sự phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn hiện nay, trường hợp nghiên cứu tại xã hùng tiến, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 23

Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã có một thời kỳ dài trải qua
chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, người phụ nữ trong gia đình có quyền quyết
định tất cả. Thời gian dài sau đó nhu cầu hình thành gia đình hạt nhân, do phải đi
làm ăn xa, đặc thù của công việc ngày càng hiện đại, người đàn ông dần chiếm ưu
thế và chế độ phụ hệ hình thành. Qua các giai đoạn lịch sử, do thay đổi về hoàn
cảnh chính trị, sự phát triển của công nghệ hiện đại, vai trò của phụ nữ và nam giới
trong xã hội cũng thay đổi. Người nam giới ngày càng được coi trọng, là người chủ
trong gia đình, được tham gia các công việc cộng đồng, không ngừng nâng cao địa
vị xã hội. Còn người phụ nữ gắn liền với công việc nội trợ, chăm sóc con cái, sự
tiến thân trong xã hội là điều ít được biết đến. Tư tưởng nho giáo trọng nam khinh
nữ phổ biến trong quần chúng nhân dân, người phụ nữ bị bó hẹp trong “tam tòng
tứ đức” có thân phận thấp hèn, không được bình đẳng với nam giới. Ngày nay, khi
đất nước chuyển từ nền kinh tế cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong tiến
trình phát triển kinh tế - xã hội kéo theo sự thay đổi mới tư duy trên mọi lĩnh vực,
điều này đã tạo ra sự chuyển đổi về cơ cấu xã hội và cùng với đó có sự thay đổi
của phân công lao động theo giới trong gia đình.
Nghị quyết hội nghị Trung ương V đã đặt vấn đề gia đình là một tầm quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng văn hóa và phát triển mọi mặt của đất nước. Đó là
“phải giữ gìn phát huy những đạo đức tốt đẹp vốn có của gia đình Việt Nam nhằm
tạo ra một lối sống lành mạnh, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa và xây dựng
mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội”. Trong đó mục tiêu
quan trọng của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường sự tham gia vào các hoạt động
kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của phụ nữ nhằm nâng cao vai trò, vị trí của
người phụ nữ trong gia đình nói riêng và ngoài xã hội nói chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đúng vai trò và khả năng của phụ nữ
trong gia đình và ngoài xã hội, Người chỉ ra rằng: “Non song gấm vóc Việt Nam
do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [12; 204].

động Thế giới (ILO) năm 2002, nền kinh tế thế giới đã bỏ qua 11 tỉ USD từ thu
nhập của người phụ nữ do họ làm những công việc gia đình.
Sự thay đổi về giới làm cho cả nam và nữ tự nhận thức được vai trò của bản
thân mình, tự điều chỉnh và thích nghi với nhau trong cả suy nghĩ và hành động.
Công việc gia đình giờ đây không chỉ là bổn phận của người phụ nữ, đồng thời
việc kiếm tiền nuôi sống gia đình cũng như việc tham gia các quan hệ xã hội bên
ngoài gia đình không còn là khoảng trời riêng của nam giới. Người vợ tham gia
2
SVTH: Nguyễn Thị Thương
2
Khóa luận tốt nghiệp
vào công việc rộng lớn hơn, ngược lại người chồng phải chia sẻ bổn phận và trách
nhiệm đối với công việc nhà, ngay cả trong công việc nội trợ.
Sự phân công lao động hợp lý trong gia đình là một vấn đề mang tính cấp
thiết, thiết thực, không những là chìa khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm
ấm của gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của cả nam và nữ về mặt
xã hội mà còn giúp cải thiện dần địa vị của mỗi giới, đặc biệt là người phụ nữ.
Là một xã đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế, lấy công bằng xã
hội làm trọng tâm, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An vẫn còn tồn tại
sự bất bình đẳng trong phân công lao động giữa phụ nữ và nam giới. Hiện nay,
người phụ nữ ở xã Hùng Tiến vẫn còn hạn chế trong việc nâng cao địa vị ngoài xã
hội. Họ vẫn còn phải gắn với công việc nội trợ trong gia đình, ít có tham gia các
công việc cộng đồng, dòng họ, họ bị hạn chế trong việc tiếp cận, kiểm soát các
nguồn lực từ gia đình và cộng đồng mang lại.
Như vậy, chúng ta hãy nghiên cứu có những thay đổi nào trong phân công lao
động giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình. Có hay không cơ hội như nhau
trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển giữa phụ nữ và nam
giới. Liệu có những đánh giá công bằng công lao động đóng góp trong việc nuôi
sống gia đình.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài khóa luận là “Sự phân công lao động

