sự phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn hiện nay - trường hợp nghiên cứu tại xã hùng tiến, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 23

Sau quá trình học tập, nghiên cứu và thực tập tại địa phương tôi đã hoàn thành
khóa luận với đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn hiện
nay – Trường hợp nghiên cứu tại xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”.
Qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ban lãnh đạo trường Đại
học Khoa học cũng như ban lãnh đạo khoa Lịch sử đã tạo điều kiện cho chúng tôi
thực hiện chuyến thực tập bổ ích này. Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến cô
giáo Lê Thị Kim Dung, người đã rất nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi
trong quá trình giảng dạy cũng như thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể chính quyền và nhân dân xã Hùng
Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình đón tiếp và tạo mọi điều kiện tốt
nhất cho chúng tôi trong quá trình thực tập, thực tế tại địa phương.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do hạn chế về mặt thời gian cũng như về
năng lực nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót rất mong thầy, cô đóng góp ý
kiến để khóa luận này có thể hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 18/5/2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thương
1
1
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội Việt Nam ngày xưa có một thời kỳ dài sống trong chế độ mẫu hệ,
con cái mang họ mẹ, người phụ nữ trong gia đình có quyền quyết định tất cả.
Thời gian dài sau đó nhu cầu hình thành gia đình hạt nhân, do phải đi làm ăn
xa, đặc thù của công việc ngày càng hiện đại, người đàn ông dần chiếm ưu thế
và chế độ phụ hệ hình thành. Qua các giai đoạn lịch sử, do thay đổi về hoàn
cảnh chính trị, sự phát triển của công nghệ hiện đại, vai trò của phụ nữ và nam
giới trong xã hội cũng thay đổi. Người nam giới ngày càng được coi trọng, là
người chủ trong gia đình, được tham gia các công việc cộng đồng, không
ngừng nâng cao địa vị xã hội. Còn người phụ nữ gắn liền với công việc nội trợ,
chăm sóc con cái, sự tiến thân trong xã hội là điều ít được biết đến.Tư tưởng

tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng Xã
hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó thể hiện quan điểm nhân đạo thực hiện nam nữ
bình đẳng. Quan điểm “nam, nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ xác định
ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930.
Trong gia đình nông thôn từ thời xa xưa trong những câu ca dao tục ngữ
đã hàm chứa sự phân công lao động theo giới trong gia đình “Chồng cày vợ
cấy, con trâu đi bừa”. Theo đó, sự phân công lao động theo giới trong gia đình
nông thôn người đàn ông vẫn là trụ cột trong gia đình, đảm nhận những công
việc nặng nhọc, tạo ra của cải vật chất, người phụ nữ làm những công việc nhẹ
nhàng hơn và giáo dục chăm sóc các thành viên trong gia đình. Ngày nay, do
tác động của nền kinh tế cho nên người phụ nữ cũng tham gia vào việc tạo ra
của cải vật chất, họ dùng sức lao động của mình kiếm tiền trang trải cuộc sống
gia đình, họ có thể kiếm thêm thu nhập bằng những công việc gia đình của họ
như chăn nuôi gia súc, Tuy nhiên, những đóng góp của người phụ nữ vẫn
không được công nhận là người tạo ra của cải vật chất cho gia đình mà họ được
coi là người phụ giúp người đàn ông xây dựng kinh tế, những suy nghĩ ấy vẫn
còn mờ nhạt đối với người phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ nông thôn, họ ít có
điều kiện để tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong cộng đồng, mà điều này
chỉ giành cho người nam giới. Theo tổ chức lao động Thế giới (ILO) năm 2002,
nền kinh tế thế giới đã bỏ qua 11 tỉ USD từ thu nhập của người phụ nữ do họ
làm những công việc gia đình.
Sự thay đổi về giới làm cho cả nam và nữ tự nhận thức được vai trò của
bản thân mình, tự điều chỉnh và thích nghi với nhau trong cả suy nghĩ và hành
động. Công việc gia đình giờ đây không chỉ là bổn phận của người phụ nữ,
đồng thời việc kiếm tiền nuôi sống gia đình cũng như việc tham gia các quan
3
3
hệ xã hội bên ngoài gia đình không còn là khoảng trời riêng của nam giới.
Người vợ tham gia vào công việc rộng lớn hơn, ngược lại người chồng phải
chia sẻ bổn phận và trách nhiệm đối với công việc nhà, ngay cả trong công việc

