Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH CƠ KHÍ CẦU TRỤC THÁNH KHỞI - Pdf 23

Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 1 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Từ đầy đủ
1 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
2 TSCĐ Tài sản cố định
3 TSLĐ Tài sản lưu động
4 HTK Hàng tồn kho
5 LNST Lợi nhuận sau thuế
6 DTT Doanh thu thuần
7 DTNH Đầu tư ngắn hạn
8 TSNH Tài sản ngắn hạn
9 TSDH Tài sản dài hạn
10 VCSH Vốn chủ sở hữu
11 NVNH Nguồn vốn ngắn hạn
12 NVDH Nguồn vốn dài hạn
13 TTS Tổng tài sản
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 2 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
DANH MỤC BẢNG
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 3 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 4 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động phân tích tài chính đã được đề cập khá nhiều qua các công trình của
các nhà nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên việc ứng dụng từ lý luận vào thực tiễn là một
khoảng cách khá xa. Thực tế đã chứng minh rằng không thể đưa ra một khuôn mẫu

Sinh viên
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 5 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Nguyễn Thị HuếCHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Hoạt động tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là một một bộ phận của hoạt động sản
xuất kinh doanh và có mối quan hệ trực tiếp với mối quan hệ sản xuất kinh doanh. Tất
các các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm
hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động tài chính ở doanh nghiệp phải hướng tới các mục tiêu sau:
- Hoạt động tài chính phải giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế thể hiện qua
việc thanh toán với các đơn vị có liên quan như ngân hàng, các đơn vị kinh tế khác.
Mối quan hệ này được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng, mặt chất và
thời gian.
- Hoạt động tài chính phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả. Nguyên tắc này đòi
hỏi phải tối đa hoá việc sử dụng các nguốn vốn, nhưng vẫn đảm bả quá trình sản xuất
kinh doanh được hoạt động bình thường và mang lại hiệu quả.
- Hoạt động tài chính được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật, chấp hành
và tuân thủ các chế độ về tài chính tín dụng, nghĩa vụ với Nhà nước, kỷ luật với các
đơn vị, tổ chức kinh tế có liên quan.
Trong các lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau, khi các chủ thể ở đó tiến hành các
hoạt động đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính khác nhau. Các quan hệ tài chính đó
thể hiện dưới hình thức cụ thể của các nguồn vận động của các nguồn tài chính từ nơi

công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm
đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất
lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.
Mối quan tâm hàng đầu của phân tích tài chính doanh nghiệp là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính từ đó đưa ra các thông tin về khả
năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời của
doanh nghiệp. Chính các thông tin đưa ra sẽ giúp cho người sử dụng thông tin xem xét
một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại, để từ đó
nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết định đầu tư và
tài trợ phù hợp. Từ đó góp phần giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong
thời buổi nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
- Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 7 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế, tài chính của
doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm theo một góc độ và mục đích khác nhau. Do
nhu cầu về thông tin tài chính rất đa dạng, đòi hỏi phân tích tài chính phải thực hiện
bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các đối
tượng quan tâm. Các đối tượng quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp có
thể tập hợp thành các đối tượng chính sau đây:
- Các nhà quản trị
- Nhà đầu tư: là các cổ đông hiện tại và cổ đông tiềm năng
- Những người cho doanh nghiệp vay tiền như ngân hàng, các tổ chức tài
chính, người mua trái phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác,
- Những người tham gia vào “ đời sống” của doanh nghiệp
- Nhà nước
- Nhà phân tích tài chính

Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định
với mục đích khác nhau:

chuyên môn. Họ là những người chuyên nghiên cứu các thông tin kinh tế tài chính, có
những cuộc tiếp xúc trực tiếp với ban giám đốc tài chính của Công ty làm rõ triển
vọng phát triển doanh nghiệp và đánh giá các cổ phiếu trên thị trường tài chính.
Đối với người cho vay
Nếu phân tích tài chính được phát triển trong các ngân hàng khi ngân hàng
muốn đảm bảo về khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, thì phân tích tài chính cũng
được các doanh nghiệp cho vay, ứng trước, bán chịu sử dụng.
Phân tích tài chính đối với các khoản nợ dài hạn khác với những khoản cho vay
ngắn hạn.
- Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến
khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Nghĩa là khả năng ứng phó của doanh
nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả.
- Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng
hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ
thuộc vào khả năng sinh lời này.
Chi phí cho vay thay đổi theo số tiền cho vay và theo thời hạn của khoản vay,
nhưng dù cho nó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến
cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập lớn của
người hưởng lương. Như vậy lợi ích của họ gắn liền với tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Sự quan tâm của người hưởng lương trong doanh nghiệp đến tình hình tài
chính của công ty còng là một cách phân tích tài chính. Họ cũng quan tâm đến những
thông tin và số liệu đánh giá, xem xét tình hình tài chính, thực trạng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ những vấn đề trên, cho thấy: phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ
hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 9 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối

