Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng kỹ thương Việt Nam - Pdf 15

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước đất
nước ta đang từng bước hội nhập kinh tế thế giới. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giành được
những thành tựu to lớn như kiềm chế lạm phát, nhịp độ tăng trưởng về tổng sản phẩm
trong nước đã vượt kế hoạch đề ra, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng…Bên cạnh
những thành tựu đạt được chúng ta còn những mặt chưa làm được như: Tình hình xã
hội còn nhiều tiêu cực, quản lý nhà nước về kinh tế một số ngành còn lỏng lẻo, chỉ số
giá tiêu dùng tăng đột biến…Đảng và Nhà Nước ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng
trong thời gian tới là tiến hành CNH- HĐH nền kinh tế đất nước. Muốn vậy, chúng ta
cần phải có nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, trang bị kỹ
thuật tiên tiến, đồng thời có sự nâng cấp mở rộng sản xuất kinh doanh đối với các
thành phần kinh tế từ đó tạo đà cho sự phát triển. Vấn đề chất lượng tín dụng không
phải chỉ mối quan tâm của riêng ngân hàng mà còn là vấn đề quan tâm của cả nền
kinh tế. Hiệu quả hay nói cách khác chất lượng tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố
trong đó có yếu tố thuộc về ngân hàng nhưng cũng có yếu tố thuộc về khách hàng,
các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô như: chính trị, tình hình phát triển kinh tế…
Tuy nhiên, có nguồn vốn thôi chưa đủ phải biết sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó
mới góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo đúng kế hoạch, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Hay nói một cách khác, chỉ khi nào mở rộng tín dụng
gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng thì nguồn vốn mới phát huy được vai trò
tích cực của mình.
Mặc dù vậy, trước những biến động không ngừng của nền kinh tế thị trường thì
chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, nhằm góp phần an toàn
trong hoạt động Ngân hàng nói chung cũng như của ngân hàng kỹ thương Việt Nam
nói riêng. Đây là nguyên nhân mà em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại ngân hàng kỹ thương Việt Nam”
Nội dung của chuyên đề của em được chia thành ba chương chính sau:
Nguyễn Mạnh Thắng 1 Lớp TCDN-K21

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Tín dụng và chất lượng tín dụng của

Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản cho thấy tín dụng nặng lãi không
còn phù hợp nữa, nó cản trở sự phát triển của nền kinh tế bởi các nhà tư bản kinh
doanh với mục đích lợi nhuận không thể vay với mức lãi suất cao hơn tỷ suất lợi
nhuận. Vì vậy hoạt động của nó ngày càng thu hẹp và tín dụng thương mại xuất hiện.
Đây là hình thức tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau do đó chủ thể
tham gia quá trình vay mượn này cũng là các nhà sản xuất kinh doanh.
Trong quan hệ mua bán chịu, thông thường giá bán chịu hàng hoá cao hơn giá
bán bằng tiền mặt, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hoá đem bán chịu. Quan
hệ mua bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp với nhau. Vì vậy nó
Nguyễn Mạnh Thắng 3 Lớp TCDN-K21

không đáp ứng được nhu cầu vay mượn ngày càng tăng của nền sản xuất hàng hoá và
tín dụng ngân hàng ra đời.
Vậy tín dụng Ngân hàng là gì ?
" Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài
sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và
bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên
cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên
cho vay khi đến hạn thanh toán".
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn luôn
đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
Nhưng một vấn đề được đặt ra là liệu người thiếu vốn và những người thừa vốn đó
có gặp nhau không? Và trong nền kinh tế thị trường hàng ngày hàng giờ diễn ra
không biết bao nhiêu mối quan hệ như vậy? Nó đã hình thành nên: Một bên là những
người có tiền tích luỹ, có khả năng cung cấp và phía bên kia là những người có nhu
cầu vay cho đầu tư phát triển. Như vậy nảy sinh vấn đề là làm thế nào để họ có thể
tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng một lúc thoả mãn được nhu cầu vốn đa
dạng và to lớn trong khi các nguồn tiết kiệm còn đang nằm phân tán trong xã hội. Do
đó các Ngân hàng thương mại với chức năng cơ bản là trung gian tài chính, hoạt