4
4
Nghiên cứu đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn
hiện nay”, qua nghiên cứu tại xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, sử
dụng những phương pháp đặc thù nhằm làm rõ thực trạng sự phân công lao
động giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình hiện nay, quyền quyết định các
công việc trong gia đình giành cho ai. Đồng thời làm rõ một số lý thuyết xã hội
học trong nghiên cứu về các vấn đề thực tiễn của gia đình.
Từ kết quả đạt được từ nghiên cứu, tôi hy vọng đóng góp vào cơ sở lý luận
của các chuyên ngành Xã hội học gia đình, Xã hội học giới,… trong việc khẳng
định tầm quan trọng của nghiên cứu về vai trò giới trong gia đình. Đặc biệt
nhấn mạnh mối tương quan giữa vị trí, vai trò của vợ và chồng trên cơ sở phân
tích, nhìn nhận lý giải các vấn đề phân công lao động trong gia đình.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chất lượng
cuộc sống của người dân được cải thiện đáng kể, kinh tế hộ gia đình phát triển,
vai trò của từng thành viên trong gia đình ngày càng nặng nề hơn. Đặc biệt, đối
với gia đình nông thôn đang trong quá trình xây dựng chương trình nông thôn
mới toàn thể nhân dân đang ra sức thi đua phát triển kinh tế hộ gia đình, vì vậy
trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng có sự thay đổi. Người phụ nữ ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc gia đình và xây dựng quê hương
đất nước. Vì vậy, qua nghiên cứu đề tài “Phân công lao động theo giới trong
gia đình nông thôn hiện nay” trường hợp nghiên cứu tại xã Hùng Tiến, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, tôi mong muốn góp phần nâng cao nhận thức của các
thành viên trong mỗi gia đình về sự bình đẳng trong phân công lao động, xóa
bỏ đi những suy nghĩ, định kiến không đáng có mà xã hội giành cho những
người phụ nữ, góp phần giải phóng người phụ nữ, giúp họ nâng cao địa vị
ngoài xã hội.
Hy vọng cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính
sách, những người quan tâm về vấn đề phân công lao động dưới góc độ giới,

Thế Giới, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội 2001). Báo cáo nhằm mục đích
nâng cao sự hiểu biết về mối quan hệ giữa vấn đề giới, chính sách và sự phát
triển góp phần thúc đẩy sự bình đẳng giới. Báo cáo đề xuất một chiến lược 3
phần để nâng cao sự bình đẳng giới. Báo cáo đề cập đến việc phá vỡ sự phân
công lao động cứng nhắc theo giới thông qua việc tiếp cận các nguồn lực về
kinh tế và chính sách xã hội.
Đề tài nghiên cứu “Phụ nữ và nam giới và cải cách kinh tế nông thôn”
được nghiên cứu bởi trung tâm nghiên cứu phụ nữ và gia đình vào năm 1995.
Đề tài đã đề cập đến sự phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân
6
6
trong quá trình chuyển đổi kinh tế cũng như các vấn đề xã hội đặt ra xung
quanh mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với tính công bằng và sự bình đẳng
giới từ sự phân công lao động đó.
Công trình nghiên cứu của giáo sư Lê Thi “Phụ nữ và bình đẳng giới trong
đổi mới ở Việt Nam” trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ lại khẳng
định mục tiêu của việc nghiên cứu giới nhằm tạo nên sự phát triển tốt đẹp và sự
phân công hợp lý giữa hai giới nam và nữ không chỉ trong lao động sản xuất ở
các nghành nghề mà còn trong các hoạt động tổ chức, xây dựng cuộc sống gia
đình và nuôi dạy con cái. Ở tất cả các hoạt động đều cần đến trí tuệ của cả hai
giới, phù hợp với những đặc điểm và khả năng của họ góp phần tạo nên tính hài
hòa trong từng gia đình.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị nói về vai trò của
phụ nữ và nam giới trong gia đình như:
- “ Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ 21” trung tâm nghiên
cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển, NXB khoa học xã hội
1995.
- “ Nghiên cứu về đào tạo giới ở Việt Nam” NXB khoa học xã hội 1998.
- “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” trung tâm nghiên cứu khoa học
về gia đình và phụ nữ, NXB khoa học và xã hội 1991.