quyết định phù hợp và tổ chức thực hiện hợp lý, đáp ứng được mục tiêu mong muốn
của các đối tượng quan tâm cần thấy tình hình của doanh nghiệp trong tương lai. Đó
chính là chức năng dự đoán của tài chính doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 10 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Chức năng điều chỉnh:tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ tài chính
dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động. Hệ thống các
quan hệ đó bao gồm nhiều loại khác nhau, rất đa dạng, phong phú và phức tạp, chịu sự
ảnh hưởng của nhiều nhân tố cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Hệ thống các
quan hệ tài chính đó là bình thường nếu tất cả các mắt xích trong hệ thống đó đều diễn
ra bình thường và đó là sự kết hợp hài hòa các mối quan hệ. Tuy nhiên, các mối quan
hệ kinh tế ngoại sinh, bản thân doanh nghiệp cũng như các đối tượng quan tâm không
thể kiểm soát và chi phối toàn bộ. Vì thế, để kết hợp hài hòa các mối quan hệ, doanh
nghiệp, các đối tượng có liên quan phải điều chỉnh các mối quan hệ và điều chỉnh các
nghiệp vụ kinh tế nội sinh. Muốn vậy, cần nhận thức rõ nội dung, tính chất, hình thức
và xu thế phát triển của các mối quan hệ kinh tế tài chính có liên quan. Phân tích tài
chính doanh nghiệp giúp doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm nhận thức được điều
này. Đó là chức năng điều chỉnh của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Tổ chức và quy trình thực hiện phân tích tài chính
1.2.1.1. Tổ chức thực hiện phân tích tài chính
Quá trình tổ chức phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theo loại hình tổ chức
kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằn mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin
cho quá trình lập kế hoạch, kiểm tra và ra quyết định. Tổ chức phân tích phải làm sao
thoả mãn cao nhất nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau. Thông
thường phân tích tài chính được tổ chức dưới một số hình thức sau:
• Phân tích tài chính có thể được bố trí nằm ở trong một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền
kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc. Theo hình thức
này quá trình phân tích thể hiện được toàn bộ nội dung của hoạt động kinh doanh. Nó
được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục. Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông

1.2.1.2. Quy trình thực hiện phân tích tài chính
Cho dù phương pháp phân tích tài chính được tổ chức dưới hình thức nào đi
chăng nữa thì công việc này phải được thực hiện theo một quy trình nhất định và hợp
lý. Quy trình đó sẽ được trình bày ở mục dưới đây:
1. Xác định mục tiêu phân tích
Đối với mỗi doanh nghiệp ở từng thời kỳ nhất định, mục tiêu phân tích tài chính
doanh nghiệp được xác định một cách khác nhau và trong mỗi vấn đề của hoạt động
tài chính như khả năng cân đối vốn, quản lý hàng tồn kho, kiểm soát chi phí và lợi
nhuận, thì mỗi vấn đề có một mục tiêu riêng như:
- Về khả năng cân đối vốn sẽ có mục tiêu phân tích cơ cấu vốn, khả năng thanh
toán và lưu chuyển vốn.
- Về quản lý hàng tồn kho sẽ có mục tiêu phân tích về doanh số, giá cả và cấu trúc
tài sản.
- Về kiểm soát chi phí và lợi nhuận có mục tiêu phân tích là khả năng sinh lời,
doanh thu,
Xác định mục tiêu phân tích là bước rất quan trọng quyết định đến việc sử dụng các
phương pháp phân tích sao cho phù hợp.
2. Lập kế hoạch phân tích
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 12 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Trên cơ sở tuân thủ mục tiêu phân tích đã đề ra, bộ phận phân tích phải xác định
rõ phạm vi phân tích, thời gian tiến hành, phân công trách nhiệm và bố trí nhân sự.
Về phạm vi phân tích có thể chia ra thành phân tích theo chuyên đề hay phân
tích toàn diện.
Về thời gian phân tích thì phải xác định rõ việc phân tích là phân tích trước,
phân tích hiện hành hay phân tích sau.
3. Thu thập và xử lý thông tin
Trong phân tích, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: từ
thông tin nội bộ doanh nghiệp đến thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số
lượng đến thông tin giá trị.