tính được hết các khó khăn sẽ gặp trong tương lai. Do vậy, mức độ rủi ro của các
khoản tín dụng có thời gian lớn đối với ngân hàng sẽ tăng lên. Điều này một phần lý
giải tại sao lãi suất các khoản vay dài hạn thường cao hơn các khoản vay ngắn hạn.
Phân loại Tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với các NHTM.
Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính an
toàn và sinh lợi của một NHTM.
* Phân loại theo hình thức cho vay
Căn cứ theo hình thức cho vay ta có các loại tín dụng sau:
- Chiết khấu là việc NHTM ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị
của thương phiếu sau khi đã trừ đi một phần thu nhập của ngân hàng để sỏ hữu một
thương phiếu chưa đến hạn. Về mặt pháp lý thì ngân hàng không phải là nhà cho vay
đối với chủ sở hữu thương phiếu và chỉ là hình thức trái quyền. Tuy nhiên, đối với
Nguyễn Mạnh Thắng 5 Lớp TCDN-K21

ngân hàng, việc bỏ tiền ở thời điểm hiện tại để thu về một khoản tiền lớn hơn trong
tương lai với lãi suất được ấn định trước được coi như là hoạt động tín dụng, nhưng
có lẽ coi đây là một hoạt động đầu tư của ngân hàng hơn hoạt động tín dụng.
- Cho vay được hiểu là ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với sự cam kết
khách hàng trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định với mức lãi suất cam
kết. Cho vay được gọi là một trong các nghiệp vụ truyền thống của NHTM, nó được
hình thành ngay từ buổi sơ khai của các ngân hàng, và được đánh giá là hoạt động
sinh lợi cao nhất cho các NHTM.
- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thục hiện các nghĩa vụ tài chính thay
khách hàng của mình khi khách hàng của mình không có khả năng trả nợ. Mặc dù
không phải xuất tiền ra, song ngân hàng vẫn thu được lời từ khách hàng nhờ uy tín
của mình. Nghiệp vụ này được đưa vào tài khoản ngoại bảng của ngân hàng. Tuy
nhiên nếu có nghiệp vụ phát sinh tức là ngân hàng đứng ra thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng của mình thì nó lại được đưa vào tài khoản nội bảng.
- Cho thuê đó là nghiệp vụ ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho khách
hàng thuê theo những điều kiện nhất định. Sau thời gian đó khách hàng phải hoàn trả

giữa người gửi tiền và người đi vay Ngân hàng đã biến mọi nguồn ngoại tệ phân tán
trong xã hội thành nguồn vốn tập trung, qua đó điều hoà quan hệ cung cầu về tiền tệ
trong xã hội, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Là một đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục đích lợi nhuận, các
Ngân hàng thương mại luôn tìm cách để tối đa hoá lợi nhuận của mình. Lợi tức thu
được của các Ngân hàng được hình thành từ hai hoạt động đó là: Hoạt động tín dụng
và các dịch vụ của Ngân hàng trong đó thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu. Tín
dụng ở đây chúng ta hiểu là hoạt động cho vay của Ngân hàng. Vậy Ngân hàng lấy
vốn ở đâu ra để cho vay? Phải chăng là vốn tự có của Ngân hàng. ở đây các Ngân
hàng phải huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tầng lớp dân cư trong
xã hội sau đó phân phối vốn trở lại một cách hợp lý. Chính nhờ có tín dụng ngân
hàng mà các chủ thể “thừa“ vốn có cơ hội không những bảo tồn vốn mà còn tạo thu
nhập (thu lãi), còn đối với chủ thể thiếu vốn tín dụng ngân hàng giúp họ bổ sung vốn
để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc đời sống. Trong công tác huy động vốn
một mặt các Ngân hàng phải cố gắng đưa ra những mức lãi suất hấp dẫn đối với
khách hàng mặt khác phải đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Nguyễn Mạnh Thắng 7 Lớp TCDN-K21

