1
LỜI NÓI ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trung du miền núi phía Bắc là vùng có núi non hùng vĩ nhất Việt Nam, là nơi có đông
đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống nhất đất nước (35/54 dân tộc) và cũng là nơi có đường
biên giới trên bộ rất dài với hai nước: Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (trên 1500 km) và Cộng
hoà Dân chủ Nhân dân Lào (560 km). Chính vì vậy, Trung du miền núi phía Bắc là địa bàn có vị
trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, gìn giữ môi trường và bảo đảm an ninh
quốc phòng của đất nước.
Thấy rõ vị trí quan trọng của vùng trung du miền núi phía Bắc trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, nên trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối
đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc
đầu tư phát triển mọi mặt đối với vùng này. Nhờ đó, kinh tế của toàn vùng đã có sự phát triển
khá nhanh; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc sinh sống trong vùng đã
có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt là các mặt: ăn, ở, đi lại, học tập, điện, nước sinh hoạt và
nghe nhìn; an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ bản được giữ vững.
Song do là vùng núi cao, địa hình bị chia cắt phức tạp, cơ sở hạ tầng thấp kém, dân cư sống
phân tán và trình độ dân trí còn quá thấp, nên kinh tế của vùng mặc dù đã có bước phát triển khá,
nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới được hình thành và phát triển; đáng chú ý là các ngành
công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhưng ngành sản xuất rộng lớn nhất, quan trọng nhất vẫn là
ngành nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là các ngành trồng trọt, chăn
nuôi và lâm nghiệp vẫn là lĩnh vực chính giải quyết việc làm, thu nhập và bảo đảm đời sống
cho đại bộ phận lao động và dân cư trong vùng.
Tuy nhiên, hiện tại sản xuất nông nghiệp của vùng trung du miền núi phía Bắc đang đứng
trước những thách thức hết sức nghiêm trọng trong sự phát triển, đó là:
- Thứ nhất, đất sản xuất nông nghiệp ít, chỉ có 1.571.100 ha, chiếm 14,94% diện tích
đất sản xuất nông nghiệp của cả nước, nhưng phân bố rất phân tán trên nhiều cấp độ địa hình
khác nhau và độ màu mỡ của đất khá thấp. Điều đáng nói là diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của vùng không ngừng bị suy giảm về số lượng do việc chuyển đổi mục đích sử dụng
(phát triển công nghiệp, nhất là thuỷ điện, khai thác hầm mỏ; phát triển thương mại, du lịch,
trên 1,3 tỷ người là một lợi thế không nhỏ trong việc tiêu thụ nông sản sản xuất ra. Tuy nhiên,
Trung Quốc là một thị trường hết sức phức tạp, sức ép của họ đối với sự phát triển nông
nghiệp của vùng là hoàn toàn không nhỏ, nhất là trong mối quan hệ diễn biến rất phức tạp.
Những khó khăn, thách thức nêu trên cho thấy nếu cứ tiếp tục duy trì phương thức phát
triển nông nghiệp vùng trung du miền núi phía Bắc như hiện nay chắc chắn sẽ mang lại cho
vùng nói riêng và đất nước nói chung những hậu quả hết sức nghiêm trọng về nhiều mặt.
Xuất phát từ đó, NCS chọn vấn đề “Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi
phía Bắc Việt Nam theo hướng bền vững” làm đề tài luận án Tiến sĩ kinh tế của mình.
2- Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận về phát triển bền vững nói chung, phát triển
bền vững nông nghiệp nói riêng, luận án vận dụng để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía Bắc theo hướng bền vững trong những năm đã qua
và đề xuất giải pháp thúc đẩy nông nghiệp của vùng phát triển nhanh theo hướng bền vững giai
đoạn từ nay đến năm 2020.
Mục tiêu cụ thể:
- Trình bày rõ lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các
tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy nông nghiệp các tỉnh
trung du miền núi phía Bắc Việt Nam phát triển theo hướng bền vững tới năm 2020.
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.
Trong đó, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng là gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ
sản. Tuy nhiên, do điều kiện của vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam diện tích mặt
nước không nhiều, ngành thuỷ sản có vị trí khá hạn chế, nên luận án tập trung nghiên cứu các
hoạt động thuộc lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp là chính.
Phát triển bền vững bao gồm cả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, do
những hạn chế về tài liệu, nên mảng xã hội và môi trường luận án cũng chỉ có thể đề cập
được ở một mức độ nhất định, không thể bảo đảm như những gì lý luận đã nêu ra.
nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc phải được
thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các ngành, các lĩnh vực khác trên địa bàn, cũng như
với các vùng khác trong cả nước.