đình nông thôn đang trong quá trình xây dựng chương trình nông thôn mới toàn
thể nhân dân đang ra sức thi đua phát triển kinh tế hộ gia đình, vì vậy trách nhiệm
của mỗi cá nhân cũng có sự thay đổi. Người phụ nữ ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong việc chăm sóc gia đình và xây dựng quê hương đất nước. Vì vậy, qua
nghiên cứu đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn hiện
nay” trường hợp nghiên cứu tại xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, tôi
mong muốn góp phần nâng cao nhận thức của các thành viên trong mỗi gia đình về
sự bình đẳng trong phân công lao động, xóa bỏ đi những suy nghĩ, định kiến không
đáng có mà xã hội giành cho những người phụ nữ, góp phần giải phóng người phụ
nữ, giúp họ nâng cao địa vị ngoài xã hội.
Hy vọng cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách,
những người quan tâm về vấn đề phân công lao động dưới góc độ giới, xây dựng
những chính sách phù hợp, có cái nhìn đúng đắn hơn và có những giải pháp thiết thực
góp phần cải thiện đời sống chị em phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
3. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
So với các nước trên thế giới, Việt nam có hệ thống luật pháp, chính sách về
bình đẳng giới tương đối đầy đủ và tiến bộ. Việt Nam đã phê chuẩn hầu hết các
Công ước quốc tế liên quan đến bình đẳng giới và quyền của phụ nữ, trong đó
quan trọng nhất là Công ước CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
4
SVTH: Nguyễn Thị Thương
4
Khóa luận tốt nghiệp
đối với phụ nữ,… Trong hệ thống luật pháp đều đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến
vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện cho cả phụ nữ và nam giới cùng phát triển tiến
bộ và bình đẳng. Gần đây nhất, năm 2006, Luật bình đẳng giới đã được Quốc hội
thông qua và triển khai trong thực tế, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nỗ
lực phấn đấu vì bình đẳng giới ở Việt Nam.
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đang thu hút sự quan tâm và tranh luận của
toàn xã hội nhưng vẫn chưa đạt được sự đồng thuận trong phương hướng giải

công hợp lý giữa hai giới nam và nữ không chỉ trong lao động sản xuất ở các
nghành nghề mà còn trong các hoạt động tổ chức, xây dựng cuộc sống gia đình và
nuôi dạy con cái. Ở tất cả các hoạt động đều cần đến trí tuệ của cả hai giới, phù
hợp với những đặc điểm và khả năng của họ góp phần tạo nên tính hài hòa trong
từng gia đình.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị nói về vai trò của phụ
nữ và nam giới trong gia đình như:
- “Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ 21” trung tâm nghiên cứu giới,
gia đình và môi trường trong phát triển, NXB khoa học xã hội 1995.
- “Nghiên cứu về đào tạo giới ở Việt Nam” NXB khoa học xã hội 1998.
- “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” trung tâm nghiên cứu khoa học về
gia đình và phụ nữ, NXB khoa học và xã hội 1991.
Nhìn chung, bức tranh phân công lao động giữa phụ nữ và nam giới được
dựng lên khá rõ nét ở nhiều góc độ và hình thức khác nhau, rất phong phú, đa
dạng. Tuy nhiên, các đề tài này mới chỉ tập trung đến vai trò của người phụ nữ
trong các hoạt động kinh tế chứ chưa làm nổi bật được sự bình đẳng trong phân
công lao động theo của cả hai giới.
Kinh tế hộ gia đình đang ngày càng phát triển, vai trò của phụ nữ và nam giới
cũng thay đổi theo nhịp độ phát triển ấy, vì thế trong các công việc trong gia đình
cũng như ngoài xã hội đều có sự kết hợp, phân chia hài hòa để tạo nên một môi
trường xã hội phát triển bền vững. Trong khóa luận này, người viết cố gắng phân
tích, nhìn nhận vấn đề dưới góc độ quan điểm của phụ nữ và nam giới trong việc
xem xét sự phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn hiện nay. Nhằm
thấy được sự tham gia của cả hai giới trong các công việc gia đình, tìm ra những
ảnh hưởng, nguyên nhân đến sự tham gia các công việc gia đình của cả hai giới.
Giúp chúng ta rút ra kết luận có hay không sự bất bình đẳng trong phân chia công
việc trong gia đình nông thôn hiện nay. Từ đó đưa ra những hướng giải quyết
hướng tới sự phát triển hài hòa, toàn diện của phụ nữ và nam giới trong công việc
gia đình, và ngoài xã hội.
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