nữ và nam giới diễn ra như thế nào trong đời sống nông thôn, tìm hiểu những
nhìn nhận của cộng đồng nơi đây về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và
sự bình đẳng trong phân công lao động theo giới. Để thấy được có hay không
sự bất bình đẳng trong phân công lao động trong gia đình. Từ đó tuyên truyền
làm thay đổi những suy nghĩ thiếu tích cực để người phụ nữ có cơ hội tiếp cận
với các nguồn lực, lợi ích của gia đình và cộng đồng.
Tìm hiểu những biến đổi vai trò vị thế giữa phụ nữ và nam giới trong gia
đình nông thôn hiện nay, những nguyên nhân làm thay đổi vấn đề bình đẳng
trong phân công lao động theo giới. Giúp cho người phụ nữ được tiếp cận các
lợi ích, nguồn lực bình đẳng như nam giới.
Nhân viên công tác xã hội là một trong những đội ngũ có thể làm hạn chế
vấn đề bất bình đẳng trong phân công lao động theo giới, thông qua tác động
trực tiếp và gián tiếp bằng các phương pháp giáo dục truyền thông. Với vai trò
là nhà Công tác xã hội, những người làm công tác xã hội cần sử dụng những
kiến thức, kỹ năng chuyên ngành làm thay đổi nhận thức, suy nghĩ tiêu cực của
người dân, thổi một làn gió mới với những tư tưởng tiến bộ khi nói về vai trò
của người phụ nữ. Để từ đó, trong tiềm thức của mỗi con người, đặc biệt là
người dân nông thôn họ đều đánh giá cao vai trò, địa vị của người phụ nữ,
không chỉ trong gia đình mà còn ngoài cộng đồng. Nhân viên công tác xã hội
hành động để cân bằng phân công lao động theo giới trong gia đình, phân chia
công việc một cách hợp lý, nhằm tạo điều kiện cho người phụ nữ có cơ hội giải
8
8
phóng bản thân về cả thể chất và tinh thần, có điều kiện tham gia các hoạt động
cộng đồng, tiếp cận với các dịch vụ, nguồn lực và lợi ích mà xã hội mang lại
cho họ, đồng thời khẳng định địa vị của bản thân.
6. Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài cần nghiên cứu cần đạt được những mục
tiêu cụ thể sau:
- Đề tài tìm hiểu thực trạng phân công lao động theo giới đang diễn ra trên địa