Thứ năm, tiếp cận theo hướng hệ thống là cách nhìn nhận vấn đề qua cấu trúc hệ thống,
thứ bậc và động lực của chúng, đó là một tiếp cận toàn diện và động. Tiếp cận này giúp cho
việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố trong phát triển bền vững bao gồm
kinh tế, xã hội và môi trường.
- Thứ sáu, tiếp cận thể chế là cách tiếp cận giúp cho việc phân tích việc thực thi các
chính sách, quy định của Chính phủ từ đó xác định được các giải pháp phù hợp với đặc điểm
riêng của vùng trung du miền núi phía Bắc, tạo được động lực cho phát triển.
*Phương pháp nghiên cứu:
Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Thu thập số liệu thông qua các tài liệu, báo cáo: Đây là các số liệu được thu thập
qua các niêm giám thống kê, các báo cáo của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam
và các nghiên cứu liên quan đã được triển khai trên địa bàn.
+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Để có cơ sở vững chắc cho việc phân tích,
4
đánh giá đúng thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của các tỉnh trung du
miền núi phía Bắc , từ đó có thể đề xuất được một số kiến nghị có cơ sở khoa học cho quá
trình phát triển này trong tương lai, NCS đã tiến hành khảo sát thực tế tại một số địa bàn
trong vùng có sự nổi trội trong phát triển nông nghiệp.
+ Phương pháp chuyên gia: Đây là hình thức thu thập thông tin thông qua việc tham
khảo ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý am hiểu về vấn nghiên cứu.
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu:
Luận án đã tổng hợp các lý luận, các nghiên cứu có liên quan đến phát triển bền vững,
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững nói chung, phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững đối với các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng. Phương pháp
từng giai đoạn phát triển của bản thân vùng này, mà còn được so sánh với các địa phương,
các vùng khác trong cả nước.
5- Những đóng góp chủ yếu của luận án
- Luận án đã hệ thống hoá và làm rõ các khái niệm có liên quan đến phát triển bền vững
nông nghiệp, đặc biệt là khái niệm, nội dung và các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá. Trên cơ sở đó
5
đã xây dựng được khung lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam.
- Đã vận dụng khung lý luận được xây dựng đánh giá đúng thực trạng phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam giai đoạn từ
năm 2000 đến nay.
- Trên cơ sở dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế có thể tác động đến phát triển nông
nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía Bắc theo hướng bền vững giai đoạn từ nay đến năm
2020, luận án đã đưa ra hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm đẩy nhanh quá
trình phát triển theo hướng bền vững của nông nghiệp vùng này.
6- Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án
gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề
tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững.
Chương 3: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh trung du
miền núi phía Bắc Việt Nam giai đoạn 2000-2012.
Chương 4: Giải pháp nâng cao tính bền vững đối với phát triển nông nghiệp ở các tỉnh
trung du miền núi phía Bắc Việt Nam đến năm 2020.
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
7
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
2.1-Những nhận thức cơ bản về phát triển bền vững
Nội dung phát triển bền vững được xác định bao gồm ba trụ cột
1
:
(i) Bền vững về kinh tế: Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định, lâu dài và hiệu quả;
(ii) Bền vững về mặt xã hội: Đảm bảo công bằng xã hội và phát triển con người
(iii) Bền vững về môi trường: là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống, đảm bảo cho con người được sống
trong môi trường sạch, lành mạnh và an toàn, hài hoà trong mối liên hệ giữa con người với
xã hội và tự nhiên.
Hình 2.1: Ba trụ cột của phát triển bền vững
tiêu
Kinh tế
Kinh tế
Xã hội
Môi trường
PTBV
8
động, nhưng sản xuất nông nghiệp thì không như vậy. Sản xuất nông nghiệp, nhất là trong
ngành trồng trọt, thời gian sản xuất và thời gian lao động có sự khác biệt nhau khá lớn. Sở dĩ
như vậy vì các loại cây trồng, các con vật nuôi, ngoài thời gian con người tác động, còn có
thời gian các yếu tố tự nhiên thông qua tính chất lý học, hoá học, sinh học tác động lên chúng
nữa. Từ hai loại tác động ấy, các loại cây trồng, các con vật nuôi mới tồn tại, phát triển và
cho con ngươì những sản phẩm quý giá. Do đó, thời gian lao động trong nông nghiệp luôn
xen kẽ với thời gian sản xuất, đây chính là điều làm cho lao động trong nông nghiệp luôn có
tính thời vụ.
