có
tính chất quyết định đến sự thành đạt của một doanh nghiệp.Kết quả và hiệu quả hoạt
động quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội
ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu quản lý của doanh nghiệp.
c.Vốn và công nghệ kỹ thuật.
Trong bất cứ hoạt động nào thì vốn và công nghệ kỹ thuật cũng luôn là một
nhân tố quan trọng.
Mọi kế hoạch về đầu tư,xây dựng,sản xuất kinh doanh…mà không có vốn thì
cũng trở thành không tưởng.Đối với các doanh nghiệp,vốn có vai trò quyết định đến
quy mô hoạt động của doanh nghiệp và được hình thành từ ba nguồn chính: Vốn tự
do,vốn do Nhà nước cấp và vốn đi vay.Vốn của doanh nghiệp được phân bổ dưới 2
dạng chính là vốn cố định và vốn lưu động.
Khả năng quay vòng vốn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.Nếu khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp càng cao,vòng quay càng nhỏ
thì lượng vốn cho mỗi kỳ sản xuất sẽ nhiều hơn và sẽ vàng thuận lợi cho doanh
nghiệp về vấn đề huy động vốn hơn.
Trong môi trường kinh tế thị trường như hiện nay, kỹ thuật công nghệ trở thành
một yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Kỹ thuật công nghệ tiến bộ góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cao năng suất lao động từ đó góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển,đảm

Sau khi cổ phần hóa, doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi hơn để sản xuất,kinh
doanh.
- Công ty cổ phần có thể tập trung được nhanh số vốn có quy mô lớn và hiệu
quả cao.Bằng việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp có thể tập trung
được lượng vốn lớn để đầu tư và phát triển doanh nghiệp.Đây có thể nói là ưu điểm
lớn nhất của công ty cổ phần,khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác bởi vì
công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép phát hành cả cổ phiếu
và trái phiếu để huy động vốn.
- Công ty cổ phần hoạt động theo chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn. Theo chế độ
này thì có sự phân biệt rõ ràng tài sản của công ty và phần vốn của cổ động.Trách
nhiệm tài chính của công ty giới hạn trong phạm vi tài sản của công ty và phần vốn
của cổ đông theo tỷ lệ đóng góp của mỗi người. Điều này đã hạn chế đến mức thấp
nhất những thiệt hại,rủi ro,thua lỗ.
- Với những khả năng tập trung vốn tương đối lớn,các công ty cổ phần có thể
tranh thủ khoa học kỹ thuật,công nghệ hiện đại,mạnh dạn đầu tư vào các ngành nghề
mới,có triển vọng đạt lợi nhuận cao làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế, từ đó tác động
đến phân công lao động,xã hội.Cơ cấu đội ngũ công nhân cũng biến đổi không chỉ
tăng về số lượng mà còn trình độ lành nghề,các chức năng của đội ngũ quản lý điều
hành cũng chuyên sâu và đa dạng hơn.Trong nội bộ công ty do phân định rõ ràng
giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh nên tạo cho những người góp vốn tham gia
quản lý thật sự công ty và lựa chọn những giám đốc,những thành viên Hội đồng quản
trị có tài năng và tích cực,đủ sức đảm nhiệm chức trách,đảm bảo được quyền lợi,lợi
ích cũng như trách nhiệm của các chủ sở hữu.Chính vì vậy công ty cổ phần giúp đẩy
nhanh quá trình phân công chuyên môn hóa,một trong những điều kiện nâng cao hiệu
quả kinh doanh.
21
2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần hóa.
a. Giá trị gia tăng/đầu vào
Nếu tốc độ tăng của giá trị gia tăng lớn hơn tốc độ tăng của đầu vào thì doanh
nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh. Trong trường hợp tốc độ tăng của hai chỉ tiêu này

Trong số các công ty cổ phần có thể chia làm hai nhóm:
- Nhóm có tỷ lệ sinh lời dương: Đại bộ phận nhóm này là các công ty được cổ
phần hóa từ các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả.
- Nhóm có tỷ lệ sinh lời âm,là những công ty được cổ phần hóa từ các doanh
nghiệp Nhà nược bị thua lỗ.
Cho nên một số công ty cổ phần bị thua lỗ, nhưng vẫn chưa thể kết luận được
công ty này làm ăn kém hiệu quả.
3.Tình hình hiệu quả kinh doanh của các công ty sau cổ phần hóa
Những chính sách ưu đãi của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
được cổ phần hóa dần đi vào ổn định và đạt những kết quả đáng kể.
Đa số các doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa đã hoạt động hiệu quả hơn
song cũng không còn ít những khó khăn, vướng mắc, sự yếu kém về năng lực trình
độ,lúng túng trong quản lý, điều hành và một số những hạn chế từ phía cơ chế chính
sách và luật pháp.
Theo kết quả khảo sát điều tra có tới hơn 90% các công ty cổ phần đánh giá
rằng, tình hình tài chính của họ tốt hơn so với thời kỳ chưa cổ phần hóa.Trong đó hơn
10% các công ty cho rằng,tình hình tài chính đã tốt hơn rất nhiều so với trước kia và
chỉ có khoảng 3% trong số các công ty được khảo sát cho rằng, tình hình tài chính có
xu hướng xấu đi. Tốc độ tăng trưởng tài sản ở các công ty cổ phần hàng năm là gần
20%,do sự bỏ vốn đầu tư mới và lợi nhuận dùng để tái đầu tư.
23

Trích đoạn Kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2007-2009
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status