Thực Trạng Áp Dụng Công Cụ Qản Lý Môi Trường Vào Công Tác Quản Lý Môi Trường Tại Làng Nghề Làm Bún Vân Cù (Xã Hương Toàn, Huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Huế) - Pdf 24

Chuyên Đề: Thực Trạng Áp Dụng Công Cụ Qản Lý Môi
Trường Vào Công Tác Quản Lý Môi Trường Tại Làng Nghề
Làm Bún Vân Cù (Xã Hương Toàn, Huyện Hương Trà, Tỉnh
Thừa Thiên Huế)
Phần 1: Đặt Vấn Đề
Phần 2: Nội Dung
2.1. Cở sở lý luận
2.1.1. Công tác quản lý môi trường
2.1.2. Công cụ quản lý môi trường
2.2 tổng quan các công cụ qản lý môi trường
2.3.đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
2.3.1.điều kiện tự nhiên
2.3.2.điều kiện kinh tế xã hội
2.4Thực trạng áp dụng công cụ qản lý môi trường tại làng nghề làm bún
Vân Cù.
2.4.1 công cụ mệnh lệnh-điều khiển.
 các công cụ đang được áp dụng để quản lý môi trường tại
làng nghề
 những thuận lợi khó khăn trong việc áp dụng các công cụ đó
 phân tích bằng mô hình phân tích SWOT
 giải pháp
2.4.2 công cụ kinh tế
-thực trạng áp dụng
-những thuận lợi khó khăn
-dùng mô hình phân tích SWOT
- nhận xét
-giải pháp
2.4.3 công cụ tuyên truyền, giáo dục.
-thực trạng áp dụng
-những thuận lợi khó khăn
-dùng mô hình phân tích SWOT

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng áp dụng các công
cụ quản lý môi trường tại làng nghề làm bún Vân Cù. Trên cơ sở đó để rút ra
những thuận lợi, khó khăn đối với công tác quản lý môi trường tại làng
nghề, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị để hoạt động quản lý môi
trường làng nghề đạt hiệu quả hơn.
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu ở đây là các vấn đề liên quan đến hoạt động quản
lý môi trường làng nghề.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các vấn
đề liên quan đến quản lý môi trường làng nghề làm bún Vân Cù
IV. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập tổng hợp các thông tin cần thiết có liên quan
đến quản lý môi trường làng nghề. Các thông tin có thể được thu thập từ
internet, báo chí,thư viện(số liệu thống kê, văn bản pháp quy…) kết hợp với
việc điều tra thực địa, phỏng vấn các hộ gia đình ở địa phương để thu thập
những thông tin chi tiết khác.
* Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp:
Trên cơ sở các kết quả có được do điều tra, thu thập tài liệu liên quan từ
các nguồn khác nhau, phân tích đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập
được để đưa ra các giải pháp và kết luận.
* Phương pháp đánh giá bằng mô hình SWOT: Dựa trên những thông tin có
sẵn và thu thập được để có những đánh giá thích hợp.
Phần 2: Nội Dung
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Công tác quản lý môi trường
Công tác quản lý môi trường được thực hiện bằng việc ban hành và tổ
chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành
hệ thống tiêu chuẩn môi trường. Bên cạnh đó còn xây dựng, chỉ đạo thực
hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc
phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.