đó, trong tiềm thức của mỗi con người, đặc biệt là người dân nông thôn họ đều
đánh giá cao vai trò, địa vị của người phụ nữ, không chỉ trong gia đình mà còn
ngoài cộng đồng. Nhân viên công tác xã hội hành động để cân bằng sự phân công
lao động theo giới trong gia đình, phân chia công việc một cách hợp lý, nhằm tạo
điều kiện cho người phụ nữ có cơ hội giải phóng bản thân về cả thể chất và tinh
thần, có điều kiện tham gia các hoạt động cộng đồng, tiếp cận với các dịch vụ,
7
SVTH: Nguyễn Thị Thương
7
Khóa luận tốt nghiệp
nguồn lực và lợi ích mà xã hội mang lại cho họ, đồng thời khẳng định địa vị của
bản thân.
6. Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài cần nghiên cứu cần đạt được những mục
tiêu cụ thể sau:
- Đề tài tìm hiểu thực trạng phân công lao động theo giới đang diễn ra trên địa bàn
nghiên cứu, thực trạng này đang đi theo xu hướng tích cực hay là tiêu cực. Làm rõ
thái độ, nhận thức và suy nghĩ của chính người dân nơi đây về phân công lao động
giữa nam và nữ, xem trong từng suy nghĩ của người dân còn tồn tại những quan
niệm lạc hậu nữa hay không, để từ đó cò những phương pháp làm thay đổi những
suy nghĩ tiêu cực ấy theo một hướng tích cực, tốt đẹp hơn. Sau quá trình nghiên
cứu về thực trạng phân công lao động theo giới, đề tài rút ra được kết luận rằng
trên địa bàn còn tồn tại những bất bình đẳng trong phân công lao động giữa nam và
nữ trong gia đình hay không?.
- Từ những thực trạng đang diễn ra đề tài cần nghiên cứu, tìm hiểu những nguyên
nhân trực tiếp và sâu xa nào dẫn đến thực trạng ấy, nguyên nhân có thể xuất phát
từ nhiều khía cạnh khác nhau như từ phía quan niệm, phong tục lạc hậu còn tồn tại
trong địa phương, nguyên nhân cũng có thể xuất phát từ chính suy nghĩ, nhận thức
của từng người dân, hay chính vấn đề kinh tế của gia đình mang lại,… Vì vậy, đề
tài cần tìm hiểu cả nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa của vấn đề. Từ

