CHUYÊN đề THỰC tập tốt NGHIỆP giải pháp thúc đẩy hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu tại ngân hàng ngoại thương việt nam - Pdf 14

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại ( NHTM ) 7
1.2. Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng ( TDNH ) 8
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm TDNH 8
1.3. Tổng quan về hoạt động tín dụng ngân hàng tài trợ xuất
khẩu(TDTTXK ) 12
1.3.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng tài trợ xuất khẩu 13
1.3.2. Vai trò của tín dụng tài trợ xuất khẩu 14
1.3.3. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu 17
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu 25
Tóm tắt chương 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT
KHẨU TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 31
2.1. Tổng quan về Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam 31
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNTVN 32
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý tại NHNTVN 34
2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh cơ bản của NHNTVN 35
2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu tại NHNTVN 39
2.2.1. Các quy định về hoạt động TDTTXK tại NHNTVN 39
2.2.2. Các chính sách về TDTTXK tại NHNTVN 41
2.2.3. Thực trạng hoạt động TDTTXK tại NHNTVN trong những năm gần
đây (2003 – 2006 ) 45
2.3. Đánh giá về hoạt động TDTTXK tại NHNTVN 60
2.3.1. Những kết quả đạt được 60
2.3.2. Những khó khăn và tồn tại 64
Tóm tắt chương 2 71
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ

48
Bảng 2.5. Cơ cấu dư nợ tài trợ xuất khẩu theo VNĐ và ngoại tệ tại
NHNTVN 50
Bảng 2.6. Cơ cấu tài trợ xuất khẩu theo mặt hàng tại NHNTVN 52
Bảng 2.7. Tỷ trọng các mặt hàng tài trợ xuất khẩu tại NHNTVN 52
Bảng 2.8. Cơ cấu tài trợ xuất khẩu theo thành phần kinh tế 55
Bảng 2.9. Doanh số thanh toán xuất khẩu tại NHNTVN 58
Bảng 2.10. Tình hình chiết khấu chứng từ hàng xuất tại NHNTVN 59
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
LỜI MỞ ĐẦU
1.Lí do lựa chọn đề tài.
Qúa trình quốc tế hoá tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ
ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới: trong sản
xuất, thương mại đầu tư, tài chính, các hoạt động dịch vụ, trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo, văn hoá và lối sống…Thông qua các hoạt động trên các nước xích
lại với nhau hơn, gắn bó với nhau nhiều hơn. Chính điều đó làm cho nền kinh tế
thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là một bộ
phận không tách rời và tuỳ thuộc vào nhau. Sự biến động xảy ra ở bất kỳ nước
nào đó tất yếu sẽ dẫn tới sự tác động tới các quốc gia khác trên thế giới. Đặc
điểm này đặt ra một yêu cầu tất yếu là mỗi quốc gia cần phải mở cửa ra thị
trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển
kinh tế đối ngoại để có được một khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển.
Nhận thức được vấn đề đó, Đảng và Nhà Nước ta đã thực hiện chính sách
kinh tế mở, hội nhập kinh tế, tiến hành hàng loạt các biện pháp cải cách, đổi mới
nền kinh tế quốc dân để đảm bảo Việt Nam thực hiện thắng lợi đổi mới xây
dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi mở cửa, hoạt động
ngoại thương của Việt Nam diễn ra sôi nổi hơn bao giờ hết, trong đó hoạt động
xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng đã góp phần to lớn vào sự đổi