Đây là công cụ điền hình vĩ mô bao gồm các văn bản về luật quốc tế và luật
quốc gia, các văn bản dưới luật, quy hoạch, kế hoạch và chính sách môi trường
quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương. Công cụ này còn được gọi là công cụ
chính sách.
Nhận thức được tầm quan trọng của làng nghề,thời gian qua Đảng và Nhà nước đã
tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách liên quan như:
- Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7 2006 của Chính phủ về chính sách phát
triển ngành nghề nông thôn, nhằm phát triển KT-XH ở nông thôn, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất
lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu-
Nghị định có quy định về mặt bằng sản xuất (Điều 7) và Điều 8 quy định “địa
phương hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi
trường cho các làng nghề và cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”.
Ngoài ra, tại Nghị định số 73/1995/NĐ-CP và sau đó là Nghị định số 01/2008/NĐ-
CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ NN&PTNT, Chính
phủ đã giao Bộ NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (QLNN) lĩnh
vực ngành nghề nông thôn và trên cơ sở đó, Bộ NN&PTNT đã ban hành một số
văn bản như thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện
một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP; Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN
ngày 18/04/2007 về việc đẩy mạnh quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn và
phòng chống ô nhiễm MT làng nghề.
đ ể tiến hành quản lý có hiệu quả các công cụ pháp luật trong quản lý làng
nghề. Việt Nam đã ban hành các chính sách phát triển ngành nghề như:
Chính sách ngành nghề nông thôn; quy hoạch phát triển ngành nghề nông
thôn; công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.
1
Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN về đẩy mạnh thực hiện
quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng
chống ô nhiễm môi trường làng nghề
18/4/2007

vốn của các Ngân hàng thương mại và Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh. Thời gian
hỗ trợ không quá ba (03) năm kể từ ngày vay vốn.
Điều 5. Hỗ trợ đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề
1. Các tổ chức, cá nhân và làng nghề đầu tư dây chuyền sản xuất mới, ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm,
được hỗ trợ kinh phí theo Quyết định số 538/QĐ-UBND ngày 31 tháng 03 năm 2011 của
Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc Ban hành Chương trình hỗ trợ nghiên cứu ứng
dụng đổi mới công nghệ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ (2011- 2015).
2. Các làng nghề có dự án đầu tư phát triển làng nghề; được Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét
hỗ trợ kinh phí từ nguồn kinh phí khuyến công của tỉnh. Mức hỗ trợ không quá 100 triệu
đồng/dự án (mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất).
Điều 6. Lao động, đào tạo
1. Đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp cho lao động ở các làng nghề thực hiện theo Đề án
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
2. Các tổ chức, cá nhân và làng nghề đầu tư mở rộng, đầu tư ngành nghề mới có sử dụng
lao động phải qua đào tạo nghề, thì người lao động được hỗ đào tạo nghề; chính sách hỗ
trợ theo sự phân cấp của Thủ tướng Chính phủ tại khoản 2, mục VII Quyết định số
1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt
Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
Điều 7. Hỗ trợ quảng cáo, xúc tiến thương mại
1. Các tổ chức, cá nhân và làng nghề được xem xét tham gia hội chợ - triển lãm; được hỗ
trợ 100 % tiền thuê diện tích gian hàng tại hội chợ, triển lãm ở trong nước (không quá 02
gian/cơ sở và 02 lần/năm); từ 20% đến 30% (tuỳ từng thị trường) tiền thuê diện tích gian
hàng tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài, từ nguồn kinh phí xúc tíến thương mại của tỉnh.
2. Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân và làng nghề 100% kinh phí quảng bá sản phẩm trên
Website của tỉnh và của Sở Công thương, từ nguồn kinh phí khuyến công của tỉnh.
3. Các tổ chức, cá nhân và làng nghề được hỗ trợ kinh phí xây dựng, đăng ký thương hiệu
sản phẩm; từ nguồn kinh phí khuyến công của tỉnh, theo Thông tư liên tịch số 125/TTLT-
BTC-BCT ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ Tài chính và Bộ Công Thương về việc Quy
định việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với Chương trình khuyến

 Phí bảo vệ môi trường
• nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối
với nước thải.
• Nghị định số 174/2007/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với
chất thải rắn.
 Cơ chế hỗ trợ tài chính
• Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009 về cơ chế hỗ trợ tài
chính cho các doanh nghiệp.
 Quỹ Môi trường
• Quỹ Môi trường cấp quốc gia (Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ Bảo tồn
Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP, Quỹ Môi trường ngành.
2.2.3. Công cụ giáo dục truyền thông