Vì thế, khắc phục tính thời vụ là một yêu cầu quan trọng của phát triển bền vững trong
sản xuất nông nghiệp của tất cả các nước.
c- Đối tượng sản xuất của các ngành khác là những vật vô tri, vô giác, còn đối tượng
sản xuất của nông nghiệp là các loại cây trồng và các con vật nuôi, chúng là những cơ thể
sống, có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng. Vì thế, nếu nắm được quy luật sinh trưởng
và phát triển của chúng và có tác động đúng thì chúng sẽ phát triển tốt, cho nhiều sản phẩm
có chất lượng cao, bảo đảm tính bền vững, còn ngược lại con người sẽ phải gánh chịu những
hậu quả khó lường.
2.2.2- Phát triển nông nghiệp bền vững và các chỉ tiêu đánh giá.
Về mặt tổng quát, phát triển nông nghiệp bền vững cũng giống như phát triển kinh tế
bền vững là phải bảo đảm tốt ba trụ cột: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững
về môi trường. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) năm 1992 đã
đưa ra định nghĩa về phát triển nông nghiệp bền vững như sau: “Phát triển nông nghiệp bền
vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn
Bền vững về xã hội:
Có nhiều yêu cầu về mặt xã hội đối với phát triển bền vững nông nghiệp, song quan
trọng nhất là nâng cao nhanh thu nhập cho người dân và bảo đảm tính công bằng trong việc
hưởng thụ các thành quả do phát triển mang lại. Có nhiều chỉ tiêu xác định tính bền vững về
mặt xã hội trong phát triển nông nghiệp, song các chỉ tiêu sau đây theo chúng tôi là rất quan
trọng :
- Thu nhập bình quân một nhân khẩu/ tháng (1000 VNĐ/ người/tháng).
- Tỷ lệ người nghèo( là số %).
- Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành.
Bền vững về mặt môi trường:
Dưới đây là một số chỉ tiêu chủ yếu phản ảnh tính bền vững về môi trường trong phát
triển sản xuất thường được sử dụng:
- Diện tích đất bị thoái hoá.
- Diện tích đất không được tưới tiêu hợp lý.
- Diện tích rừng và tỷ lệ che phủ của rừng
- Số vụ và diện tích rừng bị cháy, bị chặt phá.
2.3- Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp
Có nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của
sản xuất nông nghiệp, song quy tụ lại, có 3 nhóm nhân tố sau đây:
-Thứ nhất, các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên: có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển
theo hướng bền vững của nông nghiệp.
-Thứ hai, các nhân tố thuộc điều kiện kinh tế: có nhiều nhân tố thuộc nhóm này,
trong đó quan trọng như: kết cấu hạ tầng,cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông
nghiệp, hệ thống chính sách,sự phát triển của hệ thống thị trường
-Thứ ba, các nhân tố thuộc điều kiện xã hội:có tác động khá nhiều đến phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững son đáng quan tâm là các nhân tố: trình độ dân trí, sự phân
bố dân cư. 10
nghiệp một cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại; phải ứng dụng kịp thời các tiến bộ mới của khoa
học-công nghệ vào các hoạt động sản xuất-kinh doanh; và phải nhanh chóng đào tạo, bồi
dưỡng cho nông nghiệp một nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được
những đòi hỏi của sự phát triển.
11
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG Ở CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000- 2012
3.1- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông nghiệp
3.1.1- Đặc điểm tự nhiên
Bảng 3.1: Khái quát tình hình cơ bản của các địa phương
vùng trung du miền núi phía Bắc năm 2012
STT
Tỉnh
Diện tích
tự nhiên
(1.000 ha)
Đất SX
nông nghiệp
(1.000 ha)
Đất
lâm nghiệp
(1.000 ha)
Dân số
333,6
646,8
6
Yên Bái
688,6
107,8
474,1
7644
7
Thái Nguyên
353,5
108,7
180,2
1.150,2
8
Lạng Sơn
832,1
106,3
559,9
740,8
9
Bắc Giang
384,9
129,6
140,1
1.588,5
10
Phú Thọ
353,3
98,5
5.708,0
11.405,7
% so cả nước
28,78
14,94
37,13
12,84
Nguồn: Niên giám Thống kê 2012
Bảng trên cho thấy trung du và miền núi phía Bắc chiếm 28,78% diện tích của cả nước,
song dân số chỉ chiếm có 12,84%. Đất sản xuất nông nghiệp của vùng chỉ chiếm 14,94% diện
tích đất sản xuất nông nghiệp của cả nước, nhưng diện tích đất lâm nghiệp lại chiếm tới
37,13%. Điều này thể hiện lâm nghiệp là ngành có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của vùng. Trong 14 tỉnh của vùng trung du và miền núi phía Bắc, thì Phú Thọ là địa
phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất 353.300 ha, lớn nhất là tỉnh Sơn La, 1.417.500 ha. Địa
phương có dân số ít nhất là tỉnh Bắc Kạn 320.500 người và nhiều nhất là tỉnh Bắc Giang
1.588.500 người. 12
3.1.2- Đặc điểm kinh tế
Do địa hình phức tạp và bị chia cắt sâu, nên có thể nói, Trung du và miền núi phía Bắc là
vùng có điều kiện kinh tế thấp kém nhất ở Việt Nam, trong đó đáng kể là:
- Kết cấu hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của vùng tuy đã
được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển khá nhiều, song vẫn vừa thiếu lại vừa lạc hậu.