của quý NHNTVN, em đã được thực tập tại trụ sở chính NHNTVN – 198 Trần
Quang Khải, Hà Nội. Trong thời gian thực tập em đã tìm hiểu về hoạt động
TDTTXK của ngân hàng và nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động đó đối với
sự phát triển của ngân hàng nói riêng và với sự phát triển kinh tế nước ta nói
chung. Do vậy đề tài: “Giải pháp thúc đẩy hoạt động tín dụng tài trợ xuất
khẩu tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam” đã được em lựa chọn là đề tài
để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trên cơ sở xác định bản chất và vai trò của tín dụng ngân hàng ( TDNH )
đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là thực trạng hoạt động TDTTXK
của NHNTVN, mục đích nghiên cứu chuyên đề là đưa ra một số giải pháp nhằm
thúc đẩy hoạt động TDTTXK tại NHNTVN.
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động TDTTXK tại
NHNTVN.
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là: Chuyên đề khảo sát hoạt động
TDTTXK tại NHNTVN từ năm 2003 đến năm 2006.
4. Kết cấu của chuyên đề.
Tên chuyên đề: “ Giải pháp thúc đẩy hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu
tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam”.
Để đạt được các mục đích trên, ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Lời cam
đoan; Mục lục; Danh mục các bảng số liệu, hình vẽ, chữ viết tắt; Danh mục tài
liệu tham khảo; Phụ lục, thì chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về hoạt động TDTTXK tại ngân
hàng thương mại ( NHTM ).
Chương 2: Thực trạng và đánh giá hoạt động TDTTXK tại NHNTVN.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động TDTTXK tại NHNTVN.

Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
1.2. Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng ( TDNH ).
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm TDNH.
1.2.1.1. Khái niệm.
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà
thuật ngữ tín dụng có nội dung riêng.
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển
dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể.
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính
cung cấp cho khách hàng. Trong một số ngữ cảnh cụ thể thì thuật ngữ tín dụng
còn đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay.
Mục đích cuối cùng là muốn xem tín dụng là một chức năng cơ bản của
ngân hàng. Vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng
thì tín dụng được hiểu như sau: “ Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc
hàng hoá) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các định chế tài chính khác ) và các
bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác ), trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán ”.
Trong nền kinh tế thị trường , nếu lấy tiêu thức “ chuyển nhượng ” làm
căn cứ để phân chia các hình thức tín dụng thì có hai loại đó là tín dụng thương
mại và tín dụng ngân hàng. Tín dụng thương mại là hình thức cho vay bằng
hàng hoá; Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức
tín dụng khác với các cá nhân và doanh nghiệp.

1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện qua những mặt sau:
1.2.2.1. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát
triển.
Trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, không phải lúc nào
doanh nghiệp cũng có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển của mình, nên để
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
đảm bảo cho sản xuất kinh doanh bình thường, họ tìm đến ngân hàng hay các
định chế tài chính để nhận được sự tài trợ về nguồn vốn. Như vậy thông qua
việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng đã góp phần giúp
các doanh nghiệp không những đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn
có thể mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ
thuật và công nghệ mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo khả năng và khuyến
khích đầu tư vào các ngành,các lĩnh vực các công trình lớn có ý nghĩa đối với
quốc kế dân sinh.
Hơn nữa hoạt động tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện để duy trì mối
liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội. Nó làm
cho lưu thông hàng hoá mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Hiện nay, khoa học – kĩ thuật và công nghệ phát triển, bùng nổ như vũ
bão, chu kì sản phẩm ngày càng rút ngắn lại thì tín dụng ngân hàng càng trở nên
quan trọng hơn. Nhờ nguồn vốn tín dụng của ngân hàng mà doanh nghiệp có thể
tiếp cận được với những công nghệ tiên tiến, hiện đại, từ đó giúp các nước đang
và chậm phát triển có thể thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước với chiến lược đi tắt đón đầu.
Như vậy, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển nhanh chóng là điều không thể phủ nhận.
1.2.2.2. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất.