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, mang tính chất xã hội rộng lớn, đòi hỏi
không ngừng trình độ dân trí.Thông qua giáo dục, ý thức bảo vệ môi trường của cá nhân
và cộng đồng ngày một nâng cao.Để không ngừng nâng cao chất lượng sống toàn diện
của con người, hướng tới một xã hội phát triển bền vững cần phải tiến hành giáo dục,
tuyên truyền sâu rộng khắp nơi, mọi lúc về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường
làng nghề nói riêng.
Chính sách giáo dục môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân cần đưa vào trong
chương trình phổ thông.
Tiến hành tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô
nhiễm làng nghề cho các nhà hoạch định chính sách để từ đó họ đưa ra các chính sách các
kế hoạch phát triển đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.
Huyện tiếp tục tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành,
đặc biệt người dân tại các làng nghề để họ có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường.
Đối với các cơ sở sản xuất cần tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường để họ có
nhận thức trách nhiệm của mình, đặc biệt là quán triệt cho họ nguyên tắc:” người gây ô
nhiễm phải trả tiền” và “người sử dụng phải trả tiền”.

Huế với huyện miền núi A Lưới, Quốc lộ 49B dài 7km nối các xã vùng biển; có các
tuyến đường Tỉnh lộ 8A, 8B, Tỉnh lộ 4, đường kinh tế quốc phòng, có 2 con sông lớn của
Tỉnh chảy qua: sông Bồ dài 25 km, sông Hương dài 20 km, có phá Tam Giang rộng 700
ha.
Toàn huyện có 16 đơn vị hành chính, theo địa hình chia làm 3 vùng:
- Vùng miền núi và gò đồi có 5 xã: Hồng Tiến, Bình Điền, Bình Thành, Hương Bình
và Hương Thọ.
- Vùng đồng bằng và bán sơn địa có 8 xã và thị trấn: Hương Hồ, Hương Chữ, Hương
An, Hương Xuân, Hương Văn, Hương Vân, Hương Toàn, Hương Vinh và Thị trấn Tứ
Hạ.
- Vùng đầm phá và ven biển có 2 xã : Hương Phong và Hải Dương
* Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú,đa dạng:đá vôi,đá Granit đen xám
,mỏ cao lanh, khoáng Titan, cát, sỏi
Thời tiết khí hậu thuận lợi. Đất đai, thổ nhưỡng của huyện rất đa dạng.
b/Điều kiện kinh tế xã hội:
*/Xã hội:
Hương Trà là vùng đất có dấu vết văn hoá Sa Huỳnh, là địa bàn lập phủ Kim Long
(1636-1687); Phú Xuân (1687-1712) và (1739-1802); kinh thành thời Tây Sơn (1786-
1801); kinh đô thời Nguyễn (1802-1945); thị xã, thành phố Huế (từ 1898) nơi tập trung
những đơn vị thuộc quần thể di tích Huế – Di sản văn hoá thế giới.
Dân số năm 2003 là 114.021 người, có trên 50.000 lao động.
Tình hình lao động, việc làm và thu nhập của thanh niên:Đa số thanh niên trên địa bàn
huyện đều có xu hướng vào các tỉnh phía Nam để lập nghiệp; Những thanh niên ở lại địa
phương chủ yếu tham gia vào làm việc tại các công ty, xí nghiệp trên địa bàn hoặc ở nhà
làm đồng áng, sửa chữa xe các loại, hoặc có một nghề truyền thống ổn định. Trung bình
thu nhập của thanh niên trên toàn huyện khoảng 1,2 triệu đến 1,4 triệu đồng/tháng.
*/Kinh tế:
Hương Trà, có vị trí khá thuận lợi trong giao lưu văn hoá và phát triển kinh tế - xã hội,
đồng thời, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh - quốc phòng của khu vực. Tài