- Kinh tế của vùng tuy đã có sự chuyển dịch và phát triển khá nhanh trong những năm
vừa qua, song chủ yếu vẫn rất nhỏ bé và ở trình độ khá lạc hậu (đây là nói chung, trong vùng
cũng có một số địa phương có trình độ phát triển tương đối khá như Lào Cai, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang).
3.2.2- Ngành trồng trọt phát triển đều qua các năm:
Phụ lục 1:Năng suất và sản lượng ngô của các địa phương vùng trung du
miền núi phía Bắc giai đoạn 2000- 2012
Đơn vị tính: Tạ/ha, 1000 tấn
Chỉ tiêu
2000
2003
2005
2007
2008
2010
2012
1-Hà Giang
-Năng suất
17,2
19,5
21,0
20,9
24,1
28,0
31,8
-Sản lượng
127,7
3-Bắc Kạn
-Năng suất
21,4
26,5
27,3
34,5
35,0
36,7
37,2
-Sản lượng
21,2
35,0
39,8
55,6
58,4
58,3
61,4
4-Tuyên Quang
24,2
28,5
28,0
32,4
34,0
-Sản lượng
38,3
57,3
64,6
75,8
80,7
100,8
114,6
6-Yên Bái
-Năng suất
19,7
22,9
23,5
25,3
26,0
28,5
30,6
-Sản lượng
75,5
14
8-Lạng Sơn
-Năng suất
35,3
41,1
43,4
46,6
45,8
47,9
47,8
-Sản lượng
44,8
61,7
79,8
89,0
94,9
96,8
104,3
9-Bắc Giang
26,2
34,5
36,8
38,1
38,7
43,7
45,5
-Sản lượng
42,5
66,5
74,8
82,2
89,5
90,4
79,1
11-Điện Biên
-Năng suất
-
-
19,3
20,7
22,2
23,1
40,2
48,5
57,3
13-Sơn La
-Năng suất
26,3
31,1
28,2
37,7
38,1
31,5
39,2
-Sản lượng
135,8
200,9
228,0
444,0
503,5
418,5
524,2
14-Hoà Bình
27,5
34,4
36,0
39,3
40,1
40,9
43,0
17-SL của vùng
640,4
883,0
1043,3
1401,7
1544,6
1527,1
1696,2
18-% so cả nước
31,9
28,2
27,5
32,6
33,8
33,1
35,3
Nguồn: Tập hợp từ Niên giám Thống kê năm 2005, 2010, 2012
Bảng 3.3:Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên 1 ha đất trồng trọt
của các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc
Đơn vị tính: Triệu đồng
STT
Tỉnh
24,23
30,08
31,71
37,01
6
Yên Bái
27,98
32,22
33,79
38,35
7
Thái Nguyên
35,48
40,10
44,43
52,86
8
Lạng Sơn
22,31
26,28
39,90
40,82
9
Bắc Giang
39,48
41,05
46,75
57,29
10
Phú Thọ
25,17
28,62
32,78
39,91
16
BQ cả nước
43,89
45,52
54,56
72,24
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ
sản năm 2011,NXB Thống kê, năm 2012. 15
Bảng số liệu trên cho thấy, tuy so với bình quân chung cả nước, giá trị sản phẩm trồng
trọt thu được trên 1 ha đất trồng trọt của vùng trung du miền núi phía Bắc còn một khoảng
cách không nhỏ, song nó cũng đã có bước tiến đều và tiến không nhỏ từ năm 2008 đến năm
2011.
3.2.3-Ngành chăn nuôi của các địa phương trong vùng đã từng bước phát
triển theo hướng sản xuất hàng hoá.