Thông qua công tác tín dụng, Ngân hàng đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu
về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên
tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín
dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Bên cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho các Doanh nghiệp, các Ngân hàng
còn có những ý kiến đóng góp cho phương án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác
thông qua quá trình sử dụng vốn của Doanh nghiệp...
1.1.2.2. Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng,
đẩy mạnh đầu tư phát triển
Thực tế cho thấy bất kỳ một Doanh nghiệp nào muốn hoạt động và sản xuất
kinh doanh cũng phải cần có một lượng vốn nhất định, trong trường hợp muốn mở
rộng sản xuất kinh doanh thì cần phải có một lượng vốn lớn hơn. Hiện nay trong nền

cơ sở các kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính. Khi xét duyệt cho vay Ngân hàng
còn căn cứ vào tình hình chấp hành các nguyên tắc cơ bản của chế độ tín dụng ngân
hàng, tình hình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đối với các đơn vị bạn cũng như
tôn trọng các quy chế thủ tục cho vay. Đặc biệt cần phải có các báo cáo tài chính kế
hoạch sản xuất kinh doanh trong đó nêu rõ mục đích và khẳng định tính khả thi và
mức sinh lợi của dự án. Như vậy muốn vay được vốn các Doanh nghiệp cần phải
thực hiện chế độ hạch toán thật tốt. Tất cả những công tác trên giúp cho Doanh
nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả và Ngân hàng có khả năng thu hồi được vốn.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả cả
gốc lẫn lãi của các con nợ đối với Ngân hàng. Các đơn vị kinh tế, cá nhân khi vay
vốn Ngân hàng đều phải cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện mà Ngân hàng đưa
ra nhằm đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản
xuất kinh doanh của đơn vị và hoàn trả vốn + lãi đúng thời hạn. Trong trường hợp
các đơn vị vay vốn không thực hiện đúng cam kết thì Ngân hàng sẽ dùng đến các
Nguyễn Mạnh Thắng 9 Lớp TCDN-K21

biện pháp chế tài tín dụng. Do vậy các đơn vị sản xuất kinh doanh luôn luôn tìm mọi
biện pháp để tăng hiệu quả sử dụng vốn như: Đẩy nhanh vòng quay vốn, tăng năng
xuất, giảm giá thành nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận, để có thể hoàn trả gốc và lãi đúng
thời hạn. Điều này đã thúc đẩy đơn vị sản xuất kinh doanh tăng cường khâu hạch
toán kế toán một cách chặt chẽ đảm bảo doanh lợi ngày càng cao, tăng hiệu quả sử
dụng vốn tín dụng.
1.1.2.5. Tín dụng ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tư, tài trợ cho các ngành
kinh tế then chốt và các ngành, vùng kinh tế kém phát triển
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tập trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã
hội của các tổ chức, cá nhân để cho các đơn vị kinh tế vay. Nhưng không phải tất cả
các chủ thể có nhu cầu vay đều được Ngân hàng đáp ứng, bởi để tránh rủi ro tín dụng
các Ngân hàng chỉ thực hiện đầu tư tập trung vào một các đơn vị có triển vọng sản
xuất kinh doanh.
Tuy nhiên trong điều kiện đất nước ta hiện nay một bộ phận lớn dân cư đang

được thì phải thắng trong cạnh tranh. Khi nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển
thì cạnh tranh ngày càng gay gắt. Cạnh tranh diễn ra trên 3 phương diện: Số lượng,
chất lượng, giá cả trong đó chất lượng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, tạo điều
kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường.
Ngân hàng là một Doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và
có tác động rất lớn tới toàn bộ nền kinh tế bởi thực tế cho thấy nguyên nhân của hầu
hết các cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra đều bắt nguồn từ Ngân hàng. Do đó vấn đề
nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng là rất cần thiết, chất lượng tín dụng ngân
hàng được hiểu như sau:
" Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của
khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an
toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho Ngân hàng phù hợp và phục vụ sự
phát triển kinh tế xã hội "
Nguyễn Mạnh Thắng 11 Lớp TCDN-K21