bệnh được tăng cường tổ chức thực hiện đạt kết quả. Công tác trồng, chăm sóc, quản lý
và bảo vệ rừng được tăng cường. Gắn phát triển rừng phòng hộ với rừng kinh tế, bảo đảm
môi trường sinh thái theo hướng bền vững.
Đến Hương Trà, du khách còn có thể tham quan bờ biển sạch đẹp, nhiều hồ, khe, suối,
nhiều di tích như: Lăng Gia Long, Minh Mạng, điện Hòn Chén, khu di tích địa đạo Khe
Trái (Hương Vân) nhiều lễ hội dân gian truyền thống có khả năng tạo ra cơ sở cho phát
triển du lịch dịch vụ.
Tóm lại, nhờ những tiềm năng và điều kiện tự nhiên như trên đã giúp cho Hương Trà, có
lợi thế phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất điện năng, chế biến nông lâm
thuỷ sản, cùng với các loại hình dịch vụ như thương mại, dịch vụ, vận tải - kho bãi, xây
dựng, xuất khẩu lao động, bưu chính viễn thông
2/Hương toàn:
a/Đặc điểm tự nhiên:
Xã Hương Toàn nằm phía Đông Nam thuộc huyện Hương Trà cách thị trấn 6 km, là vùng
thấp trủng, thường xuyên ngập úng và hạn đe dạo.
Phía Đông giáp xã Hương Vinh.
Phía Tây giáp xã Hương Xuân.
Phía Nam giáp xã Hương Chữ.
Phía Bắc giáp xã Quảng Phú huyện Quảng Điền.
Tổng diện tích tự nhiên: 1220.00 ha, trong đó đất nông nghiệp: 648.81 ha, đất phi nông
nghiệp: 571.19 ha.
b/Đặc điểm tình hình kinh tế - Văn hoá - Xã hội:
Dân số: 13258, trong đó Nữ: 6615.
Người dân đa số theo Phật giáo chiếm hơn 50% dân số, riêng thôn Dương Sơn 100% tín
đồ theo đạoThiên chúa giáo với 217 hộ gồm 1289 nhân khẩu có nhà thờ và tu viện nữ tu
lâu đời.
Người dân đa số sống về nông nghiệp kết hợp với ngành nghềtruyền thống lâu đời như
nghề nấu rượu gạo nuôi lợn của thôn Dương Sơn, nghềchằm nón lá Hương Cần, nghề
làm bún tươi Vân Cù với 146 hộ cung cấp bún tươi chothành phố Huế và các vùng lân
cận. Làng Nam Thanh sản xuất ngói đã hợp đồng tiêuthụ ngói lợp tại phố cổ Hội An –

- Thông tư 131/TT-BTC ngày 26/12/2006 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn
một số nội dung về ngân sách Nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP. Trong đó có quy định các nội dung được hưởng
hổ trợ bao gồm “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các
ngành nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”.
- Đối với cấp tỉnh, UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số
1698/2006/QĐ-UBND ngày 14/7/2006 về việc ban hành “Quy định tạm thời về
tiêu chuẩn làng nghề tỉnh Thừa Thiên Huế”. Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng chủ
trương đầu tư 5,3 tỷ đồng xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại làng nghề làm
bún Vân Cù, xã Hương Toàn, Huyện Hương Trà kết hợp với việc mỗi hộ gia
đình xây dựng hầm biogas, hồ sinh học và tuyến mương nhỏ dẫn từ các hộ gia
đình đấu nối vào hệ thống mương chung, thực hiện trong thời gian 2 năm, kể từ
tháng 10/2010 nhằm cải thiện môi trường làng nghề, góp phần xử lý triệt để
các cơ sở gây ô nhiễm trên địa bàn (Công văn 4431/UBND-XDCB ngày
08/10/2010 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế).
 những thuận lợi khó khăn trong việc áp dụng cac công cụ đó:
Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhằm vào mục tiêu bảo
vệ môi trường làng nghề nhưng hiệu quả thực thi trên thực tế rất thấp, môi trường
làng nghề ở Vân Cù chưa có dấu hiệu cải thiện trong thời gian qua. Dưới đây là
những khó khăn trong việc áp dụng các chính sách tại làng nghề:
 Đối với cơ quan quản lý
- Thiếu các văn bản dưới Luật quy định cụ thể để hướng dẫn thực hiện các
nội dung về Bảo vệ môi trường làng nghề phù hợp với đặc thù của từng làng nghề
dẫn đến Luật bảo vệ môi trường chưa được áp dụng một cách sâu rộng.
- Các quy định hiện hành áp dụng chung cho các cơ sở gây ô nhiễm rất khó
thực hiện với làng nghề do có sự khác biệt về địa bàn sản xuất, điều kiện kinh tế
xã hội và quan hệ làng xã.
- Các văn bản pháp luật hiện hành chưa quy định chế tài xử phạt cụ thể
đối với việc gây ô nhiểm từ hoạt động sản xuất của làng nghề.
- Đối tượng tiếp cận của các Luật, quy định chỉ hạn chế ở các cơ quan quản