là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Các thông tin nội bộ doanh nghiệp
- Bảng cân đối kế toán: là bảng tổng hợp- cân đối tổng thể phản ánh tình hình
vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn vốn ở một thời điểm nhất định
thường là ngày cuối cùng của năm tài chính. Đây là tài liệu quan trọng nghiên cứu,
đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình
độ sử dụng vốn ở một thời điểm xác định và triển vọng của doanh nghiệp. Thực chất
bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của
doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu nội bảng và ngoại bảng.
- Báo cáo kết quả kinh doanh: nếu như bảng cân đối kế toán cho ta biết toàn
cảnh tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm thì báo cáo kết
quả kinh doanh lại cho ta biết tình hình thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh từ các
hoạt động trong cả một thời kỳ. Tài liệu này được lập trên cơ sở các báo cáo kết quả
kinh doanh trước đó và số dư cuối kỳ trên các sổ chi tiết theo dõi các tài khoản phản
ánh thu nhập, phản ánh chi phí và tài khoản phản ánh kết quả. Thông qua báo cáo này,
các nhà phân tích tài chính có thể đánh giá hiệu quả trong các hoạt động của doanh
nghiệp (hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư) băng
cách sử dụng các chỉ tiêu có tính chất định lượng về tương đối và tuyệt đối. Đây là
phương pháp thường được sử dụng nhất trong phân tích tài chính doanh nghiệp có tác
dụng nhận biết xu hướng vận động của các đối tượng tài chính.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: ta đã biết rằng hoạt động tài chính là sự khái
quát các dòng và các dự trữ tài chính. Một nhiệm vụ quan trọng của nhà phân tích là
phải kiểm soát được sự thường xuyên vận động của các luông tiền tệ thực nhập quỹ và
thực xuất quỹ, tình hình đầu tư, tài trợ bằng tiền của doanh nghiệp. Báo cáo trên được
sử dụng để cung cấp thông tin về các luồng tiền ra, vào, các khoản đầu tư ngắn hạn có
tính lưu động cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ít
chịu rủi ro như lỗ về mặt giá trị do sự biến động của lãi suất hay tỷ giá Những luồng
tiền này được tổng hợp và xếp thành 3 nhóm:luồng tiền có nguồn gốc từ hoạt động
kinh doanh, từ hoạt động tài chính, từ hoạt động đầu tư.Như vậy ta thấy, báo cáo này
không phản ánh về tài sản, nguồn vôn, kết quả kinh doanh hay tinh hình thực hiện

các tiêu chuẩn, các định mức tài chính và kinh tế được đặt ra bởi các đối tác tài chính
của doanh nghiệp. Ví dụ như để hợp đồng tín dụng của doanh nghiệp được chấp nhận
thì một chủ nhà băng phải không thấy được những dấu hiệu bất ổn về khả năng thanh
toán của doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại, cũng như về khả năg sinh lời cần
thiết trong tương lai từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, các tiêu chuẩn
mà doanh nghiệp cần phải đáp ứng chính là duy trì một lượng ngân sách bằng tiền mặt
kết hợp với các loại chứng khoán thanh khoản; lên kế hoạch sử dụng nguồn vốn, quản
lý tài sản, kế hoạch về thu nhập, chi phí
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 15 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
Mỗi đối tượng đều đưa ra cho doanh nghiệp những tiêu chuẩn khác nhau song
nhìn chung, đều nhằm vào 4 mục tiêu: khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán, khả
năng cân đối tài chính và mức độ rủi ro.
4. Tiến hành phân tích
Phân tích tài chính dựa trên cơ sở các nội dung, phương pháp phân tích đã đề ra,
dựa trên thông tin và số liệu đã thu thập và xử lý, sau đó được tiến hành như sau:
Một là đánh giá chung tình hình tài chính: sử dụng các phương pháp và chỉ tiêu
đã lựa chọn để tính toán, đánh giá, từ đó đưa đến kết luận khái quát toàn bộ xu hướng
phát triển và mối quan hệ qua lại giữa các hoạt động của doanh nghiệp.
Hai là xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
tới đối tượng phân tích. Tùy thei yêu cầu quản lý và điều kiện cung cấp thông tin để
xác định phương pháp sử dụng trong phân tích sao cho phù hợp nhất.
Ba là tổng hợp kết quả phân tích rút ra kết luận nguyên nhân tác động và đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5. Lập báo cáo phân tích
Đây là bước cuối cùng trong quá trình phân tích. Kết quả phân tích phải được
viết thành báo cáo gửi cho ban giám đốc doanh nghiệp, những đối tượng có nhu cầu đề
phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp.
1.2.2. Nội dung phân tích tài chính
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp tuỳ thuộc vào dữ kiện mà ban giám

