tìm hiểu công tác chăm sóc bệnh nhân sau mổ trĩ bằng phương pháp longo tại khoa ngoại tiêu hóa bệnh viện trung ương huế - Pdf 19

3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trĩ là những cấu trúc bình thường ở ống hậu môn. Bệnh trĩ là tập hợp
những bệnh lý có liên quan đến biến đổi cấu trúc của mạng mạch trĩ và các tổ
chức tiếp xúc với mạng mạch này. Bệnh trĩ tuy không đe doạ đến sự sống còn,
nhưng gây khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Bệnh trĩ phổ biến ở mọi xứ sở với tỷ lệ người mắc bệnh khá cao. Nhiều
thống kê ở nước ngoài cho thấy tỷ lệ người bệnh ở người trên 50 tuổi là trên
50% và có khoảng 5% dân số có triệu chứng của trĩ. Đa số hay gặp ở người lớn,
hiếm gặp ở trẻ em.
Mục tiêu chính của điều trị bệnh trĩ là giảm thiểu các triệu chứng gây khó
chịu và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Điều trị trĩ trên thế giới cũng
như ở Việt Nam có rất nhiều phương pháp: điều chỉnh chế độ ăn uống, chế độ
làm việc, vệ sinh tại chỗ, dùng thuốc đông tây y toàn thân hoặc tại chỗ, các thủ
thuật điều trị trĩ (tiêm xơ, thắt vòng ) cho đến các phương pháp phẫu thuật kinh
điển (Milligan- Morgan, Toupet ). Các phương pháp cắt trĩ kể trên đã được
thực hiện nhiều thập kỷ nay nếu chỉ định đúng và thực hiện đúng kỹ thuật nói
chung có kết quả tốt. Tuy nhiên đau sau mổ, chít hẹp hậu môn sau mổ, ỉa són
sau mổ và thời gian nằm viện sau mổ kéo dài vẫn là mối quan ngại cho người
bệnh và phẫu thuật viên.
Tháng 8/ 1998, tại hội nghị phẫu thuật nội soi quốc tế lần thứ 6 ở Rome
phẫu thuật viên người Italia, Antonio Longo đã trình bày tổng kết một phương
pháp phẫu thuật để điều trị trĩ với nội dung cơ bản là cắt một vòng niêm mạc,
dưới niêm mạc trực tràng trên đường lược khoảng 3 cm, nhằm kéo búi trĩ và
niêm mạc trực tràng sa trở về vị trí cũ đồng thời loại bỏ nguồn máu đi từ niêm
mạc tới cho các búi trĩ.
Điều trị bệnh trĩ với phương pháp nội khoa, thủ thuật hay ngoại khoa đều
có những chỉ định và nguyên tắc riêng của nó, đòi hỏi người thầy thuốc phải linh
4

1.1. KHÁI NIỆM VỀ BỆNH TRĨ
1.1.1 Bệnh học
Trĩ là giãn và sưng tĩnh mạch trực tràng. Trĩ nội nhô ra nhưng vẫn còn
nằm trong ống hậu môn và có bao phủ lớp màng nhầy. Trĩ ngoại nhô ra ở hậu
môn và bao phủ bởi da của bên ngoài hậu môn.
1.1.2. Sinh bệnh học
Ứ máu trong hệ thống tĩnh mạch hậu môn được tin rằng là vai trò cơ bản
trong sự phát triển trĩ. Vì thế, việc đại tiện phải rặn khi phân quá cứng, ngồi rặn
lâu trên bồn cầu, làm nặng, phụ nữ mang thai, u đại trực tràng, bụng chướng đều
dẫn đến nguy cơ bị trĩ.
1.1.3. Dịch tễ học
Trĩ phổ biến ở mọi xứ sở và tỷ lệ người mắc bệnh khá cao. Đa số gặp trĩ ở
người lớn tuổi và không gặp ở trẻ em, nam gấp đôi nữ
1.1.4. Yếu tố thuận lợi
- Viêm đại tràng mạn tính và táo bón kinh niên, rặn đi đại tiện nhiều.
- Tăng áp lực trong xoang bụng ở những người bệnh giãn phế quản, ho
nhiều, lao động nặng.
- Do nghề nghiệp như tư thế đứng quá lâu, ngồi quá lâu, đây cũng là bệnh
nghề nghiệp. Do chẹn tĩnh mạch như các bệnh ung thư đại trực tràng, thai lớn
tháng.
1.2. TRIỆU CHỨNG
Triệu chứng của trĩ nội là không đau và chảy máu sau khi đi cầu. Máu đỏ
tươi dính theo phân, hay thấm qua giấy vệ sinh. Nếu xảy ra lâu đôi khi người
bệnh có nguy cơ thiếu máu. Trĩ ngoại xuất hiện cục hồng, đỏ nằm ở rìa hậu môn.
6