- Hoàn thiện hệ thống chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường làng nghề. Xây dựng hệ thống văn bản riêng cho vấn đề này như các
quy định về vệ sinh môi trường, những quy chuẩn quốc gia về khí thải, nước thải
phù hợp với các cơ sở sản xuất ở các làng nghề và quy định rõ trách nhiệm của địa
phương, các ngành, lĩnh vực hoạt động tại làng nghề.
- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng và hoạch định
chính sách bảo vệ môi trường làng nghề để có những điều chỉnh phù hợp với thực
trạng của địa phương đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về luật môi
trường và tích cực thực hiện các quy định mà họ tham gia xây dựng.
- Nghiên cứu các công nghệ thân thiện với môi trường, công nghệ xử lý chất
thải phù hợp với làng nghề.
- Bổ sung đội ngũ cán bộ chuyên trách và nâng cao năng lực của các cán bộ
cấp xã trong hoạt động quản lý môi trường.
- Thực hiện nghiêm minh các quy định của pháp luật, không để quan hệ cá
nhân ảnh hưởng đến quá trình thực thi pháp luật liên quan tới ô nhiễm môi trường
làng nghề.
- Quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong quản lý
môi trường làng nghề. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý môi
trường các cấp.
- Tăng cường giám sát làng nghề và thực hiện kiểm kê nguồn thải
- Tuyên truyền phổ biến luật bảo vệ môi trường, các quy chuẩn môi trường
nâng cao ý thức cộng đồng từ đó dễ dàng triển khai thi hành pháp luật
2.4.2 Công cụ kinh tế:
 các công cụ kinh tế đang được áp dụng tại làng nghề
*) Phí,lệ phí:
Nghị định 81/2006/ NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
BVMT. Trên thực tế, không có một hộ sản xuất kinh doanh, dịch vụ nào trong làng nghề
mà không gây ô nhiễm MT, tuy mức độ có khác nhau.Như vậy theo đúng quy định này
thì 100% số hộ làng nghề đều thuộc đối tượng bị xử phạt,thậm chí phải đóng cửa ngừng
sản xuất.Trên thực tế, các hộ làm nghề không nộp các khoản phí,lệ phí về BVMT và khai

- Các cơ quan có chức năng quản lý môi
trường địa phương đã có nhận thức rất rõ
ràng về công tác xử lý mt
- Định hướng các hoạt động ưu tiên cho các
làng nghề.
- Các vấn đề còn tồn đọng liên quan đến
việc thực thi các văn bản pháp luật (kinh tế,
quản lý… ), cũng như hiệu lực thi hành
thực tế của các quy định pháp luật.
- Còn nhiều vướng mắc trong xây dựng và
áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng
môi trường, tiêu chuẩn, phát triển bền
vững, xuất phát từ tốc độ phát triển nhanh
của nền kinh tế và cơ cấu ngành nghề sản
xuất.
- Thiếu hụt các công cụ kinh tế, nguồn kinh
phí, cũng như sử dụng hiệu quả các nguồn
vốn giữa các cấp quản lý. Khung chính
sách hỗ trợ chưa hoàn thiện.
- Còn nhiều vấn đề tồn đọng trong thu thập,
lưu trữ và xử lý số liệu
- Ý thức và nhận thức trong cộng đồng còn
chưa cao.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục môi
trường còn nhiều hạn chế
- Sự tăng trưởng của các thành phần kinh tế
-Các nguồn đầu tư nước ngoài: ngày
càng trở nên toàn diện hơn, xét trên khía
cạnh môi trường và phát triển
- Xuất phát từ tính chất đặc thù của các

