Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đất nước ta đang trên đà hội nhập và phát triển công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đang sống trong một thời đại tiên tiến,
đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Hòa nhập chung cùng với
sự phát triển chung của thế giới. Việt Nam đã thu hái được những thành tự
đáng kể đến trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Phát triển cộng đồng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội, phát triển cộng đồng nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho người dân, xóa
bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội.
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng là một trong những vấn đề quan trọng và
cần được ưu tiên hàng đầu, bởi vì một cộng đồng muốn văn minh, hạnh
phúc, bình đẳng thì trước hết đó phải là một cộng đồng khỏe mạnh. Đặc biệt
là đối với tình hình nước ta hiện nay, một đất nước bước vào con đường hội
nhập, cơ hội phát triển rất dồi dào nhưng cũng không ít những thách thức.
Nhận thức đúng đắn vấn đề phát triển cộng đồng nói chung và chăm sóc
sức khỏe sinh sản nói riêng, Đảng và Nhà nước ta trong những năm trở lại
đây đã đầu từ về vốn, kỹ thuật, nguồn nhân lực nhằm kiện toàn mạng lưới
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Trong đó công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu
và khám chữa bệnh đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhưng bên cạnh
đó công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản và khám chữa bệnh ở nước ta hiện
nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc, khó khăn, cơ chế quản lý rắc rối,
sự thiếu thốn cơ sở vật chất kỹ thuật cộng với sự thiếu trách nhiệm của người
dân đã làm nảy sinh rất nhiều hậu quả đáng tiếc.
1
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
1
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Nghiên cứu ,tìm hiểu thực trạng trên có ý nghĩa rất quang trọng. Tìm
thực tiễn để nghiên cứu rõ hơn tình hình chăm sóc sức khỏe cộng đồng-
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Là cơ hội tốt để có thể áp dụng những kiến thức
được học, những kinh nghiệm thầy cô truyền dạy cũng như những bài học
rút ra từ chuyến thực tế vào thực tiễn được tốt hơn. Đó cũng chính là những
hành trang quý báu giúp ích cho quá trình công tác sau này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Từng bước khắc phục những hạn chế của công tác chăm sóc sức khỏe
cho cộng đồng, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản
ngày một tốt hơn.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Tăng cường các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có hiệu quả.
- Tìm hiểu mô tả tình hình, thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người dân
ở cơ sở thực tế.
- Tìm hiểu nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng tới việc chăm sóc, tư vấn,
giáo dục vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Tìm hiểu thái độ, nhu cầu của người dân về giáo dục, tư vấn chăm sóc
sức khỏe sinh sản.
- Nâng cao ý thức của người dân trong việc thực hiên các chương trình,
dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Thực hiện tốt các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người
dân đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
4. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Thái độ, nhận thức của người dân về vấn đề này.
3
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
3
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Thừa Thiên Huế tôi đã tiến hành quan sát điều kiện kinh tế- xã hội, điều kiện
sinh hoạt, tiếp cận các dịch vụ của người dân trên địa bàn xã.
Việc quan sát này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá được thực
trạng, nguyên nhân cũng như đưa ra những giải pháp cho việc chăm sóc sức
khỏe sinh sản của cộng đồng được tốt hơn.
5.2.2. Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập số liệu thứ cấp:
Lựa chọn, phân loại thu thập các số liệu thông tin cơ bản về địa
phương từ các công trình nghiên cứu, các dự án đã triển khai, các văn bản
chính thức liên quan. Báo cáo tình hình chăm sóc sức khỏe hàng năm về
thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp trong công tác chăm sóc sức
khỏe cho cộng đồng.
- Thu thập số liệu sơ cấp:
Tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, số liệu thực tế và cá
nhân, hộ gia đình, chính quyền địa phương liên quan đến vấn đề chăm sóc
sức khỏe sinh sản. Thông qua các cuộc điều tra từ địa phương, phỏng vấn
sâu, phỏng vấn có bảng hỏi.
5.2.3. Phương pháp phân tích tài liệu
- Đọc và phân tích tài liệu liên quan đến chiến lược chăm sóc sức khỏe
sinh sản Việt Nam giai đoạn năm 2008 đến năm 2014.
- Đọc và phân tích một số tài liệu về chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Đọc và phân tích “ Báo cáo đánh giá hoạt động y tế năm 2013 và kế
hoạch phát triển y tế năm 2014”.
- Dựa trên những số liệu thu thập được từ địa phương và kết quả của
việc điều tra thực tế.