Phụ lục số 3: Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi các tỉnh vùng
Trung du miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2012
Đơn vị tính: 1000 con
Tỉnh
2000
2003
2005
2007
2008
352,9
373,0
431,7
449,5
-Đàn gia cầm
1223,0
2055,0
2139,0
2595,0
2742,0
3041,0
3166
2-Cao Bằng
-Đàn trâu
108,7
108,8
112,5
117,4
107,1
109,3
100,8
-Đàn bò
104,3
-Đàn trâu
87,0
81,7
83,0
87,9
77,7
73,9
53,0
-Đàn bò
32,5
35,3
38,6
44,9
36,2
27,1
20,2
-Đàn lợn
157,2
154,0
157,7
155,0
164,1
193,2
178,9
-Đàn gia cầm
1227,0
1208,0
1205,0
1012,0
1200,0
418,1
441,1
519,6
419,9
-Đàn gia cầm
2432,0
3982,0
4374,0
3032,0
3611,0
5118,0
3519,0
5-Lào Cai
-Đàn trâu
100,3
124,4
106,7
127,0
125,5
134,9
123,7
-Đàn bò
17,6
-Đàn trâu
83,3
93,2
101,1
111,7
110,0
112,4
97,4
-Đàn bò
30,1
26,5
28,1
38,8
36,5
34,3
19,0
-Đàn lợn
283,0
321,2
354,4
376,0
397,8
422,6
423,3
-Đàn gia cầm
2411,0
2674,0
2507,0
2784,0
2881,0
509,0
529,2
577,5
514,8
-Đàn gia cẩm
2621,0
4818,0
4669,0
5071,0
5295,0
6823,0
7564,0
8-Lạng Sơn
-Đàn trâu
188,8
188,2
188,5
182,2
160,9
155,3
122,7
-Đàn bò
42,5
-Đàn trâu
125,3
94,2
92,0
91,2
87,3
83,7
68,8
-Đàn bò
68,0
82,4
99,8
148,4
149,4
151,0
132,8
-Đàn lợn
718,3
843,0
928,4
1002,3
1050,6
1162,4
1173,1
16
Tỉnh
2000
2003
2005
105,2
129,3
163,4
142,8
122,1
91,9
-Đàn lơn
448,3
530,4
568,0
552,3
593,0
665,7
658,0
-Đàn gia cầm.
6559,0
7757,0
7887,0
8068,0
8495,0
11127,0
9499
11-Điện Biên
2020,0
2302,0
12-Lai Châu
-Đàn trâu
-
-
84,7
92,4
89,0
98,8
89,3
-Đàn bò
-
-
12,4
12,4
13,6
15,1
14,9
-Đàn lợn
-
-
155,8
106,4
119,9
159,9
169,8
191,3
196,5
-Đàn lợn
340,4
441,0
476,0
405,1
460,8
523,8
535,3
-Đàn gia cầm
2016,0
3306,0
3402,0
4848,0
5014,0
4890,0
4604
14-Hoà Bình
3882,0
3876,0
Nguồn: Tập hợp từ Niên giám Thống kê năm 2005, 2010, 2012
Bảng số liệu trên cho thấy, trên cả 4 lĩnh vực chăn nuôi: trâu, bò, lợn và gia cầm ở các tỉnh
vùng trung du miền núi phía Bắc, từ năm 2000 đến năm 2012, đều có sự phát triển khá tốt.
3.2.4-Ngành lâm nghiệp đã được các tỉnh trong vùng quan tâm phát triển
Hình 3.3: Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc giai
đoạn 2000-2012 - (giá năm 1994 - năm 2012 theo giá 2010)
Nguồn: Tập hợp từ Niên giám Thống kê năm 2005, 2010, 2012
Bảng số liệu trên cho thấy, tuy không nhiều, song giá trị sản xuất lâm nghiệp toàn vùng
trung du miền núi phía Bắc có sự tăng trưởng tương đối đều qua các năm. Năm 2012 so với
năm 2000, giá trị sản xuất lâm nghiệp của vùng tăng thêm 443,2 tỷ đồng, bình quân mỗi năm
17
tăng thêm được 44,32 tỷ đồng. Trong đó có hai tỉnh tăng tương đối khá là: Tỉnh Lạng Sơn,
tăng thêm 94,1 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng thêm 9,41 tỷ đồng; tỉnh Yên Bái tăng thêm
93,1 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 9,31 tỷ đồng. Đáng tiếc là có 2 tỉnh, giá trị sản xuất
lâm nghiệp giảm đáng kể: Sơn La giảm 93,7 tỷ đồng, bình quân mỗi năm giảm 9,37 tỷ đồng;
tỉnh Cao Bằng giảm 27,6 tỷ đồng, bình quân mỗi năm giảm 2,76 tỷ đồng.