các hiện tượng – sự kiện khác. Ngoài ra phải có quan điểm toàn diện khi đánh
giá về một vấn đề để tránh cách nhìn phiến diện.
Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể bằng cách tiếp cận, nghiên cứu, xem
xét vấn đề theo quan điểm tôn trọng giữ gìn và phát huy những nét đẹp, tích
cực của lịch sử, bên cạnh đó xóa bỏ những cái lạc hậu, tiêu cực, không phù hợp
với sự biến đổi và phát triển của xã hội.
Vận dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của xã hội học Mác xít nhằm
giải thích sự vận động, biến đổi và phát triển của việc phân công lao động, nhất
là vấn đề phân công lao động theo giới. Đề tài nghiên cứu vận dụng các lý
thuyết như: Lý thuyết xã hội học về giới, lý thuyết tương tác biểu trưng của
giới, lý thuyết xã hội hoc gia đình, vai trò giới, lý thuyết chức năng giới,…
Bên cạnh đó khóa luận còn vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về quyền
bình đẳng cho phụ nữ và bình đẳng trong phân công lao động theo giới. Cùng
với đó khóa luận cũng vận dụng những chủ trương, đường lối chính sách của
Đảng và Nhà Nước, những văn kiện đổi mới, về giải phóng phụ nữ được ban
hành, những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
7.2.1.1. Thông tin thứ cấp
Khóa luận sử dụng những báo cáo tổng kết hằng năm của Ủy ban nhân dân
xã Hùng Tiến, báo cáo tổng kết của Hội liên hiệp phụ nữ xã Hùng Tiến. Những
công trình nghiên cứu đã có từ trước như đề tài: Người phụ nữ và gia đình Việt
Nam hiện nay” trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, NXB
khoa học và xã hội 1991. Những tác phẩm nghiên cứu về phụ nữ và giới của
giáo sư Lê Thi để làm nên khóa luận này.
7.2.1.2. Thông tin sơ cấp
- Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu,
trong quá trình tiến hành thu thập thông tin bằng bảng hỏi, tôi tiến hành quan
10

nữ và nam giới trong gia đình nông thôn hiện nay.
11
11
Sau khi tham gia thảo luận nhóm đã đưa ra những công việc chính trong
gia đình mà họ thường làm, như sau:
12
12
Bảng 1. Bảng phân tích phân chia các công việc giữa phụ nữ và nam giới
trong gia đình nông thôn hiện nay.
Xóm Đông Sơn, Xã Hùng Tiến. Ngày 23/4/2014 Nhóm: Nữ
Người thực hiện
Các công việc chính
Phụ nữ Nam giới Cả hai
1. Công việc nội trợ
Đi chợ
Nấu nướng
Giặt giũ
Dọn dẹp nhà cửa
2. Hoạt động kinh tế
Hoạt động sản xuất
Hoạt động kinh doanh
3. Chăm sóc và giáo dục con cái
Chăm sóc các thành viên trong gia
đình
Giáo dục con cái
4. Công việc dòng họ và cộng đồng
Quyền quyết định các việc lớn
trong gia đình
Đại diện tham gia các công việc
dòng họ

đẳng giới, những nghiên cứu về giới và xây dựng quyền cho phụ nữ. Bên cạnh
đó đề tài còn làm nền tảng cho những báo cáo, những khóa luận sau này khi
nghiên cứu về giới và sự phân công lao động theo giới.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, CÁC
KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
14
14
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hùng Tiến là 1 trong 24 xã của huyện Nam Đàn, là một xã đồng bằng
cách trung tâm huyện Nam Đàn khoảng 5km về phía Đông Bắc. Xã có phần
ranh giới giáp với các xã Nam Lĩnh, xã Xuân Hòa về phía Bắc. Phía nam giáp
xã Hồng Long và Xuân Lâm. Phía Đông giáp xã Kim Liên. Phía Tây giáp xã
Nam Lộc.
Xã Hùng Tiến tổng diện tích đất tự nhiên là 1032,84 ha. Dân số hơn 8920
nhân khẩu, được phân bố trên 19 xóm, là xã có 3 hợp tác xã dịch vụ sản xuất
nông nghiệp. Có một Đảng bộ gồm 23 chi bộ, với 250 Đảng viên. [1, tr.1]
Xã Hùng Tiến bao gồm 10 điểm dân cư chính sau:
Điểm dân cư số 1: xóm Đồng Văn
Điểm dân cư số 2: gồm xóm Đồng Trung, xóm Trường Cửu
Điểm dân cư số 3: gồm xóm Xuân Lâm, Bình Sơn, Phúc Chỉ
Điểm dân cư số 4: gồm xóm Tiền Tiến, Liên Sơn, Tăng Tiến
Điểm dân cư số 5: gồm xóm Trường Tiến, Trường Sơn
Điểm dân cư số 6: gồm xóm Đông Sơn, Trung Chính
Điểm dân cư số 7: gồm xóm Trang Thọ, Quyết Tiến
Điểm dân cư số 8: gồm xóm Đông Anh, Tân Tiến
Điểm dân cư số 9: gồm xóm Nam Sơn, Đông Lĩnh
Điểm dân cư số 10: gồm các hộ dân cư ven quốc lộ 46 – chợ Vạc. [1, tr.3]