1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
Đứng trên phương diện khách hàng:
Chúng ta hiểu: chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất
yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền ) trong quan hệ tín dụng.
Đối với khách hàng khi gửi tiền hay vay tiền của Ngân hàng thì luôn yêu cầu số tiền
gửi của mình phải được đảm bảo an toàn hay khi vay tiền của Ngân hàng không mất
nhiều thời gian và thủ tục rườm rà. Với lãi suất hợp lý sẽ giúp cho các Doanh nghiệp
có khả năng trả nợ đúng hạn và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
Do đó việc ngân hàng phải luôn nâng cao chất lượng tín dụng là rất cần thiết.
Chất lượng tín dụng ngân hàng tốt thì giao dịch giữa Ngân hàng và khách hàng diễn
ra nhanh, hiệu quả hơn, giảm được các chi phí giao dịch cho cả Ngân hàng và khách
hàng.
Đứng về phương diện Ngân hàng:
Việt Nam trong điều kiện hiện nay với sự bung ra của cơ chế mới ngoài các
Ngân hàng quốc doanh đã xuất hiện hàng loạt các loại hình Ngân hàng khác nhau

Tốc độ tăng doanh số thu nợ cao chứng tỏ công tác thu nợ của Ngân hàng tiến hành
tốt và ngược lại.
Dư nợ cho vay kỳ này
- Mức độ tăng dư nợ = ----------------------------
Dư nợ cho vay kỳ trước
Chỉ tiêu này cho biết tổng số cho vay của Ngân hàng kỳ này so với kỳ trước
tăng hay giảm. Chỉ tiêu này cao cho thấy Ngân hàng đã ngày càng tạo được uy tín đối
với khách hàng, cung cấp nhiều hơn các dịch vụ đa dạng và phong phú, thu hút được
nhiều khách hàng.
1.2.3.2. Hiệu suất sử dụng vốn vay
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
Nguyễn Mạnh Thắng 13 Lớp TCDN-K21

Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của Ngân hàng
với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy
động. Vậy tỷ lệ này lớn là tốt hay nhỏ là tốt? Chúng ta chưa thể khẳng định được
bởi:Nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì Ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn có chi
phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì Ngân hàng sẽ rơi vào tình
trạng thừa vốn.
1.2.3.3. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng của những khoản vay. Khi tỉ lệ này vượt quá một
giới hạn cho phép thì nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động tín dụng( Mức giới hạn
của mỗi nước là khác nhau, ở Việt Nam hiện nay chấp nhận tỷ lệ này là 5%).
1.2.3.4. Vòng quay vốn tín dụng

quản lý và đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng một cách có hiệu
quả đòi hỏi chúng ta phải có một sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố tác động đến nó. Có
rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng nhưng chúng ta có
thể phân thành các nhóm nhân tố như:
1.2.4.1. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Ở đây chúng ta xét đến cả môi trường kinh tế trong nước và quốc tế:
Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng phát
triển, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp được tiến hành
một cách bình thường, không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, khủng hoảng tài chính dẫn
đến khả năng cho vay và khả năng trả nợ vay không có biến động lớn. Tuy nhiên để
xã hội phát triển đi lên đòi hỏi nền kinh tế phải có sự tăng trưởng mà tăng trưởng thì
Nguyễn Mạnh Thắng 15 Lớp TCDN-K21