5.2.4. Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu
Đây là phương pháp đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
cũng như rủi ro có thể xảy ra trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản
cho người dân.
5
Cần tăng cường đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả hoạt động của công tác
chăm sóc sức khỏe ban đầu trên địa bàn toàn xã, phần nào hạn chế tỷ lệ nạo
phá thai, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, giảm tỷ lệ gia tăng dân số, tăng
tỷ lệ người dân sử dụng các biện pháp tránh thai, kế hoạch hóa gia đình,
6
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
6
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân
trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản.
8. Bố cục nghiên cứu
Phần 1: phần mở đầu
Phần 2: phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Chăm sóc sức khỏe sinh sản của đồng bào Tà ôi
Chương 3: Công tác xã hội với việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của
đồng bào Tà ôi
Phần 3: Phần kết luận, khuyến nghị và lượng giá quá trình thực tế
7
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
7
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho
nhân dân đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và coi đó là nhiệm vụ quan
trọng trong việc phát triển cộng đồng. Đặc biệt là trong những năm gần đây
công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản luôn được chú trọng và coi đó là nhiệm
vụ và chiến lược trong việc nâng cao chất lượng đời sống, sức khỏe của các
dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh, từng
bước phát triển đi lên theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng sau thời kỳ đất
nước giải phóng cho đến nay. Mảnh đất A Đớt là nơi cư trú có 4 anh em dân
tộc sinh sống đó là: Tà ôi, Katu, Mường, Kinh. Cán bộ và nhân dân A Đớt
luôn có truyền thống yêu nước nồng nàn, có ý chí đấu tranh kiên cường bất
khuất, cần cù sáng tạo trong lao động sáng tạo trong lao động, sản xuất. Sống
đoàn kết sống chan hòa như anh em trong một nhà. Hòa chung với các anh
em dân tộc trên toàn huyện vượt qua mọi khó khăn khắc nghiệt… Trong quá
trình đi lên với từng thời kỳ cách mạng, thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và sau hòa bình lập lại
năm 1975 và trong thời kỳ đổi mới đi lên của đất nước mà Đảng và Bác Hồ
kính yêu đã lựa chọn. A Đớt là mảnh đất sản sinh ra nhiều những người con
ưu tú có chí khí cách mạng sẵn sàng cống hiến hy sinh vì sự nghiệp cách
mạng giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương, đất nước trong các cuộc
chiến tranh xâm lược của kẻ thù và được Đảng, Nhà nước ghi công và phong
tặng nhiều danh hiệu cao quý đó là: Anh hùng liệt sỹ 11 đồng chí, gia đình
có công với cách mạng… Tháng 6 năm 1999 cán bộ và nhân dân xã được
Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân, đó là phần thưởng cao quý và là một vinh dự lớn của toàn Đảng
toàn dân trong xã nhà. Tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam xã A Đớt được
thành lập ngày 03-02-1961. Chi bộ gồm có 3 đồng chí Đảng viên, do đồng
9
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
9
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
chí: Nghi( cán bộ người Kinh được cấp trên điều về hoạt động tại xã) làm Bí
thư chi bộ. Mặc dù số lượng Đảng viên còn ít( chỉ có 3 đồng chí) nhưng chí
khí cách mạng luôn dâng trào trong trái tim của người chiến sĩ cộng sản và
từ đó tổ chức Đảng ngày càng được phát triển vững mạnh và đội ngủ Đảng
viên ngày một lớn mạnh, kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng ở xã đi lên
Địa hình huyện A Lưới nói chung và xã A Đớt nói riêng cao về phía
Tây- Tây nam, thấp dần về phía Đông nam. Nơi đây có một nền địa chất khá
phức tạp với 2 nhóm đá chính là: nhóm đá trầm tích hỗn hợp, nhóm đá biến
chất. Địa hình xã A Đớt nằm trên một vùng thung lũng dãi đất tương đối
bằng phẳng có dồi núi xung quanh bao bọc với độ cao trung bình so với mặt
nước biển là 700m. Trong vùng có hai địa hình chủ yếu là: Phức hệ núi tập
trung ở địa phận các thôn: A tin, La tưng, Chỉ hòa; phức hệ đồi ở địa phạn
thôn Ba Rít, A Đớt, Ka vin, A ro, Chi lanh. Địa bàn xã A Đớt là nơi thượng
nguồn có suối Ba lạch, Tam lanh, A sáp đổ về sông A sáp chảy về địa phận
xã Hương Lâm. Phần núi đồi tập trung ở phía Tây cao dần lên, ở đây có các
sườn đồi thoai thoải nghiêng ở mức 30
o
nên lượng đấttừ các tỉnh đồi núi khi
mưa xuống trôi chảy đọng lại ở ven chân đồi nên thích hợp cho việc trồng
các loại cây công nghiệp như: Quế, keo lai, keo lai tượng, tràm, cao su Nơi
đây còn là khu vực có trữ lýợng khoáng sản nhý vàng.