đó khóa luận cũng vận dụng những chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà Nước, những văn kiện đổi mới, về giải phóng phụ nữ được ban hành, những
công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
7.2.1.1. Thông tin thứ cấp
Khóa luận sử dụng những báo cáo tổng kết hằng năm của Ủy ban nhân dân
xã Hùng Tiến, báo cáo tổng kết của Hội liên hiệp phụ nữ xã Hùng Tiến. Những
công trình nghiên cứu đã có từ trước như đề tài: Người phụ nữ và gia đình Việt
Nam hiện nay” trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, NXB khoa
học và xã hội 1991. Những tác phẩm nghiên cứu về phụ nữ và giới của giáo sư Lê
Thi cũng như của các tác giả khác để làm nên khóa luận này.
7.2.1.2. Thông tin sơ cấp
- Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu, trong
quá trình tiến hành thu thập thông tin bằng bảng hỏi, tôi tiến hành quan sát để tìm
9
SVTH: Nguyễn Thị Thương
9
Khóa luận tốt nghiệp
hiểu rõ hơn về thực trạng phân công lao động theo giới trên địa bàn, từ đó tìm ra
nguyên nhân và những ảnh hưởng đến sự phân công lao động theo giới trong mỗi
gia đình, bên cạnh đó còn quan sát được thái độ của người dân về vấn đề này.
Thông qua sử dụng tri giác trực tiếp, sử dụng những ghi chép mà tôi thu được
những vấn đề xoay quanh đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Đi liền với phương pháp quan sát tôi tiến hành triệt để phương pháp phỏng
vấn sâu. Tôi tiến hành phỏng vấn sâu 10 hộ gia đình, đây là phương pháp hiệu quả
nhất để tôi có thể thu thập thêm nhiều thông tin sơ cấp, phục vụ cho đề tài nghiên
cứu, trong quá trình phỏng vấn những thông tin cụ thể, chi tiết được chia sẻ bởi

Phụ nữ
Nam
giới
Cả hai
1. Công việc nội trợ
Đi chợ
Nấu nướng
Giặt giũ
Dọn dẹp nhà cửa
2. Hoạt động kinh tế
Hoạt động sản xuất
Hoạt động kinh doanh
3. Chăm sóc và giáo dục con cái
Chăm sóc các thành viên trong gia đình
Giáo dục con cái
4. Công việc dòng họ và cộng đồng
Quyền quyết định các việc lớn trong gia đình
Đại diện tham gia các công việc dòng họ
Đại diện tham gia các công việc cộng đồng
7.2.1.3. Phương pháp xử lý thông tin
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi tiến hành thu thập hai loại thông tin
đó là thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp. Thông tin thứ cấp là những thông tin
thu thập được thông qua các báo cáo của Ủy ban nhân dân xã, Hội phụ nữ xã,
những đề tài nghiên cứu trước đây. Thông tin sơ cấp tôi thu thập được thông qua
quá trình thực tế trên địa bàn bằng cách phương pháp như: phỏng vấn sâu, phương
pháp quan sát, phương pháp phân tích biễu mẫu. Sau khi thu thập được thông tin
tôi tiến hành chọn lọc, phân tích lựa chọn những thông tin hữu ích, phù hợp hỗ trợ
cho việc hoàn thành khóa luận này.
7.2.1.4. Đóng góp của đề tài
Trong khuôn khổ khóa luận này đã làm nổi bật mối quan hệ giữa người phụ