nông. Chạy về phía Bắc của xã là quốc lộ 46 và phía Tây Nam của xã là đường
ven Sông Lam với nhiều chức năng về giao thông thủy lợi và cảnh quan có thể
khôi phục và khai thác du lịch.
Bên cạnh những mặt tích cực, xã còn có những hạn chế nhất định như:
nằm trong vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão lũ trong mùa mưa,
ngoài ra những khu vực lập kế hoạch còn chịu ảnh hưởng của các tai biến thiên
nhiên khác như gió Tây Nam khô nóng,… Vì vây, khi phát triển xây dựng cần
đầu tư khá lớn cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật để đảm bảo bền vững.
1.1.1.5. Tài nguyên đất
Xã Hùng Tiến có diện tích đất tự nhiên là 1032.84 ha.
Bảng 2: Diện tích đất sử dụng trên địa bàn xã Hùng Tiến.
Loại đất sử dụng Diện tích (ha)
Đất thổ cư, đất ở <300
Đất nông nghiệp 749
Trong đó: 374,25
16
16
Đất trồng lúa
Đất chuyên màu 156,15
Đất vườn trồng cây lâu năm 146,06
Đất nuôi trồng thủy sản 72,91
Đất nông nghiệp khác 0,4
(Nguồn: báo cáo tổng kết năm 2010 - 2013 của xã Hùng Tiến)
1.1.1.6. Tài nguyên nước
Nguồn nước sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã được cung cấp bởi nước
của dòng sông Lam và sông Lam Trà. Đây là nguồn nước mặt lớn nhất do
lượng nước của sông Lam quanh năm đầy nước. Phục vụ tốt cho sản xuất của
bà con nơi đây. Hơn nữa, đây là một vùng trũng nên nguồn nước ngầm lớn, đáp
ứng được nhu cầu nước sinh hoạt cho toàn xã.
1.1.2. Điều kiện kinh tế