Xã A Đớt có nhiều thuận lợi về mặt địa chất, địa hình với sự hình thành
của các lớp cảnh quan: Phụ lớp nui thấp, phụ lớp đồi cao và phụ lớp thung
lũng đã thật sự là động lực thúc đẩy địa phương phát triển không những về
mặt kinh tế mà còn thuận lợi về, mặt giao thông.
1.3.3. Đặc điểm khí hậu thủy văn
A Đớt cũng như các xã trong huyện A Lưới nằm trong khu vực chuyển
tiếp của khí hậu Đông và Tây trường sơn nên mùa mưa ở đây thường đến
sớm và kết thúc muộn. Lượng mua trung bình năm ở A Lưới là 3.242mm.
Nhiệt độ trung bình năm là 21.5 độC. Độ ẩm là 8,79% và chỉ số ẩm ướt trung
bình là 3.65%. Với ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu ở A Đớt mang tính
chất nhiệt đới ẩm trên núi, có mùa hè mát và mùa đông lạnh. Do lượng mua
lớn và đọ che phủ của thảm thực vật khá tốt nên tạo nhiều sông suối, nước
11
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
12
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
12
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
đồi núi phía Tây sẽ cho người dân một nguồn lợi lớn từ các loại cây công
nghiệp như: keo, tràm, cao su
1.4. Đặc điểm kinh tế xã hội
1.4.1. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chủ yếu của xã là nông – lâm nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ, quá trình thực hiện đã có bước phát triển các chỉ tiêu kế
hoạch cơ bản đạt, có một số chỉ tiêu vượt kế hoạch đề ra, bộ mặt nông thôn
có nhiều khởi sắc, kết cấu hạ tầng cơ sở từng bước phát triển, mức độ tăng
trưởng kinh tế khá ổn định.
- Nông nghiệp
Có nhiều tiến bộ, nhất là chuyển đổi cây trồng, vật nuôi đúng hướng đi
của xã nhà và đã nâng cao chất lượng giống, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong sản xuất và chăn nuôi, nên năng xuất một số cây, con năm sau
cao hơn năm trước, đặc biệt là năng xuất lúa nước từ 46 tạ/ha năm 2009,
tăng lên 53 tạ/ha năm 2014, có nơi đạt 55 tạ/ha.
Tổng diện tích gieo trồng 307.97 ha, trong đó diện tích lúa nước x2 vụ
252,2 ha, lúa cạn 17,5 ha, diện tích ngô 11 ha, diện tích sắn 17 ha, diện tích
chuối 27,5 sào diện tích rau màu các loại 10 ha, nét mới là phục hóa một số
diện tích đất màu chuyển thành đất ruộng nước. Bên cạnh đó được sự hỗ trợ
của Nhà nước và nhân dân tự chủ động đưa giống cấp I vào sản xuất, nên
năng xuất bình quân đạt 53 tạ/ha, sản lượng lương thực có hạt đạt 638,72
tấn/năm, tăng 125,37 tấn so với cùng kỳ năm 2009, bình quân lương thực
đầu người đạt 285,9 kg/người/năm, tăng 24,3 kg/người/năm so với cùng kỳ
năm 2009.
13
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
+ Bên cạnh đó được tuyên truyền giáo dục cho toàn dân về ý thức bảo
vệ rừng tự nhiên và rừng tái sinh, cơ bản hàng năm dân trong xã đã có ý thức
bảo vệ rừng khá tốt, nên đã giảm dần việc khai thác rừng bừa bãi, trái phép
và giảm hẳn nạn phát rừng làm nương rẫy.
- Chương trình xây dựng nông thôn mới
15
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
15
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Vận động tuyên truyền nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới theo
hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011-2015 đạt chỉ tiêu kế
hoạch. Đến thời điểm nay xã đã đạt 10/19 tiêu chi xây dựng nông thôn mới.