1.1. Tổng quan về xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hùng Tiến là 1 trong 24 xã của huyện Nam Đàn, là một xã đồng bằng
cách trung tâm huyện Nam Đàn khoảng 5km về phía Đông Bắc. Xã có phần ranh
giới giáp với các xã Nam Lĩnh, xã Xuân Hòa về phía Bắc. Phía nam giáp xã Hồng
Long và Xuân Lâm. Phía Đông giáp xã Kim Liên. Phía Tây giáp xã Nam Lộc.
Xã Hùng Tiến tổng diện tích đất tự nhiên là 1032,84 ha. Dân số hơn 8920
nhân khẩu, được phân bố trên 19 xóm, là xã có 3 hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông
nghiệp. Có một Đảng bộ gồm 23 chi bộ, với 250 Đảng viên. [3; 1]
Xã Hùng Tiến bao gồm 10 điểm dân cư chính sau:
Điểm dân cư số 1: xóm Đồng Văn
Điểm dân cư số 2: gồm xóm Đồng Trung, xóm Trường Cửu
Điểm dân cư số 3: gồm xóm Xuân Lâm, Bình Sơn, Phúc Chỉ
Điểm dân cư số 4: gồm xóm Tiền Tiến, Liên Sơn, Tăng Tiến
Điểm dân cư số 5: gồm xóm Trường Tiến, Trường Sơn
Điểm dân cư số 6: gồm xóm Đông Sơn, Trung Chính
Điểm dân cư số 7: gồm xóm Trang Thọ, Quyết Tiến
Điểm dân cư số 8: gồm xóm Đông Anh, Tân Tiến
Điểm dân cư số 9: gồm xóm Nam Sơn, Đông Lĩnh
Điểm dân cư số 10: gồm các hộ dân cư ven quốc lộ 46 – chợ Vạc. [3; 1]
13
SVTH: Nguyễn Thị Thương
13
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.1.2. Địa hình
Xã Hùng Tiến là xã có đặc điểm địa hình tương đối bằng phẳng, với chủ yếu
là diện tích đồng ruộng, trồng lúa và hoa màu. Xã Hùng Tiến nằm trong lòng chảo
của huyện nên địa hình thấp hơn các xã lân cận, mỗi khi mùa mưa lũ trên địa bàn
xã thường bị ngập úng do nước xung quanh chảy vào và nước nâng lên từ dòng

1.1.1.5. Tài nguyên đất
Xã Hùng Tiến có diện tích đất tự nhiên là 1032.84 ha.
Bảng 2: Diện tích đất sử dụng trên địa bàn xã Hùng Tiến.
Loại đất sử dụng Diện tích (ha)
Đất thổ cư, đất ở <300
Đất nông nghiệp 749
Trong đó:
Đất trồng lúa
374,25
Đất chuyên màu 156,15
Đất vườn trồng cây lâu năm 146,06
Đất nuôi trồng thủy sản 72,91
Đất nông nghiệp khác 0,4
(Nguồn: báo cáo tổng kết năm 2010 - 2013 của xã Hùng Tiến)
1.1.1.6. Tài nguyên nước
Nguồn nước sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã được cung cấp bởi nước
của dòng sông Lam và sông Lam Trà. Đây là nguồn nước mặt lớn nhất do lượng
nước của sông Lam quanh năm đầy nước. Phục vụ tốt cho sản xuất của bà con nơi
đây. Hơn nữa, đây là một vùng trũng nên nguồn nước ngầm lớn, đáp ứng được nhu
cầu nước sinh hoạt cho toàn xã.
1.1.2. Điều kiện kinh tế
Điều kiện phát triển kinh tế của xã Hùng Tiến được thể hiện qua tốc độ tăng
trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Về tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo giá trị sản xuất bình quân trên đầu người giai
đoạn 2010 - 2013 là 9,4%. Năm 2013, tốc độ tăng trưởng đạt 10,6%.
Tổng giá trị sản xuất năm 2013 đạt 57095 triệu đồng đạt 65,7% .
15
SVTH: Nguyễn Thị Thương
15