dẫn đến lạm phát. Nếu chúng ta không quản lý tốt để lạm phát ở con số cao thì các
Ngân hàng sẽ là người chịu thiệt thòi nhất do đồng tiền mất giá và như vậy chất lượng
tín dụng sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Ngoài ra do chính sách vĩ mô của nhà nước ưu
tiên hay hạn chế phát triển một số ngành nghề kinh tế đảm bảo cho sự ổn định phát
triển chung cho nền kinh tế cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng
ngân hàng.
Chu kỳ phát triển kinh tế cũng có tác động không nhỏ tới chất lượng tín dụng.
Trong thời kỳ sản xuất kinh doanh đình trệ, nhu cầu vốn tín dụng giảm gây nên tình
trạng ứ đọng vốn và các khoản tín dụng đã được thực hiện cũng khó hoàn trả. Ngược
lại trong thời kỳ hưng thịnh của nền kinh tế, các Doanh nghiệp đua nhau mở rộng sản
xuất kinh doanh dẫn đến nhu cầu vay vốn ngày càng lớn.
1.2.4.2. Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng cũng như hoạt động của nền kinh tế
nói chung muốn hoạt động có hiệu quả thì cần phải có một hệ thống pháp luật đồng
bộ, thống nhất, đầy đủ đi kèm hỗ trợ. Pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể
thiếu trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không có pháp luật hoặc
một hệ thống pháp luật không đầy đủ, không phù hợp với những yêu cầu phát triển

dụng các phương tiện làm việc hiện đại, phù hợp với sự phát triển nghiệp vụ không
ngừng. Do vậy việc tuyển chọn nhân sự cần phải được tiến hành kỹ lưỡng, cán bộ tín
dụng phải là người có trách nhiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp tốt, phải có chuyên
môn giỏi thì mới có thể ngăn ngừa những sai phạm khi thực hiện chu kỳ khép kín của
một khoản tín dụng, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng mình trên thị
trường và đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu đa dạng của một xã hội ngày càng phát
triển.
- Quy trình tín dụng:
Đây là những giai đoạn, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định
trong việc cho vay, thu nợ bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách hàng cho đến khi
thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc
Nguyễn Mạnh Thắng 17 Lớp TCDN-K21

lập ra một quy trình tín dụng có đảm bảo tính khoa học không và việc thực hiện các
giai đoạn trong quy trình tín dụng cũng như sự phối hợp nhịp nhàng giữa các giai
đoạn như thế nào?
- Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng có tác động trực tiếp đến quyết định cho vay, giúp cho
các cán bộ tín dụng có câu trả lời đúng: Cho vay hay không cho vay? Xét trên tầm vĩ
mô thông tin tín dụng là cơ sở đánh giá chất lượng tín dụng và đưa ra các dự báo phát
triển kinh tế. Thông tin càng đầy đủ, chính xác, kịp thời thì khả năng ngăn ngừa rủi ro
càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng:
Trang thiết bị góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân
hàng. Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức quản lý ngân hàng, kiểm tra quá
trình sử dụng vốn vay và thực hiện nghiệp vụ giao dịch với khách hàng. Đặc biệt với
sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện nay, các trang thiết bị tin học đã
giúp cho Ngân hàng cập nhật được thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác. Trên
cơ sở đó đưa ra quyết định tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ trong kinh doanh,
giúp cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện, nhanh chóng và

sang nền kinh tế thị trường với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu
được đặt tại số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Trải qua 17 năm hình thành và phát triển ngân hàng đã trải qua các mốc lịch sử
• Giai đoạn 1994-2001: Mở rộng chi nhánh tăng vốn điều lệ:
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá trình phát triển
nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng Phòng Giao dịch Nguyễn Chí
Thanh tại Hà Nội.
- Thành lập Phòng Giao dịch Thắng Lợi trực thuộc Techcombank Hồ Chí Minh.
- Trụ sở chính được chuyển sang Toà nhà Techcombank, 15 Đào Duy Từ, Hà Nội.
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng tại Đà Nẵng.
- Khai trương Phòng giao dịch số 3 tại phố Khâm Thiên, Hà Nội.
- Thành lập Phòng Giao dịch Thái Hà tại Hà Nội.
• 2001- Nay: đánh dấu bước chuyển mình của Techcombbank với việc ứng dụng
cộng nghệ thông tin vào dịch vụ ngân hàng kết hợp việc thêm các chi nhánh
cùng các sản phẩm
- Năm 2001 ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phần mềm hệ thống ngân hàng hàng
đầu trên thế giới Temenos Holding NV, về việc triển khai hệ thống phần mềm Ngân
hàng GLOBUS cho toàn hệ thống Techcombank nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng.
Nguyễn Mạnh Thắng 20 Lớp TCDN-K21