3.2.5-Thuỷ sản cũng đã được các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc quan tâm
phát triển
Bảng 3.4: Giá trị sản xuất thuỷ sản của các tỉnh vùng trung du
miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2010 (giá 1994)
*
Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT
3,6
5,4
5,9
6,4
6,8
4
Tuyên Quang
11,5
13,2
16,2
21,6
25,7
27,4
29,0
5
Lào Cai
4,2
7,6
9,3
13,4
14,8
22,4
25,3
6
Yên Bái
9,7
22,2
29,0
34,8
37,8
Phú Thọ
67,1
88,7
99,7
131,7
126,3
139,7
152,9
11
Điện Biên
-
-
6,2
7,7
9,6
9,9
10,1
12
Lai Châu
-
-
5,9
7,9
8,8
9,0
8,8
13
Sơn La
17,7
24,5
3.2.6. Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp đã được chú ý xây dựng và củng cố
3.3-Đánh giá tính bền vững của phát triển nông nghiệp ở các tỉnh trung du miền
núi phía Bắc Việt Nam thời gian qua.
Căn cứ vào một số tiêu chí cơ bản đã được nêu ở chương 1, có thể xem xét và thấy
được thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở các tỉnh trung du miền núi
phía Bắc Việt Nam thời gian qua như sau: *
Niên giám Thống kê năm 2012 không tính giá trị ngành thủy sản theo từng địa phương nên NCS chỉ dừng lại ở số liệu
năm 2010
18
3.3.1-Bền vững về kinh tế
Sản xuất nông nghiệp đã có sự tăng trưởng khá và tăng đều qua các năm, nhất là năng
suất, sản lượng các loại cây trồng, con vật nuôi sản xuất nông nghiệp về cơ bản đã đáp ứng
được nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày một tăng của đồng bào các dân tộc sinh sống trên
địa bàn. Căn cứ vào các tiêu chí: Giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng, năng suất cây trồng, vật
nuôi, sản lượng lương thực bình quân đầu người, giá trị sản xuất thu được trên 1ha. Luận án
cho rằng nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía Bắc thời gian qua bước đầu đã phát
triển theo hướng bền vững. Tuy nhiên, sự phát triển đó vẫn thiếu bền vững, cụ thể:
- Thứ nhất, Năng suất cây trồng của vùng còn thấp.
Hình 3.6: Năng suất lúa và ngô của các vùng giai đoạn 2000-2012
Nguồn: Tập hợp từ Niên giám Thống kê năm 2005, 2010, 2012
Hình trên cho thấy trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 năng suất lúa cũng như
năng suất ngô của vùng trung du miền núi phía Bắc đều còn một khoảng cách tương đối lớn
so với năng suất bình quân chung của cả nước.
- Thứ hai, Giá trị sản xuất thu được trên 1ha và 1 lao động còn thấp; giá trị sản phẩm
trồng trọt thu được trên một ha đất trồng trọt từ 25,17 triệu đồng năm 2008 tăng lên 39,91
3.3.3-Bền vững về môi trường
Bước đầu vấn đề môi trường cũng đã được các cơ quan lãnh đạo của các địa phương và
người dân chú ý giữ gìn, bảo vệ, nhất là môi trường tự nhiên. Tỷ lệ che phủ của rừng trên địa
bàn đã từ 33% năm 1993 tăng lên 48,8% năm 2010. Tuy nhiên lĩnh vực này cũng còn nhiều
tồn tại.
- Chất thải do sản xuất nông nghiệp và do con người tạo ra đã làm cho môi trường đất,
nước này càng ô nhiễm.
- Hiện tượng lở đất, rửa trôi đất, lũ quét diễn ra ngày càng nhiều, thiệt hại ngày càng
tăng.
- Hiện tượng cháy rừng vẫn còn gia tăng và chiếm tỷ trọng cao so với cả nước.