thường xuyên và không thu được hiệu quả như mong muốn. Ô nhiễm vẫn
diễn ra trên diện rộng và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sức
khỏe của người dân nơi đây.
Các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ở đây bị ảnh hưởng bởi những
thuận lợi cũng như những khó khăn sau:
• Thuận lợi
- Được sự tham gia, hỗ trợ của cơ quan chính quyền
- Người dân đã ý thức được những tác động của ô nhiễm môi trường
tới đời sống của họ nên tham gia ngày càng tích cực hơn trong công tác bảo
vệ môi trường.
• Khó khăn
- Các hộ gia đình còn làm việc riêng rẽ, không có tính cộng đồng nên
việc xử lí còn nhiều khó khăn
- Các hộ làm nghề đều coi việc xả chất thải ra môi trường, khoan nước
giếng sản xuất không phép, không nộp tiền xử phạt vi phạm luật bảo vệ môi
trường là điều "tự nhiên".
- Hầu hết các làng nghề đều có tư tưởng ỷ lại, coi xử lý hậu quả ô
nhiễm làng nghề là việc của Nhà nước
- Năng lực cán bộ cũng là một bất cập lớn: 95% số cán bộ làm công
tác môi trường cấp huyện không có chuyên môn về môi trường. Ở cấp xã,
cán bộ môi trường lại kiêm nhiệm nhiều việc và trinh độ cũng còn có nhiều
hạn chế
Trước tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, nhóm mạnh dạn đề ra
một số giải pháp sau
• Giải pháp
- Xác định xử lí chất thải, bảo vệ môi trường trên đại bàn vừa có tính
chất cấp bách vừa là vấn đề cơ bản lâu dài cho phát triển kinh tế xã hội bền
vững để đẩy mạnh công tác tuyên truyền
- Tiến hành phân loại rác tại nguồn, làm cho người dân rõ được lợi ích
của việc phân loại rác trước khi bỏ

chung.
3.2 Kiến nghị :
Chính quyền cần có các biện pháp tích cực hơn nữa nhằm giúp đỡ người dân ở
làng vân canh chuyển đổi công nghệ sản xuất bún an toàn và thân thiện với môi
trường hơn, cử cán bộ xuống tận nơi để tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về
việc bảo vệ môi trường.
Có các biện pháp khuyến khích người dân bảo vệ môi trường như ưu đãi đối với
các hộ sản xuất sạch, đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống xả thải cho các hộ dân,
mở các lớp đào tạo cho người dân về công nghệ sản xuất sạch.
Quy hoạch tập trung, có kế hoạch dần dần đưa các hộ sản xuất ra xa khỏi khu vực
đông dân cư, tập trung họ lại để dễ quản lý hơn. Phải bảo đảm được đầu ra cho các
sản phẩm của người dân để giúp họ cải thiện cuộc sống, từ đó có cơ sở để nâng
cao được ý thức bảo vệ môi trường của người dân.
Tài liệu tham khảo:
http://www.isponre.gov.vn
http://luatgiapham.com/index.php?
option=com_content&task=view&id=577&Itemid=116
http://thuvienphapluat.vn/archive/Chi-thi/Chi-thi-so-28-2007-CT-BNN-thuc-
hien-quy-hoach-phat-trien-nganh-nghe-nong-thon-phong-chong-o-nhiem-
moi-truong-lang-nghe-vb18713t1.aspx
http://vea.gov.vn/VN/vanbanphapquy/quyphapphapluat/Pages/Ngh
%E1%BB%8B%C4%91%E1%BB%8Bnhc%E1%BB%A7aCh
%C3%ADnhph%E1%BB%A7s%E1%BB%91672003N%C4%90-CP.aspx
http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-174-2007-ND-CP-
phi-bao-ve-moi-truong-doi-voi-chat-thai-ran-vb59354t11.aspx
http://www.luatgiapham.com/phap-luat/hanh-chinh/2031-ngh-nh-s-
042009n-cp-ngay-14012009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status