Nếu có tắc mạch trĩ có máu, sưng, đau và màu xanh. Ngứa là dấu hiệu phổ
biến của trĩ ngoại.
Có 4 mức độ sa trĩ:
– Độ 1: búi trĩ nằm hoàn toàn trong ống hậu môn.

1.3. CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
1.3.1. Điều trị nội khoa
- Thoa thuốc giảm đau, thuốc tê, kháng sinh, thuốc nhuận tràng làm mềm
phân. Vệ sinh tại chỗ bằng phương pháp ngâm hậu môn.
- Chế độ sinh hoạt: tránh hoạt động gắng sức, tránh tư thế ngồi hay đứng
quá lâu, không để táo bón.
- Chế độ dinh dưỡng: ăn thức ăn nhuận tràng, ăn nhiều chất xơ, uống
nhiều nước.
- Tránh thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu, các chất kích thích như rượu, cà
phê, trà.
Thuốc: thường có tác dụng giảm đau, chống phù nề, co thắt, chống đông và
thường tác dụng tại chỗ.
1.3.2. Điều trị ngoại khoa
Tiêm dung dịch làm xơ hoá búi trĩ: chích nước sôi, phenol 5%,
Polidocanol.
Thường áp dụng cho trĩ nội độ 1, độ 2. Biến chứng là làm loét qua mô cơ
lành, nhiễm trùng, phản ứng thuốc.
Liệu pháp làm đông nhiệt bằng tia hồng ngoại: dùng một bóng đèn
Tungsten halogen phát ra tia hồng ngoại hội tụ trên búi trĩ gây hiện tượng viêm,
phá huỷ và tạo sẹo vùng chiếu tia.
Thắt búi trĩ bằng dây thun: búi trĩ thiếu máu nuôi, xơ cứng, hoại tử và
rụng sau khoảng 7 ngày.
Làm lạnh: nguyên tắc là dùng độ lạnh với nhiệt độ – 120
0
C của que được
làm bằng dung dịch nitrogen, carbon dioxid, lạnh làm hoại tử và rụng giúp sẹo
mềm, đẹp, không đau.
Giải phẫu cắt trĩ:
8


chảy máu do người bệnh bị táo bón sau mổ, điều dưỡng hướng dẫn người bệnh
ăn thức ăn mềm, tránh thức ăn nhiều xơ. Để tránh táo bón nên hướng dẫn người
bệnh ăn thức ăn nhuận tràng và uống nhiều nước.
+ Đau sau cắt trĩ
Thực hiện thuốc giảm đau theo giờ. Tìm tư thế giảm đau thích hợp, nên
cho người bệnh tư thế nằm ngửa, tránh tư thế ngồi quá lâu, thoa thuốc giảm đau
tại chỗ. Tái khám khi có dấu hiệu đau tăng lên. Ngâm nước ấm giúp người bệnh
giảm đau, thoải mái. Thay băng khi thấm ướt, tốt nhất nên ngâm hậu môn giúp
vết mổ sạch sẽ, giảm đau. Người bệnh nên uống nhiều nước, ăn thức ăn nhẹ
trong những ngày đầu để tránh phân cứng làm người bệnh đau, dùng giấy mềm
sạch sau khi đại tiện để tránh đau và chảy máu, tốt nhất nên rửa sạch bằng nước.
+ Ngƣời bệnh lo lắng khi đại tiện sau mổ
Hướng dẫn người bệnh chế độ ăn, thức ăn mềm, ít chất bã; đi lại, vận
động, uống nhiều nước. Sau khi đại tiện tránh sử dụng giấy quá cứng, nên ngâm
hậu môn sau khi vệ sinh sạch sẽ. Khi có dấu hiệu chảy máu hay đau nên tái
khám ngay. Nếu trường hợp người bệnh đi cầu phân cứng hay táo bón nên thăm
khám lại bác sĩ và thực hiện thuốc nhuận tràng.
+ Ngƣời bệnh khó chịu do vết thƣơng vùng hậu môn
Hướng dẫn người bệnh ngâm rửa hậu môn ngày 3 lần, sau khi ngâm nên
lau khô sạch, sau đó có thể dùng băng vệ sinh để hút thấm dịch, giữ sạch sẽ
vùng hậu môn tránh sử dụng băng keo, hay băng quá kín.
+ Ngƣời bệnh lo lắng về vận động sau mổ
Hướng dẫn người bệnh vận động, đi lại bình thường, nên đi bộ thường
xuyên, tập vận động để tránh bị táo bón.
+ Ngƣời bệnh có nguy cơ bị trĩ tái phát
Giáo dục người bệnh tránh táo bón như tập đại tiện đúng giờ, tránh các chất
kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, ăn nhiều chất xơ, uống nhiều nước, thể dục,
vận động. Tránh làm việc trong một tư thế quá lâu, vệ sinh sau khi đại tiện.
10


Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Gồm 34 bệnh nhân bị trĩ được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Trung
ương Huế.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Chọn những bệnh nhân bị trĩ đơn thuần không mắc các bệnh kết hợp
khác vào điều trị phuẫn thuật tại Bệnh viện
- Phẫu thuật bằng phương pháp Longo.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những trường hợp không hợp tác trả lời.
- Người bệnh câm, điếc, tâm thần.
2.1.4. Thời gian nghiên cứu:
- Từ ngày 02/05/2013 đến ngày 15/05/2013.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang
- Nội dung nghiên cứu:
2.2.1. Một số đặc điểm chung của bệnh trĩ
* Giới
+Nam và + Nữ
* Tuổi
+ Nhóm <30 tuổi:
+ Nhóm tuổi từ 21 – 60
+ Nhóm tuổi trên 60: Nhóm người cao tuổi.
12

* Nghề nghiệp
+ Nhóm nghề hành chính: CNVC, kế toán, giáo viên, sinh viên…


3.1.ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố theo tuổi
Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
N
Tỷ lệ%
≤ 30 tuổi
2
5,9
31- 60
28
82,3
> 60
4
11,8
Tổng
34
100
Tuổi TB
X ± SD = 48,2 ± 10,1tuổi T
MAX
= 67, T
MIN
=26Nhận xét: Nhóm tuổi 31-60 chiếm đa số 82,3%.Tuổi trung bình bệnh
nhân 48,2 ± 10,1tuổi, thấp nhất 26 cao nhất 67 tuổi
3.1.2. Phân bố theo giới

8,8
Tổng
34
100,0

Nhận xét: Các bệnh nhân mỗ trĩ lần đầu tiên chiếm đa số 55,9% 0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
Hành chính
Làm ruộng
Công nhân Khác
47,1
17,6
8,8
26,5
Tỷ lệ %
Nghề nghiệp
15


Đứng nhiều
4
11,8
Lao động nặng
7
20,6
Dùng nhiều chất kích thích
2
5,9
Tổng
34
100

Nhận xét: Ngồi nhiều chiếm tỷ lệ cao nhất 61,8%
16

3.2. NHU CẦU CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ TRĨ
3.2.1. Tình trạng đau vết mổ
Bảng 3.5. Tình trạng đau vết mổ
Tình trạng đau vết mổ
Đau tự nhiên
Đau khi đại tiện
n
Tỷ lệ%

17

3.2.3. Giáo dục y tế
Bảng 3.6. Giáo dục y tế
Giáo dục y tế
n
Tỷ lệ%

9
26,5
Không
25
73,5
Tổng cộng
34
100
Nhận xét: Chỉ có 26,5% bệnh nhận được giáo dục y tế
3.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SAU MỔ TRĨ
3.31. Tình trạng tiểu tiện
Bảng 3.7. Tình trạng tiểu tiện
Tình trạng tiểu tiện
n
Tỷ lệ%
Tiểu bình thường
26
76,5
Tiểu khó
8
23,5
Tổng

24
70,6
30
88,2
Thấm gạc ít
26
76,5
24
70,6
15
44,1
10
29,4
4
11,8
Thấm gạc nhiều
7
20,6
5
14,7
2
5,9
0
0,0
0
0,0
Tổng số
34
100
34

TL%
Không đau
2
5,9
7
20,6
18
52,9
23
67,6
31
91,2
Đau ít
25
73,5
23
67,6
14
41,2
11
32,4
3
8,8
Đau nhiều
7
20,6
4
11,8
2
5,9