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
2000
2003
2005
2007
2008
2009
2010
Tỉnh
2000
2003
2005
2007
2009
2010
2012
1
Hà Giang
6,0
113,7
66,5
97,8
381,0
660,1
60,9
2
Cao Bằng
47,0
190,3
64,9
75,8
95,7
433,0
40,3
3
Bắc Kạn
10,2
14,5
917,9
22,9
7
Thái Nguyên
2,7
5,0
3,5
21,0
15,0
26,1
18,0
8
Lạng Sơn
268,2
544,0
85,8
251,8
144,8
164,0
51,4
9
Bắc Giang
5,8
34,2
17,2
59,0
23,9
28,1
23,3
10
103,0
548,3
72,1
14
Hoà Bình
0,1
715,0
208,0
-
5,2
53,2
25,3
15
Toàn vùng
507,9
2.814,0
1.980,4
3.059
1.124,3
4.085,4
569,9
16
Cả nước
1.045,9
5.510,6
6.829,3
5.136,4
1.658,0
6.723,3
1.324,9
21
thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhất là hệ thống tưới-tiêu, hệ thống sản xuât giống cây
trồng, vật nuôi, hệ thống sản xuất phân bón, sản xuất thức ăn gia súc, hệ thống bảo vệ thực
vật và thú y, hệ thống bảo quản và chế biến các loại nông sản.
+ Thứ hai, Chính phủ cũng đã đưa ra nhiều chương trình, cơ chế và chính sách hỗ trợ đối với
việc phát triển kinh tế-xã hội các vùng dân tộc và miền núi nói chung, phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vũng nông nghiệp, nông thôn vùng trung du miền núi phía Bắc nói riêng.
Tuy nhiên, chính sách của Đảng và Nhà nước vẫn còn một số hạn chế:
- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp chưa tốt.
- Các chương trình hỗ trợ cho vùng dân tộc miền núi còn chồng chéo, đầu tư dàn trải,
tổn thất lớn.
Về phương thức canh tác còn khá lạc hậu, sản xuất vẫn theo lối quảng canh, dựa vào
thiên nhiên và kinh nghiệm cha truyền con nối là chính.
Thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp các tỉnh vùng trung du miền núi
phía Bắc đã được hình thành và hoạt động khá mạnh mẽ. Tuy nhiên, thị trường của vùng bị
Trung Quốc chi phối khá nặng.
- Ảnh hưởng của điều kiện xã hội.
Do điều kiện địa hình phức tạp, bị chia cắt sâu, và là vùng có nhiều dân tộc thiểu số
sinh sống nhất đất nước, nên dân cư ở đây sống khá phân tán và trình độ dân trí của người
dân nhìn chung còn khá thấp. Thực trạng này đã đem lại lại cho vùng rất nhiều khó khăn
trong việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp, cũng như đối với
việc đưa nhanh các tiến bộ mới về khoa học-công nghệ ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp.
Khó khăn này là lực cản không nhỏ đối với phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của
vùng thời gian qua.
trong tổng số lao động của toàn xã hội, thì đến năm 2010 tỷ lệ đó đã được nâng lên thành
14,6%, trong đó có trên 2 triệu lao động có trình độ Đại học và trên Đại học.
- Về hợp tác quốc tế chúng ta đã có quan hệ ngoại giao và quan hệ kinh tế với trên 150
quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc mọi châu lục trên thế giới, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài chúng ta thu hút đã đạt khoảng 195 tỷ USD.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, chúng ta cũng còn nhiều khó khăn: Thiên tai, dịch
bệnh diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường ngày càng phổ biến và nghiêm trọng, tình trạng
biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng đang ngày càng trở thành mối đe doạ hiện hữu
đối với sản xuất và đời sống của người dân. Nền kinh tế nước ta cũng sẽ phải đối mặt với sự
cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường thế giới và trong nước, sự tác động qua lại và
lệ thuộc nhiều hơn vào nền kinh tế thế giới., cũng như sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro hơn
trong quá trình hội nhập và tham gia vào quá trình toàn cầu hoá.
Một khó khăn rất lớn nữa là, nền kinh tế nước ta phát triển chưa thật bền vững, chất lượng,
năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Kinh tế tuy tăng trưởng nhanh,
nhưng phương thức tăng trưởng còn lạc hậu, cơ cấu của nền kinh tế chưa hợp lý.
4.1.3-Bối cảnh của vùng
Sản xuất phát triển, thu nhập và đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn để được
nâng lên đáng kể. Điều kiện ăn, ở, đi lại, nghe nhìn, học tập, chăm sóc của người dân cũng tốt
hơn trước. Người dân có niềm tin hơn vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
23
Tuy nhiên, vùng trung du và miền núi phía Bắc cũng còn nhiều khó khăn trở ngại trong
sự phát triển. Trong đó đáng kể nhất là: cơ sở hạ tầng không đồng bộ và lạc hậu, trình độ dân
trí trong vùng còn thấp kém; nguồn lực kinh tế của các tỉnh và của người dân còn hạn chế;
địa hình chia cắt, thời tiết khắc nghiệt; sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là Trung
Quốc không ngừng gia tăng và xảo quyệt.v.v.