- 2002 Thành lập Chi nhánh Chương Dương và Chi nhánh Hoàn Kiếm tại Hà Nôi,
Hải Phòng, Đà Nẵng, Chi nhánh Tân Bình tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngày 09/06/2004: Khai trương biểu tượng mới của Ngân hàng.
- Ngày 13/12/2004 Ký hợp đồng mua phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ với
Compass Plus.
2005
- Thành lập các chi nhánh cấp 1 tại: Lào Cai, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, T.P
Nha Trang (tỉnh Khánh Hoà), Vũng Tàu, đưa vào hoạt động các phòng giao dịch:

Tenemos T24 R5.
2.1.2. Tổ chức bộ máy
Techcombank có mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch tại hơn 400 điểm và
có mặt tại hơn 40 tỉnh thành trong cả. Để đáp ứng với nhu cầu phát triển mạnh mẽ,
Techcombank đã tổ chức lại cơ cấu của mình. Mô hình mới gồm các điểm chính như
sau:
Nguyễn Mạnh Thắng 22 Lớp TCDN-K21

Bảng 2: Sơ đồ tổ chức Techcombank
2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ
Những nét nổi bật trong cơ cấu tổ chức của Techcombank:
Nguyễn Mạnh Thắng 23 Lớp TCDN-K21

• Bộ phận kinh doanh
Đảm nhiệm các nhiệm vụ kinh doanh chính của ngân hàng bao gồm:
NH Giao dịch (Transaction Banking) gồm 3 mảng chính:
Mảng bán và triển khai: gồm 2 bộ phận là bán miền bắc-miền trung, bộ phận
bán miền nam.
Mảng phát triển sản phẩm: có nhiệm vụ tập hợp, cải tiến, chuẩn hóa các sản
phẩm hiện có, đồng thời phát triển các sản phẩm dịch vụ mới dựa trên chuỗi các sản
phẩm đang được triển khai tại các ngân hàng trên thế giới.
Mảng hỗ trợ bao gồm hỗ trợ nội bộ, hỗ trợ khách hàng, quản lý thông tin.
NH SME khối khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ trách mảng khách
hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc thành lập khối SME cho thấy sự tập
trung cao của Techcombank vào phân khúc thị trường đang phát triển năng động nhất
Việt Nam trong các năm gần đây.
NH Doanh nghiệp: Khối khách hàng là các doanh nghiệp lớnvà các định chế
tài chính lớn với tiêu chí: Doanh thu tối thiểu từ 50 Tr USD/năm và vốn chủ sở hữu
tối thiểu 15 tr USD. Khối này bao gồm 6 trung tâm là: Quản lý thông tin và sản phẩm,
Quản lý tín dụng, Tài trợ dự án và bất động sản, Định chế tài chính, Khách hàng khu

28.37%
IV Chức khoán
kinh doanh
0.00% 150.308
0.25%
425.261
0.46%
V Các công cụ tài
chính khác
0.00% 29.907
0.05%
46.512
0.05%
VI Cho vay khách
hàng
19,841.131 50.18% 26,018.985
44.03%
41,580.370
44.91%
VII Chức khoán
đầu tư
6.842.172 17.30% 10,347.261
17.51%
13,608.323
14.70%
VIII Góp vồn, đầu
tư dài hạn
36.930 0.09% 66.425
0.11%
65.668


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status