19

3.3.5. Đặc điểm đại tiện lần đầu sau mổ
Bảng 3.10. Đặc điểm đại tiện lần đầu sau mổ
Đặc điểm đại tiện lần đầu sau mổ
n
Tỷ lệ %
Không đau
0
0,0
Đau ít
3
8,8
Đau vừa
15
44,1
Đau nhiều
11
32,4
Đau rất nhiều
5
14,7
Tổng
34
100,0
Nhận xét: Đại tiện lần đầu sau mổ có 44,1% bệnh nhân đau vừa, đau
nhiều (32,4%) và đau rất nhiều 14,7%.
3.3.6. Đặt thuốc vào hậu môn

Biểu đồ 3.6. Tình trạng ăn uống dinh dưỡng

Nhận xét: Đa số các bệnh nhân ăn uống bình thường chiếm 64,7%
0
10
20
30
40
50
60
70
Ăn ít hơn bình thƣờng Ăn bình thƣờng Ăn nhiều hơn
23,5
64,7
11,8
Tỷ lệ %
Tình trạng ăn uống
21

Chƣơng 4
BÀN LUẬN

Qua điều tra phỏng vấn 34 đối tượng về tìm hiểu công tác chăm sóc bệnh
nhân sau mổ trĩ bằng phương pháp Longo tại Khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện
Trung ương Huế, chúng tôi có nhận xét và bàn luận như sau:
4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

4.1.4 Thời gian mắc bệnh trĩ
Qua bảng 3.3 thời gian mắc bệnh trĩ 1-5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất
(58,8%). Theo nghiên cứu của chúng tôi, kết quả thời gian mắc bệnh trung bình
là 7,02 ± 5,8 năm Đây là một thời gian tương đối dài mà BN phải chịu đựng
sống chung với bệnh trĩ với những cảm giác khó chịu, đau khi ngồi hay đi cầu,
chảy máu
Bệnh trĩ thường xuất hiện không rõ ràng, khó có thể xác định thời gian bắt
đầu của bệnh trĩ vì trĩ là trạng thái tiềm tàng. Chỉ đến khi nào BN thấy đau rát
khi đi cầu thì họ mới vào viện để khám và điều trị.
Qua tìm hiểu, hầu hết BN đều cho rằng e ngại đến bệnh viện sợ mổ, hay
các vấn đề tế nhị ở phụ nữ. Chính vì vậy mà hầu hết BN khi vào viện điều trị
phần lớn là trĩ độ III, IV.
Kết quả chúng tôi phù hợp với Nguyễn Thành Quang (2010) thời giam
mắc trĩ 1-5 năm chiếm 56,6% và thời gian mắc bệnh trung bình là 6,34 ± 5,78
năm
4.1.5 Các yếu tố nguy cơ của bệnh trĩ
Theo nghiên cứu của tôi cho thấy những BN có thói quen ngồi nhiều sẽ có
nguy cơ bị bệnh trĩ cao nhất chiếm 61,8% (bàng 3.4). Còn các yếu tố còn lịa
chiếm 38,2%: trong đó đứng nhiều (11,8%), lao động nặng (20,6%), dùng nhiều
chất kích thích như cà phê, chất cay, nóng chiếm 5,9%. Phần này của nghiên cứu
23

làm rõ thêm cho phần yếu tố nghề nghiệp của bệnh nhân có thói quen ngồi nhiều
nói chung và nghề nghiệp hành chính nói riêng.
Với kết quả này cho thấy với những người làm việc phải ngồi nhiều thì
cần phải thay đổi tư thế thường xuyên tránh ngồi lâu một chỗ.
4.2. NHU CẦU CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ TRĨ
4.2.1. Tình trạng đau vết mổ
Qua bảng 3.5 cho thấy đa số các bệnh nhân đều đau vết mổ, trong đó đau
sau khi đại tiện có tỷ lệ 97,1% cao hơn đau tự nhiên có 32 bệnh nhân chiếm