trong bảng cân đối kế toán.
1.2.2.2. Phân tích quy mô, diễn biến tài sản và nguồn vốn
 Phân tích biến động tài sản
Phân tích biến động tài sản nhằm giúp ta tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng
cảu các tài sản qua các thời kỳ thay đổi như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ
những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp
với việc nâng cao năng lực kinh tế phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp hay không?ể biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm
được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động
về cơ cấu tài sản, ta sẽ so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về số tuyệt
đối và số tương đối trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản như: tiền và các
khoản tương đương tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định…
Bên cạnh đó khi phân tích chúng ta cần xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm
trong tổng số và xu hướng biến động cảu chúng theo thời gian để thấy được mức độ
hợp lý của việc phân bổ. Việc đánh giá phải dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình
biến động của từng bộ phận. Trong điều kiện cho phép, có thể xem xét và so sánh sự
biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng tài sản của doanh
nghiệp qua nhiều năm và so với cơ cấu chung của ngành để đánh giá.
Xác định chênh lệch của các khoản mục tài sản giữa các kỳ phân tích và kỳ gốc
được xác định:
Chênh lệch tuyệt đối từng bộ = Giá trị từng bộ phận tài - Giá trị từng bộ
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 17 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
phận tài sản sản kỳ phân tích phận tài sản kỳ gốc
- Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định:
Tỷ trọng của từng bộ
phận tài sản
=
Giá trị từng bộ phận tài sản
x 100%

phận NV kỳ
gốc
- Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định:
Tỷ trọng
của từng bộ phận NV
=
Giá trị từng bộ phận NV
x 100%
Giá trị tổng NV
 Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản
và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ
cân đối này giúp nhà phân tích nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 18 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
nghiệp huy động và việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, sử dụng có hợp
lý, hiệu quả hay không? Điều này được thể hiện:
Nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn là điều hợp lý vì dấu hiệu này thể
hiện doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử
dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn. Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn
hạn điều này chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối này vì đã sử
dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn đầu tư vào tài sản dài hạn.
- Vốn bằng tiền
Nợ ngắn hạn + Vốn CSH
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
- Nợ phải thu
- Hàng tồn kho
- Tài sản lưu động khác
- Tài sản cố định
Nợ dài hạn + Vốn CSH

đối giữa tìa sản và nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, Vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn nhu cầu TSNH thiết yếu hoặc
âm thì đây là dấu hiệu tài chính bất bình thường và mất cân đối giữa tài sản với nguồn
vốn, nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạng tài chính của doanh
nghiệp rối loạn nghiêm trọng hơn, doanh nghiệp mất dần đến toàn bộ vốn CSH và đến
bờ vực phá sản.
 Phân tích tình hình bố trí cơ cấu tài sản và nguồn vốn
• Bố trí cơ cấu tài sản
- Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản
Tỷ trọng của
TSNH trên TTS
=
Tài sản ngắn hạn
x 100 %
Tổng tài sản
- Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư nói lên kết cấu tài sản( kết cấu nguồn vốn), phản ánh tình hình
trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị TSCĐ hiện tại của doanh nghiệp, cho thấy tỷ
trọng TSCĐ đơn vị đang quản lý sử dụng so với toàn bộ tài sản. Tỷ số đầu tư TSCĐ
được xác định bằng công thức:
Tỷ suất đầu tư
TSCĐ
=
Tài sản cố định
x 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này càng cao, phản ánh quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp ngày càng được tăng cường. Năng lực sản xuất của doanh nghiệp ngày càng
được mở rộng, đầu tư tài chính của doanh nghiệp ngày càng cao.
Giá trị của tỷ suất đầu tư TSCĐ được coi là hợp lý còn tùy thuộc vào từng