yêu cầu ngày càng cao về đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro đối với các bên
tham gia giao dịch thì các hoạt động thanh toán quốc tế cũng ngày càng phát
triển với các phương thức, phương tiện thanh toán đa dạng, nhanh chóng và tiện
lợi hơn.Nhờ đó, thông qua cơ chế thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng làm
giảm giao dịch tiền mặt nên có thể thực hiện được một khoản chi phí cho việc
lưu thông tiền mặt. Đồng thời nhờ vào các phương tiện thanh toán khác như
là:séc, thương phiếu, hối phiếu nên có thể mở rộng được quy mô lưu thông
hàng hoá; tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, bảo quản tiền, ghi chép sổ, làm
tăng tốc độ chu chuyển vốn, tài sản xã hội được đảm bảo an toàn hơn. Đây là
bước tiết kiệm quan trọng nhất mà tín dụng đã đạt được thông qua hoạt động của
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
hệ thống ngân hàng.
Mặt khác, tín dụng ngân hàng thực hiện điều hoà nguồn vốn, phân phối
lại vốn trong xã hội. Đây chính là chức năng phân phối của tín dụng ngân hàng.
Nó biểu hiện ở cơ chế “ hút ” và “đẩy ” được thực hiện thông qua nhiệm vụ huy
động vốn cho vay (thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi, phân tán trong xã hội ) và
nhiệm vụ cho vay (để đẩy vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng )
hoặc thông qua thị trường liên ngân hàng. Dù dưới hình thức nào thì việc điều
hoà vốn của tín dụng ngân hàng làm cho xã hội bớt được thừa vốn ở nhiều nơi
thừa vốn và giảm khó khăn ở những nơi thiếu vốn, đồng thời làm cho phát triển
tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn, giảm tình trạng phải phát hành thêm
tiền, khắc phục tình trạng lạm phát tiền tệ, từ đó góp phần ổn định lưu thông tiền
tệ, ổn định giá cả. Tất cả những tác động đó của tín dụng ngân hàng đều giúp tiết
kiệm một lượng lớn lưu thông trong xã hôi.
1.2.2.4. Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện chính sách xã hội và là phương
tiện để Nhà Nước thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Thông qua tín dụng ngân hàng , Nhà nước tài trợ cho các đối tượng chính
sách xã hội như học sinh, sinh viên, các hộ nông dân nghèo, các hộ sản xuất, các

hàng. Đây là một cách nhìn chung về TDTTXK, tuy nhiên ở cụ thể ở mỗi nước
lại có cách phương thức thực hiện riêng, nhưng theo xu thế ngày một hội nhập
như hiện nay thì hoạt động TDTTXK của các nước đang ngày càng đi theo
nhiều tiêu chuẩn chung của thế giới.
Cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế thì TDTTXK
cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân
hàng cho vay trực tiếp đối với các doanh nghiệp xuất khẩu như cho vay để bổ
sung vốn lưu động, thu mua, chế biến, sản xuất hàng hoá xuất khẩu theo các hợp
đồng đã kí kết; cho vay thanh toán nguyên liệu…Ngân hàng mở rộng hình thức
cho vay trung và dài hạn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Ngân
hàng cho vay để mua sắm thiết bị, cải tiến công nghệ, ứng dụng các thành tựu
khoa học và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính
cạnh tram trên thị trường quốc tế.
Ngân hàng còn thực hiện đứng ra bảo lãnh các đơn vị xuất khẩu để giúp
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
cho họ có thể thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế lớn. Với sự bảo lãnh
của ngân hàng các doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài loại bỏ được những lo
ngại đối với doanh nghiệp xuất khẩu ( về uy tín, khả năng thực hiện hợp đồng ),
và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt. Nếu doanh
nghiệp có hối phiếu hay các chứng từ có giá trong tay có thể đưa đến ngân hàng
để chiết khấu . Ngân hàng sẽ mua lại bộ chứng từ và có quyền đòi nhà nhập
khẩu theo hối phiếu và các giấy tờ đó.
Như vậy, do trình độ kỹ thuật nghiệp vụ ngày càng phát triển, các phương
thức thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng thì hoạt động TDTTXK cũng phát
triển mạnh với sự ra đời của nhiều hình thức, phục vụ tích cực và có hiệu quả
cho hoạt động xuất khẩu.
1.3.2. Vai trò của tín dụng tài trợ xuất khẩu.
Nếu xét hoạt động TDTTXK trên từng giác độ của ngân hàng, của doanh