- Tiểu thủ công nghiệp
Hình 1.3. Người dân Tà ôi đang tiến hành nghề dệt truyền thống
Duy trì tốt ngành nghề truyền thống như: Hợp tác xã Dệt Zèng 64
người, nề 15 người, mộc 17 người, nghề khác như đàn lạt, chổi đót v.v
Hoạt động kinh doanh dịch vụ, buôn bán nhỏ lẽ 25 người. Các ngành nghề
trên hiện nay đang được củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng của nhân dân.
- Xây dựng cơ bản
Trong thời gian qua, trên địa bàn xã việc xây dựng kết cấu hạ tầng, kinh
tế-xã hội trên địa bàn xã được quan tâm, tích cực xoay chạy tranh thủ các dự
án đầu tư phát triển xây dựng, nên đã xây dựng được một số công trình phúc
lợi trên địa bàn xã, được đầu tư các công trình đường giao thông nông thôn
16
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
16
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
thuộc chương trình gắn với xây dựng nông thôn mới, xây dựng công trình
sân, hàng rào và từ vốn huy động quyền góp của nhân dân, các nhà máy, các
công trình Điện.
Theo báo cáo của 7 huyện, thị xã (trừ huyện Phong Điền), các huyện,
thị xã đã đầu tư thực hiện các hạng mục thuộc Chương trình xây dựng nông
thôn mới là 98,96 tỷ đồng; vốn do dân đóng góp bằng tiền và hoa màu, tài
sản trên 125,9 tỷ đồng, trên 12.500 ngày công lao động và 92.000 m2 đất.
Riêng huyện Nam Đông huy động được vốn của tổ chức nước ngoài 2,9 tỷ
đồng và của 01 doanh nghiệp 1 tỷ đồng để xây dựng hạ tầng cho Công ty chế
biến Cao su đóng trên địa bàn huyện.
Sau ba năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, bằng
nhiều nguồn vốn của nhiều chương trình, lồng ghép nhiều dự án đầu tư trong
và ngoài nước nên nhiều công trình thiết yếu như trường học, cơ sở văn hoá,
các công trình trụ sở UBND các xã đã được chỉnh trang, nâng cấp, cải tạo
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, việc huy động
18
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
18
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
nguồn vốn từ các doanh nghiệp, các huyện, thị xã và các xã gặp rất nhiều
khó khăn; các doanh nghiệp chưa có nhu cầu đầu tư.
Công tác huy động nguồn lực do dân đóng góp đạt được hiệu quả cao, ở
nhiều địa phương nhân dân đã cống hiến hàng ngàn m2 đất, đóng góp hàng
tỷ đồng để xây dựng đường thôn, đường ngõ xóm, nhà văn hoá thôn, chỉnh
trang tường rào, cổng ngõ, nhà cửa…khang trang sạch đẹp. Tuy nhiên, việc
huy động nguồn lực của nhân dân đóng góp còn hạn chế do vượt quá khả
năng của người dân, đặc biệt ở các xã còn nhiều khó khăn và có tỷ lệ hộ
nghèo cao.
1.4.2. Đặc điểm dân cư
Thành phần dân cư tương đối ổn định, không có sự xáo trộn giữa những
đợt di dân, tái định cư hoạc tăng dân số theo kiểu tự nhiên và cơ học, trong
một thời gian dài trải qua quá trình chung sống, vật lộn với thiên nhiên và
2 A Ro 271 128 143 59 hộ/271 khẩu K K 1 hộ/
khẩu
3 Chi Lanh 209 102 107 45 hộ/ 209
khẩu
K K 3 khẩu
4 Ka Vin 220 107 113 47 hộ/ 220
khẩu
K K K
5 Ba Rít 176 92 84 41 hộ/ 176
khẩu
K K K
6 Chi Hòa 331 160 171 75 hộ/ 331
khẩu
K K K
7 A Đớt 320 171 149 74 hộ/ 320
khẩu
K K 5
hộ/28
8 La Tưng 221 119 102 58 hộ/ 221
khẩu
K K K
Tổng cộng
8 thôn
2.222 1.126 1.196
506 hộ/ 2.222
khẩu
K K
6 hộ/
21
khẩu
vệ quê hương tổ quốc.
Nhiều người hiện nay được Đảng và nhà nước ghi nhận công lao cống
hiến của họ và vinh danh họ là thương binh,bệnh binh,thân nhân họ,gia đình
có công với cách mạng .
Thành phần tầng lớp dưới gồm quần chúng nhân dân lao động nghèo là
lực lượng nòng cốt của nhân dân địa phương, là những người có lập trường
chính trị chính thống, kinh tế nghèo khổ sống độc thân. Nhiều người khi có
cách mạng đến thì họ tiếp thu nhanh(cũng cò không ít người tiếp thu
chậm)nhưng khi đã giác ngộ cách mạng thì họ hăng hái đi theo và trung
thành với cách mạng đến cùng.