SVTH: Nguyễn Thị Thương
16
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng đàn gia cầm: 50.025 con. So với kế hoạch đạt 76.25%. [3; 5]
Ngành chăn nuôi của xã phát triển tương đối khá. Giá trị sản xuất ngành chăn
nuôi đạt hơn 8 tỷ đồng/ năm. Chiếm 36.6% tỷ trọng ngành nông nghiệp. Trên địa
bàn toàn xã có hơn 30 tiểu trang trại chăn nuôi kết hợp với gia súc, gia cầm, cá.
Đây cũng chính là ngành mang lại thu nhập chủ yếu của người dân sau ngành
trồng trọt.
- Ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ.
Do đặc điểm nền kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, Hùng Tiến
không có làng nghề thủ công nghiệp nên Công nghiệp và Dịch vụ của xã phát triển
theo hướng đa ngành đa nghề; các ngành nghề Công nghiệp – Thủ công nghiệp
chủ yếu là sản xuất gạch nung, hàn xì gia công cửa sắt, mộc, xay xát,…; ngành
nghề dịch vụ chủ yếu là kinh doanh xây dựng, vận tải, vật liệu xây dựng, vật tư
nông nghiệp và buôn bán tạp hóa,…
Tổng toàn xã có 164 lao động tham gia sản xuất ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và 345 lao động hoạt động trong ngành dịch vụ thương mại.
Giá trị sản xuất ngành tiểu thủ công nghiệp năm 2010 là 4.83 tỷ đồng.
Giá trị sản xuất thương mại là 11.29 tỷ đồng. [3; 7]
Nền kinh tế của xã hiện nay vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với tỷ trọng
chiếm khá cao, do vậy đời sống nhận dân còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình
quân đầu người còn thấp. Trong những năm tiếp theo xã cần đẩy mạnh phát triển
dịch vụ thương mại và tiểu thủ công nghiệp, là những ngành sản xuất mang lại giá
trị kinh tế cao.
1.1.3. Điều kiện văn hóa, xã hội
Xã Hùng Tiến có truyền thống lịch sử lâu đời. Các thế hệ kế tiếp nhau phát
huy truyền thống tốt đẹp, cần cù, thông minh sáng tạo xây dựng quê hương đất
nước giàu mạnh. Địa bàn xã đang đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới,
nhân dân phấn khởi phấn đấu đạt 19 tiêu chí của chương trình nông thôn mới,

nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ. Nhà ở khu vực dân cư được đảm bảo, có
khoảng 95% nhà ở kiên cố, bán kiên cố, còn lại có 5% nhà tạm, nhà xuống cấp cần
tu sửa, nâng cấp hoặc xây dựng lại. Xã Hùng Tiến là một xã tương đối đông dân cư
nhưng chủ yếu là dân nông thôn, nghành nghề chính là nông nghiệp, một bộ phận
dân cư làm kinh doanh và các dịch vụ thương mại.
1.2. Các khái niệm liên quan
1.2.1. Khái niệm giới
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, “giới” là một thuật ngữ để chỉ vai trò
xã hội, hành vi ứng cử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ. Phụ nữ
và nam giới khác nhau về mặt sinh học, nhưng mọi văn hóa đều lý giải và qui định
18
SVTH: Nguyễn Thị Thương
18
Khóa luận tốt nghiệp
chi tiết những khác biệt sinh học vốn có đó thành một hệ thống những kỳ vọng xã
hội về những hành vi và hoạt động được coi là thích hợp. Tuy những kỳ vọng
trong các xã hội khác nhau thì không giống nhau nhưng vẫn có điểm tương đồng
nổi bật.
Theo Xã hội học về giới và phát triển thì giới là khái niệm dùng để chỉ những
đặc trưng xã hội của nam và nữ. Các đặc điểm của giới là:
- Một phần vẫn còn bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính.
- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm. Tức là được quy
định bởi điều kiện sống của cá nhân và xã hội, được hình thành và phát triển thông
qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập,…
- Có tính biến thiên, tức là có thể thay thế đổi được dưới tác động của các yếu tố bên
trong và bên ngoài, đặc biệt là điều kiện xã hội.
- Mang tính đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức và tính chất.
Khái niệm giới chỉ mối quan hệ và tương tác giữa địa vị xã hội của phụ nữ và
nam giới trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nói đến giới là nói đến các điều kiện và
yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh xã

trong mối quan hệ với phái nữ.
Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trong là
nam và nữ được bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
trong đó lĩnh vực kinh tế, lao động và việc làm giữ vai trò cốt yếu.
1.2.3. Khái niệm gia đình
“Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành
viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau
nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu
của xã hội về tái sản xuất con người.” [7; 310]
1.2.4. Khái niệm lao động
“Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.” [6; 1]
C.Mác chỉ ra rằng: Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không
phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm
môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự
sống của con người. Con người phải vận dụng sức lực tiềm tàng trong cơ thể mình,
sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên một cách có mục đích, ý thức
nhằm biến đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình. Vì
vậy, trong bất cứ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại, lao động bao giờ
20
SVTH: Nguyễn Thị Thương
20
Khóa luận tốt nghiệp
cũng là yếu tố cơ bản, điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển của đời
sống xã hội loài người, là sự tất yếu vĩnh viễn, một điều kiện chung của sự trao đổi
chất giữa con người với tự nhiên.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là phương
tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập đảm bảo sự tồn tại và phát