với giá vốn hàng bán thì phải theo dõi và phân tích từng bộ phận cấu thành của nó:
nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp…
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình bán sản phẩm,
hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
- Chi phí quản lí doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động quản lý sản xuất
kinh doanh, quản lý hành chính và một số khoản khác có tính chất chung toàn doanh
nghiệp.
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 21 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh
 Kết quả hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng mà bất kỳ doanh nghiệp nào
cũng hướng tới và mong muốn đạt kết quả cao. Phân tích kết qảu kinh daonh cho ta cái
nhìn về cơ cấu và hiệu quả của từng hoạt động mang đến lợi nhuận cho doanh nghiệp
từ đó có những quyết định đến hoạt động và cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp. Ta sẽ
đi phân tích một số khoản mục sau:
- Danh thu : là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được qua hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh thu thuần là doanh thu đã trừ các khoản giảm trừ. Đây là một trong những chỉ
tiêu có ý nghĩa nhất với tình trạng của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
- Doanh thu từ hoạt động tài chính: là thu nhập từ tiền lãi, tiền bản quyền, lợi nhuận được
chia và các hoạt động tài chính khác.
- Lợi nhuận trước thuế và sau thuế: là chỉ tiêu tổng hợp, tóm tắt bẳng báo cáo kết quả kinh
doanh. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất cảu doanh nghiệp. Vì lợi
nhuận là mục đích của các daonh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nên chỉ tiêu này
dùng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.4. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua các hệ số tài chính đặc
trưng
Phân tích tình hình tài chính qua hệ thống các chỉ tiêu tài chính đặc trưng là một
trong những phương pháp thường được các đối tượng quan tâm sử dụng để đánh giá
nhận định khái quát tình hình hoạt động tài chính của một doanh nghiệp. Theo đó, có
thể phục vụ những thông tin tài chính cần thiết về doanh nghiệp cho từng đối tượng

Hệ số thanh toán
lãi vay
=
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lãi vay
Chỉ tiêu tài chính này chỉ ra khả năng tài chính mà doanh nghiệp tạo ra để trang
trải cho chi phí vay vốn trong sản xuất kinh doanh. Hệ số thanh toán lãi vay càng lớn,
thông thường lớn hơn 2 thì khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp đang ở mức
an toàn và ngược lại thì khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp thấp, có tiềm ẩn
rủi ro.
2. Nhóm hệ số khả năng hoạt động
 Luân chuyển vốn lưu động
Số vòng quay
=
Doanh thu thuần
Vốn lưu động Vốn lưu động bình quân
Số ngày
=
Số ngày trong kỳ( 360)
một vòng quay Số vong quay vốn lưu động
Số vòng quay vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá
chất lượng công tác sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn và trong cả quá trình
sản xuất kinh doanh. Số vòng quay vốn lưu động càng lớn hay số ngày của một vòng
quay càng nhỏ sẽ góp phần tiết kiệm tương đối vốn cho sản xuất.
 Luân chuyển vốn cố định
Số vòng quay
=
Doanh thu thuần
Vốn cố định Vốn cố định bình quân
Số ngày một vòng

Thời gian tồn kho
bình quân
=
Số ngày trong kỳ(360)
Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần mà hàng tồn kho bình quân được
bán trong kỳ.
Thời gian tồn kho bình quân đo lường số ngày hàng hóa nằm trong kho trước
khi bán ra.
 Luân chuyển khoản phải thu
Số vòng quay
=
Doanh thu thuần
Khoản phải thu
Khoản phải thu
bình quân
Kỳ thu tiền
bình quân
=
Số ngày trong kỳ(360)
Số vòng quay khoản phải thu
Tốc độ luân chuyển khoản phải thu vừa thể hiện khả năng luân chuyển khoản
phải thu, khả năng thu hồi nợ và dòng tiền thanh toán.
Số vòng quay khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ thể
hiện tốc độ luân chuyển nợ phải thu càng nhanh, khả năng thu hồi nợ được cải thiện,
hạn chế bớt lượng vốn bị chiếm dụng để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và
doanh nghiệp thuận lợi hơn về nguồn tiền thanh toán. Ngược lại số vòng quay nợ phải
thu càng nhỏ hay kỳ thu tiền kéo dài hơn dẫn đến khả năng thu hồi vốn chậm gây khó
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 24 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội Khoa Quản lý kinh doanh

Đứng trên góc độ là chủ sở hữu doanh nghiệp, tỷ số này được cho là quan trọng
nhất. tỷ số này đo lường khả năng sinh lời trên một đồng vốn cổ phần phổ thông. Tỷ số
này càng cao thì lợi ích cuối cùng thuộc về các cổ đông càng lớn, tạo sức hấp dẫn với
nhiều nhà đầu tư trên thị trường.
 Khả năng sinh lời qua phương trình Dupont
Phân tích khả năng sinh lời qua phương trình Dupont thực chất chính là phân
tích khả năng sinh lời trên vốn cổ phần, đây là tiêu chuẩn phổ biến nhất người ta dùng
để đánh giá tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Việc phân tích dựa trên
phương trình Dupont có thể đưa ra những đánh giá tổng hợp khả năng sinh lời của
Nguyễn Thị Huế - TCNH 3 – K5 25 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trích đoạn Nguyên nhân khách quan CẦU TRỤC THÁNH KHỞ Nâng cao chất lượng nguồn thông tin sửdụng trong phântích tài chính Nội dung phântích cần đa dạng và chi tiết hơn Sửdụng phương pháp Dupont trong phântích
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status