Cùng sinh sống ở vùng núi dọc trường Sơn. Người Tà oi, ka tu chủ
yếu sống bằngkinh tế nương rẫy, canh tác trên đất dốc, trỉa lúa, trỉa ngô
21
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
21
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
theo mùa, săn bắt thú rừng, đánh bắt cá ở các sông suối trên địa bàn các
vùng lân cận.
Sau khi về định cư tại quê hương mới ổn đinh cuộc sống theo năm
tháng nhờ các chính sách của đảng và nhà nước về khuyến nông, khuyến lâm
về nhân dân địa bàn các dân tộc sống trên địa bàn xã A Đớt đã từng bước
chuyển dịch cơ cấu sản xuất.
Ngày nay hình thức canh tác truyền thống hầu như bỏ hẳn mà thay vào
đó là trồng các giống hoa màu mới phối hợp giữa các hoa màu như sắn,ngô,
khoai, đậu, dưa cà,kiệu…trên các rẫy củ kinh tế vườn nhà theo mô hình
VAC (vườn ao chuồng) và VACR ( vườn ao chuồng rừng)
Hình 1.5. Mô hình kinh tế Vườn, Ao, Chuồng, Rừng của một hộ gia đình
thôn Ba rít, xã A Đớt
Toàn xã có 28 cụm dân cư, 554 hộ và 2.283 nhân khẩu; Trong đó: Nam
1.151, Nữ 1.132. Có 5 dân tộc chung sống gồm: Dân tộc Tà Ôi: 1.841 người,
+ Trung tâm học tập cộng đồng: Đã mở lớp tuyên truyền pháp luật và
kỹ thuật trồng trọt và chãn nuôi với hõn lýõòt ngýời tham gia tập huấn.
23
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
23
Niên luận năm 3 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Đã kết thúc Chương trình xóa mù chữ mở lớp 1,2,3 tại thôn Chi Hòa gắn
với tổng kết năm học đạt kết quả cao mỗi học viên đều biết viết, biết đọc.
1.3.4.2. Y tế, dân số, gia đình và trẻ em
* Y tế: Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tiếp tục quan tâm.
Các chương trình y tế, phòng chống bệnh xã hội nhìn chung triển khai đúng
kế hoạch và tiến độ đề ra. Công tác khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ
em dưới 6 tuổi tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác phòng chống dịch được
chú trọng. Công tác tiêm chủng được duy trì thường xuyên.
* Dân số, gia đình và trẻ em: Toàn xã có 8 thôn, 27 cụm dân cư; với 530
hộ và 2.278 nhân khẩu/1.120 Nữ; Phụ nữ từ 15-49 tuổi 640 người. Trong đó:
Phụ nữ từ 15-49 tuổi đã có chồng là: 425 người; Tổng số trẻ sinh ra là 53 em.
Trong đó: Tỷ suất sinh thô:4,20%, không có trường hợp sinh con thứ 3; Tổng
số chết thô: 9 người, chiếm 4,88%; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,73%.
Thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia về dân số như sau: 8/8
thôn đã đăng ký mô hình cụm dân cư không sinh con thứ 3 trở lên; Tổ chức
sinh hoạt CLB tiền hôn nhân với hơn 450 lượt người tham gia; Tổ chức buổi
nói chuyển nhỏ tại cộng đồng thuộc đề án sàng lọc sơ sinh cho các bà mẹ
đang mang thai với 200 lượt người tham gia và tổ chức 45 buổi triển khai
các văn bản pháp luật đến công tác DS/KHHGĐ, lồng ghép đưa nội dung
chính sách DS/KHHGĐ vào hương ước làng văn hóa.
1.3.4.4. Văn hóa, thông tin, thể dục- thể thao
- Các hoạt động văn hoá thông tin đã tập trung tuyên truyền thực hiện
các nhiệm vụ chính trị, nhất là các ngày lễ lớn của quê hương đất nước. Treo
cờ, băng rôn toàn xã được đồng bộ.
trực 24/24. Huy động 100% lực lượng tại chỗ của xã trực 24/24 để kịp thời
ứng phó với mọi tình huống xẩy ra.
1.3.4.7. Công tác việc làm và an sinh xã hội
Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về
việc dạy nghề tạo công ăn việc làm xóa đói giảm nghèo, quản lý chỉ đạo chặt
25
SVTH: Nguyễn Thị Giang - CTXH K35
25