Cây ngô: 315,4 ha đạt năng suất bình quân 42,8 tạ/ha. Sản lượng 1.350.7
tấn, so với kế hoạch đạt 97,9%.
Cây lạc: 84 ha đạt năng suất bình quân 5.56 tạ/ha. Sản lượng 147 tấn, so
với kế hoạch đạt 90.8%. [1,tr.5]
Ngành chăn nuôi
Tổng đàn trâu bò có: 1.669 con. So với kế hoạch đạt 79.5%.
Tổng đàn lợn có: 3.552 con. So với kế hoạch đạt 65.6%.
Tổng đàn gia cầm: 50.025 con. So với kế hoạch đạt 76.25%. [1,tr.5]
Ngành chăn nuôi của xã phát triển tương đối khá. Giá trị sản xuất ngành
chăn nuôi đạt hơn 8 tỷ đồng/ năm. Chiếm 36.6% tỷ trọng ngành nông nghiệp.
Trên địa bàn toàn xã có hơn 30 tiểu trang trại chăn nuôi kết hợp với gia súc, gia
cầm, cá. Đây cũng chính là ngành mang lại thu nhập chủ yếu của người dân sau
ngành trồng trọt.
- Ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ.
Do đặc điểm nền kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, Hùng
Tiến không có làng nghề thủ công nghiệp nên Công nghiệp và Dịch vụ của xã
phát triển theo hướng đa ngành đa nghề; các ngành nghề Công nghiệp – Thủ
công nghiệp chủ yếu là sản xuất gạch nung, hàn xì gia công cửa sắt, mộc, xay
18
18
xát,…; ngành nghề dịch vụ chủ yếu là kinh doanh xây dựng, vận tải, vật liệu
xây dựng, vật tư nông nghiệp và buôn bán tạp hóa,…
Tổng toàn xã có 164 lao động tham gia sản xuất ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và 345 lao động hoạt động trong ngành dịch vụ thương mại.
Giá trị sản xuất ngành tiểu thủ công nghiệp năm 2010 là 4.83 tỷ đồng.
Giá trị sản xuất thương mại là 11.29 tỷ đồng. [1,tr.7]
Nền kinh tế của xã hiện nay vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với tỷ
trọng chiếm khá cao, do vậy đời sống nhận dân còn gặp nhiều khó khăn, thu
nhập běnh quân đầu người còn thấp. Trong những năm tiếp theo xã cần đẩy
mạnh phát triển dịch vụ thương mại và tiểu thủ công nghiệp, là những ngành

triển tự nhiên mang dáng dấp dân cư nông nghiệp. Đến nay xã đã hình thành
được 10 điểm dân cư, phân bố chủ yếu cư trú theo quốc lộ 46, các trục giao
thông liên xã và đường ven sông Lam. Trên địa bàn xã không có những trại lẻ
hay hộ lẻ nằm riêng rẽ mà quy tập lại thành những cụm dân cư tập trung, thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ. Nhà ở khu vực
dân cư được đảm bảo, có khoảng 95% nhà ở kiên cố, bán kiên cố, còn lại có
5% nhà tạm, nhà xuống cấp cần tu sửa, nâng cấp hoặc xây dựng lại. Xã Hùng
Tiến là một xã tương đối đông dân cư nhưng chủ yếu là dân nông thôn, nghành
nghề chính là nông nghiệp, một bộ phận dân cư làm kinh doanh và các dịch vụ
thương mại.
1.2. Các khái niệm liên quan
1.2.1. Khái niệm giới
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, “giới” là một thuật ngữ để chỉ vai
trò xã hội, hành vi ứng cử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ.
Phụ nữ và nam giới khác nhau về mặt sinh học – nhưng mọi văn hóa đều lý giải
và qui định chi tiết những khác biệt sinh học vốn có đó thành một hệ thống
những kỳ vọng xã hội về những hành vi và hoạt động được coi là thích hợp.
Tuy những kỳ vọng trong các xã hội khác nhau thì không giống nhau nhưng
vẫn có điểm tương đồng nổi bật.
Theo Xã hội học về giới và phát triển thì giới là khái niệm dùng để chỉ
những đặc trưng xã hội của nam và nữ. Các đặc điểm của giới là:
- Một phần vẫn còn bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính.
- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm. Tức là được
quy định bởi điều kiện sống của cá nhân và xã hội, được hình thành và phát
triển thông qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập,…
20
20
- Có tính biến thiên, tức là có thể thay thế đổi được dưới tác động của các yếu tố
bên trong và bên ngoài, đặc biệt là điều kiện xã hội.
- Mang tính đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức và tính chất.