1.3.2.2 Đối với doanh nghiệp.
Trong các giao dịch ngoại thương, có những hợp đồng ngoại thương được
ký kết với giá trị lô hàng lớn, và có thể được thực hiện trong thời gian tương đối
lâu. Điều đó đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải có nguồn vốn tương đối lớn và ổn
định để đáp ứng các yêu cầu từ quá trình thu mua nguyên vật liệu đầu vào, chế
biến, sản xuất, vận chuyển đến người nhập khẩu – quá trình này có thể kéo dài
hàng năm, có khi nhiều hơn. Doanh nghiệp không thể tập trung hết toàn bộ
nguồn lực của mình vào một hoạt động, mà doanh nghiệp cũng cần phải phân bố
nguồn vốn vào các hoạt động kinh doanh sản xuất khác, do đó nhu cầu tài trợ
vốn từ ngân hàng của doanh nghiệp là rất cần thiết.
Trong bất kỳ một hoạt động ngoại thương nào thì điều khoản thanh toán
cũng được chú trọng rất nhiều. Nếu doanh nghiệp đã có được sự tài trợ từ phái
ngân hàng có nghĩa là xác định được ngân hàng phục vụ cho mình, thì doanh
nghiệp sẽ tạo được lợi thế trong quá trình đàm phán, thương lượng và ký kết hợp
đồng. Bởi vì với sự tài trợ của ngân hàng thì doanh nghiệp có sự hậu thuẫn to
lớn không chủ về vốn mà còn cả kinh nghiệm thanh toán và uy tín trên trường
quốc tế - điều này giúp doanh nghiệp nhập khẩu sẽ an tâm hơn và tin vào khả
năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp xuất khẩu. Như vậy TDTTXK là giải
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được các hợp đồng (đặc biệt là các hợp đồng
có giá trị lớn với các doanh nghiệp nhập khẩu có uy tín).
Ngoài ra, TDTTXK còn làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Thông qua nguồn vốn tài trợ của ngân hàng, doanh
nghiệp có thể mua hàng đúng thời vụ, gia công, chế biến, sản xuất và giao hàng
đúng thời điểm, thương vụ được thực hiện trôi chảy, từ đó nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường thế giới.
1.3.2.3. Đối với ngân hàng thương mại.
TDTTXK của NHTM là hình thức tài trợ thương mại, kỳ hạn gắn liền với

thì thường giá trị tài trợ ở mức vừa và lớn. Ngoài ra, thông qua tài trợ xuất khẩu,
ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước
ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên trường quốc tế, đây cũng là hiệu quả.
1.3.3. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu.
Cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế thì TDTTXK
cũng ngày càng đa dạng và phong phú với sự ra đời của nhiều hình thức nhằm
phục vụ tích cực và có hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu. Mỗi loại hình thức tài
trợ có các hình thức thực hiện khác nhau, phương tiện sử dụng khác nhau, nguồn
tài trợ khác nhau và mức giá khác nhau nên người yêu cầu cần cân nhắc kỹ để
tránh bị nhầm lẫn.
Căn cứ vào thời hạn tài trợ thì hoạt động TDTTXK có thể được chia
thành TDTTXK ngắn hạn và TDTTXK trung – dài hạn. Nếu căn cứ vào mức độ
tín nhiệm đối với khách hàng thì có thể chia thành TDTTXK có bảo đảm và
TDTTXK không có bảo đảm.
Trong chuyên đề này, TDTTXK sẽ được phân chia dựa trên căn cứ vào
phương thức thanh toán.
1.3.3.1. Tài trợ trong khuôn khổ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ( L/C).
Tín dụng chứng từ là một thoả thuận được một ngân hàng phát hành theo
yêu cầu của người yêu cầu ( người mua / người nhập khẩu ), theo đó, ngân hàng
cam kết sẽ thay mặt khách hàng của mình thực hiện thanh toán cho người hưởng
( người bán / người xuất khẩu ) thông qua một ngân hàng thứ hai một số tiền
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
nhất định trong mộ khoảng thời gian nhất định trên cơ sở xuất trình bộ chứng từ
theo yêu cầu phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng.
Như vậy, L/C không những là công cụ thanh toán, công cụ bảo đảm thanh
toán mà còn là công cụ tín dụng. Đây là công cụ được các ngân hàng sử dụng
phổ biến hiện này để thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu. Đối với việc tài trợ xuất
khẩu theo L/C thí được thể hiện qua các hình thức sau:

cho vay được tính bằng thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhập khẩu
nước ngoài. Khi đó, trách nhiệm người xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân
hàng đòi được tiền từ nhà nhập khẩu. Khi chiết khấu được tính dưới hình thức
lãi chiết khấu, tính theo ngàyvà mức phí dĩ nhiên thấp hơn trong trường hợp
chiết khấu miễn truy đòi vì rủi ro ngân hàng phải chịu thấp hơn.
Tác dụng hoạt động chiết khấu của ngân hàng nhằm tài trợ vốn lưu động
cho người xuất khẩu để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián
đoạn trong thời gian chờ nhà nhập khẩu nước ngoài thanh toán tiền hàng. Phạm
vi chiết khấu bộ chứng từ thường chỉ được áp dụng trong phương thức thanh
toán quốc tế tín dụng chứng từ, do phương thức này có sự ràng buộc chặt chẽ
việc giao hàng của nhà xuất khẩu và trách nhiệm thanh toán của nhà nhập khẩu
thông qua các ngân hàng phục vụ các bên, rủi ro thấp hơn các phương thức
thanh toán quốc tế khác.
- Tín dụng ứng trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán: đó là
việc tạm ứng cho quyền thừa hưởng thanh toán trong khuôn khổ thanh toán tín
dụng chứng từ. Thời gian cho thanh toán là một quá trình khá dài, nên nhà xuất
khẩu cũng cần một khoản tài trợ của ngân hàng, đó là khoản tín dụng ứng trước.
Đối với tín dụng ứng trước loại này , những giấy tờ có giá theo lệnh hoặc những
giấy tờ chính như vận đơn, hoá đơn thương mại, hợp đồng bao hiểm… đều là
những vật thế chấp cho ngân hàng. Do đó, tất cả giấy tờ có giá theo lệnh đều
phải có mệnh giá chuyển nhượng khống hoặc chuyển nhượng cho ngân hàng
cấp tín dụng ứng trước. Một khi những giấy tờ có giá trị trên không cho phép
chuyển nhượng thì người vay vốn phải sử dụng những hình thức thế chấp khác.
Mức độ cấp vốn ứng trước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu.
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
+ Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và giá trị của hàng hoá dự kiến.
+ Chính sách kinh tế và chính sách chính trị của nước nhập khẩu đối với

20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
nhận và vào giá trị hàng hoá được thanh toán.Nếu nhà nhập khẩu được giao các
chứng từ khi chấp nhận một hối phiếu đòi nợ, thì có thể kèm theo việc chiết
kháu hối phiếu ở ngân hàng nhà xuất khẩu cũng như ngân hàng nhà nhập khẩu.
1.3.3.3 Tài trợ trên cơ sở hối phiếu.
Hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện của nhà xuất khẩu ký
phát cho nhà nhập khẩu, yêu cầu nhà nhập khẩu khi nhìn thấy hối phiếu hoặc
đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương
lai phải trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hối phiếu hoặc theo lệnh
của người hưởng lợi trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.
Tài trợ trên cơ sở hối phiếu có hai hình thức phổ biến sau:
• Chiết khấu hối phiếu ( Bill discounting ).
Tín dụng chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được
thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển quyền sở hữu thương phiếu chưa
đáo hạn cho ngân hàng nhận về một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ
đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí chiết khấu. Thực chất của hình thức này là
ngân hàng tiến hành mua lại các hối phiếu thương mại đang trong thời kỳ chưa
đến hạn thanh toán. Nét đặc trưng của nghiệp vụ này là ngân hàng sẽ chiết khấu
trừ đi tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại.
Các ngân hàng sẽ xác định khối lượng tín dụng cấp ra ( giá trị chiết khấu ) căn
cứ vào mệnh giá của hối phiếu được áp dụng làm đối tượng chiết khấu trừ đi lợi
tức chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng chiết khấu hưởng. Công thức xác
định như sau:
T
CK
= M
Pt
L
CK