Những thuận lợi và khó khăn nói trên chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
phát triển theo hướng bền vững của nông nghiệp các tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc
trong những năm tới.
4.2- Những quan điểm chủ yếu cần được quán triệt trong phát triển nông nghiệp các
sang chăn nuôi lấy thịt là chính.
Tiếp tục khuyến khích người dân trên địa bàn phát triển chăn nuôi lợn, đặc biệt là chăn
nuôi theo kiểu công nghiệp và bán công nghiệp.
Tận dụng lợi thế có môi trường chăn thả rộng, có nguồn thức ăn phong phú, khuyến
khích người dân tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi các
giống gia cầm có chất lượng cao. Về hình thức chăn nuôi, nên mạnh dạn phát triển chăn nuôi
gia cầm theo kiểu công nghiệp và bán công nghiệp với mô hình trang trại hoặc doanh nghiệp.
4.3.3- Đối với ngành lâm nghiệp
Hướng chung là phải xem lâm nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của các tỉnh
24
vùng trung du miền núi phía Bắc, phải làm cho người dân ở vùng rừng có thể sống và làm
giàu được từ nghề rừng. Muốn thế, bên cạnh việc giữ vững, quản lý chặt rừng đặc dụng và
rừng phòng hộ, cần mạnh dạn giao đất rừng sản xuất cho người dân quản lý và sử dụng. Cố
gắng nâng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp toàn vùng từ 13,63 % trong tổng giá trị
nông-lâm- thuỷ sản năm 2010 lên trên 20% vào năm 2020.
4.3.4-Đối với ngành thuỷ sản
Tập trung khai thác triệt để diện tích mặt nước có ở các địa phương để phục vụ cho việc
nuôi thuỷ sản, đặc biệt là mặt nước của các lòng hồ thuỷ điện lớn như: Sơn La, Hoà Bình, Lai
Châu, Thác Bà.v.v. Trong đó cần mạnh dạn đầu tư mở rộng việc nuôi cá nước lạnh như cá
Tầm, cá Hồi.v.v, cố gắng nâng giá trị của ngành thuỷ sản trong tổng giá trị sản xuất nông-
lâm- thuỷ sản từ 2,88% năm 2010 lên khoảng 5% vào năm 2020.
4.4-Những giải pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp ở các tỉnh vùng trung du
miền núi phía Bắc theo hướng bền vững đến năm 2020.
Để thực hiện thành công định hướng phát triển nông nghiệp ở các tỉnh vùng trung du
miền núi phía Bắc theo hướng bền vững đến năm 2020 như đã đề ra, cần phải nghiên cứu và
thực thi nghiêm túc một hệ thống các giải pháp đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi.
Dưới đây là những giải pháp chủ yếu:
4.4.1-Tập trung làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn toàn vùng
25
nghiệp đi sâu vào chuyên môn hóa sản xuất, phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Đối với vùng trung
du miền núi phía Bắc cần ưu tiên phát triển các dịch vụ: thủy lợi, giống cây trồng- vật nuôi, thiết bị, vật
tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thú y; dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật
4.4.9-Mở rộng thị trường tiêu thụ các loại nông sản hàng hoá do người dân trong vùng
làm ra:đây là một yêu cầu bức xúc gắn liền với quá trình sản xuất, quan tâm củng cố và phát
triển hệ thống chợ tiêu thụ nông sản cho phù hợp; nghiên cứu cẩn trọng khi xâm nhập thị
trường Trung Quốc
4.4.10- Giải quyết có hiệu quả vấn đề an sinh xã hội cho người nông dân:Vùng này đời
sống nhân dân còn nhiều khó khăn, cần được Chính phủ và các địa phương có những chính
sách điều hòa nguồn thu từ khu vực khai thác thủy điện, khoáng sản, rừng quan tâm phát
triển sản xuất để giảm nghèo nhanh và bền vững; giải quyết căn bản nhà ở việc làm và thu
nhập cho người có công với cách mạng.
4.4.11- Mạnh dạn điều chỉnh một số chính sách đối với vùng vùng dân tộc vùng núi nói chung,
với sản xuất nông nghiệp nói riêng: như chính sách đầu tư; chính sách giao đất giao rừng, bảo vệ
rừng; đầu tư phát triển thủy điện; thuế khai thác tài nguyên khoáng sản và cơ chế điều tiết cho
vùng; chính sách biên mậu đối với Trung Quốc; chính sách đào tạo nguồn nhân lực áp dụng đặc
thù cho vùng.