chuyển biến đồng bộ của tất cả thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối
với nam giới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và
hành vi cụ thể trong mối quan hệ với phái nữ.
Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trong là
nam và nữ được bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, trong đó lĩnh vực kinh tế, lao động và việc làm giữ vai trò cốt yếu.
1.2.3. Khái niệm gia đình
“Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các
thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo
đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để
thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.” [13, tr.310]
1.2.4. Khái niệm lao động
“Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.” [3. Tr.1]
C.Mác chỉ ra rằng: Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không
phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu
làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản
thân sự sống của con người. Con người phải vận dụng sức lực tiềm tàng trong
cơ thể mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên một cách có
mục đích, ý thức nhằm biến đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với
nhu cầu của mình. Vì vậy, trong bất cứ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất
hiện đại, lao động bao giờ cũng là yếu tố cơ bản, điều kiện không thể thiếu của
sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội loài người, là sự tất yếu vĩnh viễn,
một điều kiện chung của sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là
phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của mỗi thành viên và xã hội loài người. Do vậy, ở các
22

trong xã hội và gia đình. Phân công lao động theo giới như Mác và Ănghen đã
23
23
nhận xét trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình chế độ tư hữu và Nhà nước”: Sự
phân công lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, chỉ tồn tại giữa nam và
nữ, lúc đầu chỉ có sự phân công lao động chuyển thành sự phân chia phạm vi
hoạt động theo giới một cách tự nhiên và đã dẫn đến sự sở hữu có tính đặc
trưng theo giới, mỗi giới làm chủ trong lĩnh vực hoạt động riêng của mình.
Trong xã hội, sự phân công lao động theo giới biểu hiện qua sự phân chia khu
vực lao động nghề nghiệp. Mặt khác, sự phân công lao động theo giới còn thể
hiện trong cách tổ chức đời sống gia đình.
Hơn nữa, phân công lao động theo giới không đơn thuần là dựa vào sự
khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ mà luôn gắn liền với thói quen, suy
nghĩ và quan niệm về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội nhằm bao
biện cho tư tưởng “trọng nam khinh nữ”.
1.2.6. Khái niệm vai trò giới
Vai trò giới là khái niệm được sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi
của con người trong một ý nghĩa tổng thể. Nó ứng xử như một cơ chế để hiểu
được những cách thức mà ở đó những trông đợi của xã hội, những hành động
được phản ánh, những khuôn mẫu chung về những hành vi được trông đợi.
Trong bối cảnh về sự hiểu biết các quan hệ giới sẽ dẫn tới sự xác định các vai
trò của phụ nữ và nam giới. Những vai trò này hướng dẫn các hành vi của cả
hai giới được xem như là phù hợp với những mong đợi của xã hội. Khi nói đến
giới là nói đến các điều kiện và yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội
của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ thể. Chính vì được quy định bởi yếu tố xã
hội cho nên vị trí, vai trò và hành vi của giới không phải là bất biến mà luôn
thay đổi khi các điều kiện quy định thay đổi.
1.3. Vai trò của người phụ nữ và nam giới trong gia đình nông thôn hiện nay
1.3.1. Vai trò của người phụ nữ
Từ bao đời nay, vai trò của người phụ nữ trong gia đình vô cùng quan

sóc con cái và các thành viên trong gia đình là vô cùng quan trọng, đặc biệt là
đối với gia đình nông thôn thì chúng ta có thể thấy được vai trò người phụ nữ
càng rõ nét hơn. Người phụ nữ nông thôn cần phải bỏ ra rất nhiều thời gian cho
những công việc trên, bởi vì họ nhận được rất ít sự trợ giúp từ người khác. Như
các gia đình ở thành phố thì có thể thuê bảo mẫu, hay người giúp việc làm thay
những công việc này, nhưng đối với phụ nữ nông thôn thì không, thứ nhất là do
kinh tế không đủ để có thể làm việc ấy, lý do thứ hai là họ không được phép
làm như vậy, làm vậy thì họ đã vứt bỏ thiên chức của một người vợ, người mẹ
25
25

Trích đoạn Từ phía gia đình Những giải pháp của nhân viên Công tác xã hộ Những giải pháp của chính quyền địa phương Vai trò của NV CTXH 1 Vai trò nghiên cứu Vai trò truyền thông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status