nhận hối phiếu ở đây lại bàn ở một khía cạnh khác: khía cạnh tài trợ của ngân
hàng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra
trong trường hợp bên bán thiếu tin tưởng khả năng thanh toán của bên mua, họ
có thể đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối
phiếu do bên bán ký phát. Nếu ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân
hàng đã chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho
bên bán khi hối phiếu đến hạn. Đây là một sự đảm bảo về tài chính cho bên bán,
đương nhiên nếu đến thời hạn thanh toán bên mua có đủ tiền, thì ngân hàng thực
sự không phải ứng tiền ra, khoản tín dụng này chỉ là hình thức. Với sự chấp
nhận của ngân hàng, nhà xuất khẩu trên cơ sở đó có được sự bảo đảm chắc chắn
về khả năng thanh toán và họ có thể đem hối phiếu chiết khấu tại bất kỳ ngân
hàng nào. Khả năng thương mại của hối phiếu lúc này rất lớn, tạo điều kiện
thuận lợi cho nhà xuất khẩu được hưởng một tỷ lệ chiết ưu đãi.
1.3.3.4. Bảo lãnh.
Trong mua bán quốc tế, đôi khi do không nắm rõ hoặc không tin tưởng
nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân hàng đứng ra bảo
lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh là một trong các nghiệp vụ của ngân hàng, là cam kết của ngân
hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiền cho người hưởng bảo lãnh, nếu người
được hưởng bảo lãnh không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả
thuận với người hưởng bảo lãnh được quy định cụ thể trong thư bảo lãnh của
ngân hàng.
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
Hình thức tài trợ, khi ngân hàng phát hành thư bảo lãnh, tức là ngân hàng
đã cấp cho khách hàng một sự tín nhiệm tài chính trong việc ngân hàng cam kết
bồi thường cho khách hàng khi có tổn thất xảy ra. Sự tín nhiệm tài chính này lớn
hay nhỏ hoàn toàn phụ thuộc vào địa vị, uy tín và độ tín nhiệm của ngân hàng
như thế nào. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu tượng,

khẩu không trả tiền.
- Factoring tuyệt đối: nhà Factor gánh chịu mọi rủi ro nếu nhà nhập
khẩu không trả tiền.
Tín dụng bao thanh toán giúp nhà xuất khẩu có vốn ngay để hoạt dộng sản
xuất kinh doanh của mình dù bán thu tiền ngay hay bán chịu, đồng thời giúp nhà
xuất khẩu không phải bận tâm vào việc quản lý thanh toán phức tạp kéo dài thời
gian. Vì vậy nhà xuất khẩu phải trả một khoản phí khá cao khi được bao thanh
toán.Nhìn chung tín dụng bao thanh toán đặc biệt thích hợp với các giao dịch áp
dụng phương thức thanh toán ghi sổ, cho phép người mua hưởng tín dụng cung
ứng hoặc gặp khó khăn trong việc thu nợ tiền hàng từ nhà nhập khẩu nước
ngoài.
• Tín dụng thuê mua ( Leasing ).
Thuê mua là hình thức tài trợ vốn ra đời ở Mĩ vào năm 1952, sau đó thâm
nhập vào Châu Âu đầu những năm 1960 và dần dần hiện nay đang được các
nước trên thế giới áp dụng.
Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó người
cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người sử dụng. Người
thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê và khi kết thúc
thời hạn họ có thể được quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được mua lại tài sản thuê
hay được quyền thuê tiếp. Điều này tuỳ thuộc vào thoả thuận của hai bên khi ký
kết hợp đồng thuê. Có hai loại hình thức thuê: cho thuê vận hành và cho thuê tài
chính.
- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác. Bên đi thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản hoặc tiếp tục thuê khi kết thúc thời hạn thuê.
Sinh viên: Nguyễn Mai Anh Lớp: KDQT45
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đàm Quang Vinh
- Cho thuê vận hành: Bên đi thuê thuê máy móc, thiết bị trong thời gian
ngắn để sử dụng vào mục đích tạm thời. Mọi rủi ro và lợi ích đem lại đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status