chưa được cung cấp các kiến thức về bệnh tật, chưa được giải thích trước khi mổ
chỉ có 26,5% bệnh có kiến thức về y tế. Nhu cầu của BN khi vào viện là được
điều trị ngoài ra còn có nhu cầu được cung cấp các kiến thức về bệnh của BN để
giúp họ hiểu hơn về bệnh của mình và các phòng tránh bệnh.
Bệnh trĩ là tình trạng các tĩnh mạch ở vùng hậu môn bị giãn quá mức. Đây
là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập
viện. Người bị bệnh trĩ cần điều chỉnh thói quen ăn uống sinh hoạt hợp lý, hài
hòa để hạn chế bệnh phát triển. Nước trái cây (82,4%); dầu ô liêu, dầu cá
(73,5%). Gừng, tỏi, củ hành (64,7%)
Ngoài ra, người mắc bệnh trĩ nên hạn chế ăn muối do nó có khuynh
hướng giữ nước lại trong cơ thể, khiến cho các tế bào và mạch máu trương căng,
làm trầm trọng hơn các triệu chứng bệnh trĩ. Cũng nên siêng năng vận động,
không ngồi lâu một chỗ - nhất là những người làm việc văn phòng, thợ may,
người ngồi nhiều với máy tính Hằng ngày nên tập thể dục nhẹ nhàng.
Công tác điều dưỡng về giáo dục sức khỏe cho BN là cần giải thích cơn
đau của BN nhằm giúp họ giảm lo lắng.

25

4.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SAU PHẪU
THUẬT TRĨ
4.3.1. Tình trạng tiểu tiện
Tiểu dắt là bệnh thường thấy sau khi phẫu thuật trĩ hay hậu môn trực
tràng. Người bị bệnh nhẹ thường có biểu hiện là khi đi tiểu phải dùng lực, có lúc
không ra nước tiểu, còn người bị bệnh nặng thì phần bụng dưới bị phình to, đau,
không đi tiểu được dẫn đến bí tiểu. Kết quả chúng tôi cho thấy đa số các bệnh
nhân trĩ tiểu tiện bình thường chiếm 76,5%, tiểu khó chiếm 23,5% (bảng 3.6).
Sau khi phẫu thuật, tinh thần quá căng thẳng, người bệnh không quen với việc
nằm giường hoặc đi vệ sinh trong phòng bệnh. Ngoài ra nam giới thường mắc
bệnh tiểu dắt và bí tiểu nhiều hơn nữ, điều này có thể là do đường tiết niệu của

Kết quả nghiên cứu cho thấy qua bảng 3.10 cho thấy không có trường hợp
bệnh nhân nào không đau khi đại tiện, tỷ lệ đau nhiều vừa và đau nhiều chiếm
76,5%; trong đó đau vừa (44,1%); đau nhiều (32,4%); tỷ lệ đau rất nhiều chiếm
14,7%. Do vậy để đại tiện đau ít sau mổ trĩ bệnh nhân cần vận động sớm sau
phẫu thuật, ăn thức ăn giàu chất xơ, uống nhiều nước và dùng thuốc nhuận
tràng.
4.3.6. Ngâm hậu môn bằng thuốc tím và đặt thuôc vào hậu môn
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy 100% bệnh nhân đều ngâm hậu môn
bằng thuốc tím và 94,1% bệnh nhân đặt thuốc vào hậu môn. Điều này cho thấy
khi đặt thuốc thì mức độ đau của bệnh nhân giảm dần theo thời gian sau hậu
phẫu.
4.3.7. Tình trạng ăn uống, dinh dƣỡng
Qua biểu đồ 3.6 kết quả nghiên cứu cho thấy ăn uống bình thường chiếm
64,7%, đây là những đối tượng nghiên cứu không thuộc hệ tiêu hóa. Nhóm ăn
uống ít hơn bình thường sau phẫu thuật chiếm 23,5% thông thường sau phẫu
thuật bệnh nhân chịu ảnh hưởng của tình trạng đau vết mổ và kèm theo mệt mỏi,
đồng thời tâm lý lo lắng nên BN sẽ ăn uống ít trong thời gian hậu phẫu.
27

Đối với BN sau phẫu thuật thuộc hệ tiêu hóa, thì phải chờ đến khi BN có
nhu động ruột trở lại mới cho BN ăn. Vì vậy trong ngày đầu tiên chỉ cho BN
uống nước đường hoặc sữa để kích thích tạo nhu động ruột. Khi nào BN trung
tiện được thì khuyến khích BN ăn cháo hoặc cơm, kèm theo ăn thức ăn giàu chất
xơ, hoa quả để đề phòng táo bón và tăng sức đề kháng. Đồng thời cần đảm bảo
thức ăn phải đầy đủ chất dinh dưỡng, không dùng các chất kích thích



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status