21
Khóa luận tốt nghiệp
Sự khác biệt giữa nam và nữ dẫn đến sự phân công lao động nam – nữ trong
xã hội và gia đình. Phân công lao động theo giới như Mác và Ănghen đã nhận xét
trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình chế độ tư hữu và Nhà nước”: Sự phân công
lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, chỉ tồn tại giữa nam và nữ, lúc đầu chỉ
có sự phân công lao động chuyển thành sự phân chia phạm vi hoạt động theo giới
một cách tự nhiên và đã dẫn đến sự sở hữu có tính đặc trưng theo giới, mỗi giới làm
chủ trong lĩnh vực hoạt động riêng của mình. Trong xã hội, sự phân công lao động
theo giới biểu hiện qua sự phân chia khu vực lao động nghề nghiệp. Mặt khác, sự
phân công lao động theo giới còn thể hiện trong cách tổ chức đời sống gia đình.
Hơn nữa, phân công lao động theo giới không đơn thuần là dựa vào sự khác
biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ mà luôn gắn liền với thói quen, suy nghĩ và
quan niệm về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội nhằm bao biện cho tư
tưởng “trọng nam khinh nữ”.
1.2.6. Khái niệm vai trò giới
Vai trò giới là khái niệm được sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi của
con người trong một ý nghĩa tổng thể. Nó ứng xử như một cơ chế để hiểu được
những cách thức mà ở đó những trông đợi của xã hội, những hành động được phản
ánh, những khuôn mẫu chung về những hành vi được trông đợi. Trong bối cảnh về
sự hiểu biết các quan hệ giới sẽ dẫn tới sự xác định các vai trò của phụ nữ và nam
giới. Những vai trò này hướng dẫn các hành vi của cả hai giới được xem như là phù
hợp với những mong đợi của xã hội. Khi nói đến giới là nói đến các điều kiện và
yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ
thể. Chính vì được quy định bởi yếu tố xã hội cho nên vị trí, vai trò và hành vi của
giới không phải là bất biến mà luôn thay đổi khi các điều kiện quy định thay đổi.
1.3. Vai trò của người phụ nữ và nam giới trong gia đình nông thôn hiện nay
1.3.1. Vai trò của người phụ nữ
Từ bao đời nay, vai trò của người phụ nữ trong gia đình vô cùng quan trọng
và không thể thay thế được, người phụ nữ có tác động đến hầu hết các thành

của người phụ nữ trong việc chăm sóc con cái và các thành viên trong gia đình là
vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với gia đình nông thôn thì chúng ta có thể thấy
được vai trò người phụ nữ càng rõ nét hơn. Người phụ nữ nông thôn cần phải bỏ ra
rất nhiều thời gian cho những công việc trên, bởi vì họ nhận được rất ít sự trợ giúp
từ người khác. Như các gia đình ở thành phố thì có thể thuê bảo mẫu, hay người
giúp việc làm thay những công việc này, nhưng đối với phụ nữ nông thôn thì
không, thứ nhất là do kinh tế không đủ để có thể làm việc ấy, lý do thứ hai là họ
không được phép làm như vậy, làm vậy thì họ đã vứt bỏ thiên chức của một người
vợ, người mẹ hiền và là một người con dâu hiếu thảo. Vì thế, hình bóng người phụ
nữ không thể thiếu trong gia đình nông thôn, đặc biệt là ngày nay, khi xã hội phát
triển sẽ tác động rất nhiều đến mỗi thành viên trong gia đình, với lý do đó mà
người phụ nữ luôn phải giành hết thời gian cho gia đình, kèm cặp con cái cho đến
khi trưởng thành. Làm được điều đó chỉ có người phụ nữ mà thôi.
23
SVTH: Nguyễn Thị Thương
23
Khóa luận tốt nghiệp
Trong gia đình người phụ nữ còn giữ vai trò trọng yếu trong sắp xếp, tổ chức
cuộc sống gia đình. Các công việc hằng ngày trong gia đình đều do người phụ nữ
đảm nhận, từ đi chợ, nấu ăn, đến quét dọn, trang trí trong nhà, mua sắm,… đó là
những công việc tỉ mỉ, yêu cầu sự cần mẫn của người phụ nữ. Dù đây là những
công việc lặt vặt nhưng chiềm rất nhiều thời gian của họ, và không thể không có.
Đối với người phụ nữ nông thôn thì họ có nhiều thời gian cho những công việc này
hơn, bởi ít người họ có công việc làm ổn định, phần lớn là ở nhà chăm sóc gia đình
và làm việc theo mùa vụ. Người phụ nữ sắp xếp, tổ chức công việc gia đình theo
suy nghĩ, nhận thức và bằng khả năng của họ.
Người phụ nữ đóng vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia
đình, hàng xóm láng giềng. Người đàn ông sau một ngày làm việc mệt nhọc khi trở
về nhà mong muốn của họ là nhìn thấy gia đình hòa thuận, ấm cúng, con cái ngoan
ngoãn, cần những bữa cơm ngon, đoàn tụ, có một người vợ hiểu mình, biết chăm

hưởng các giá trị văn hóa tinh thần, trình độ văn hóa vốn đã thấp lại không có điều
kiện bổ sung, nâng cao, sự hiểu biết xã hội hạn chế, lạc hậu; Khi sức khỏe của
người phụ nữ nông thôn bị suy kiệt sẽ ảnh hưởng nặng nề đến việc thực hiện chức
năng sinh sản nuôi con của chính họ.
Dưới xã hội phong kiến, khi nói đến công việc của người phụ nữ người ta
nghĩ ngay đến bếp núc, những công việc nội trợ. Tuy trong xã hội tiến bộ, văn
minh hơn như ngày nay dù có nhiều gia đình, người chồng đã biết chia sẻ việc nhà
với vợ, nhưng người đóng vai trò chính vẫn là những người mẹ, người chị và
những đứa con gái. Chính họ làm cho gia đình trở nên ấm áp hơn, vui vẻ hơn, làm
cho mọi thành viên trong gia đình muốn quay về nhà sau một ngày làm việc vất vả.
Nhờ bàn tay khéo léo và sự chu toàn của mình, người phụ nữ đã giúp mọi người tái
tạo sức lao động bằng những bữa ăn ngon và sự chăm sóc chu đáo, để rồi mọi
thành viên đủ sức khỏe và động lực để làm việc. Con gái lớn lên, luôn được giáo
dục “công, dung, ngôn, hạnh” để nối tiếp mẹ mình, dù bên ngoài xã hội họ vẫn
gánh trọng trách không kém phần quan trọng hơn nam giới.
1.3.2. Vai trò của nam giới
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của người phụ nữ, càng không thể quên
đi vai trò của nam giới trong gia đình. Vai trò của người chồng , người cha trong
gia đình thật quan trọng, nó luôn được phát huy trong mọi thời đại. Ngày nay tư
tưởng trọng nam khinh nữ, dường như đã có phần mờ nhạt, người vợ cùng người
chồng xây dựng hạnh phúc gia đình. Người phụ nữ trong gia đình có vai trò chăm
sóc, nuôi dưỡng con cái, là người tổ chức, sắp xếp các công việc trong gia đình.
Còn người đàn ông họ có vai trò vô cùng quan trọng:
Người đàn ông là trụ cột vững chắc trong gia đình. Trong gia đình từ thời xa
xưa người đàn ông là người làm nên kinh tế nuôi sống gia đình. Từ thuở bình minh
của lịch sử loài người, khi đó người nam giới khỏe mạnh sẽ vào rừng săn bắn, hái
lượm tìm kiếm thức ăn, còn người phụ nữ ở nhà bận bịu với công việc nuôi con.
25
SVTH: Nguyễn Thị Thương
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status