BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Õ
ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TRÌNH THỦY LỢI CÁC TỈNH TRUNG DU
MIỀN NÚI PHÍA BẮC PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Bùi Hiếu
8657
Hà Nội, 10 – 2010 1
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TẠI
CÁC TỈNH TRUNG DU, MIỀN NÚI PHÍA BẮC PHỤC VỤ ĐA MỤC TIÊU
Chương 1
TỔNG QUÁT
1.1.
Tính cấp thiết, mục tiêu, ý nghĩa và nội dung của đề tài.
1.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm trước đây các
công trình thủy lợi (CTTL) được xây dựng chủ yếu phục vụ tưới, tiêu cho các loại cây
trồng. Tuy nhiên trong thực tế quản lý khai thác, ngoài cấp thoát nước cho cây trồng,
trước yêu cầu tự nhiên, cấp bách của đời sống và phát triển kinh tế
xã hội, các hệ
thống thủy lợi còn kết hợp cấp, thoát nước cho các ngành kinh tế - xã hội khác. Nhưng
hiệu quả còn kém so với yêu cầu, với tiềm năng sẵn có của các CTTL.
Các tỉnh vùng Trung du, miền núi phía Bắc (TDMNPB) có vị trí rất quan trọng
về an ninh biên giới lãnh thổ, có tiềm năng rất to lớn để phát triển kinh tế nông - lâm
nghiệp, tiêu thụ hàng hóa qua các cửa khẩu và du lịch sang nước bạn. Do vậy sự phát
tri
ển kinh tế, xã hội vùng này có tầm quan trọng đặc biệt.
Do gặp nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế nên các công
1.1.2. Mục tiêu nghiên cứ
u (đã được quy định tại bản Tổng đề cương NCKH)
9 Đánh giá được thực trạng các công trình thủy lợi vùng Trung du, miền núi
phía Bắc đáp ứng nhiệm vụ thiết kế và phục vụ đa mục tiêu so với yêu cầu mới.
2
9 Xây dựng phương pháp luận và cơ sở khoa học đánh giá hiệu quả tổng hợp
CTTL phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.
9 Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phần mềm tính toán hiệu
quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các công trình thủy lợi.
9 Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủ
y lợi phục vụ đa
mục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường tại các tỉnh Trung du, miền núi
phía Bắc.
9 Dựa trên các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của
CTTL đã được thiết lập và tiến hành thử nghiệm áp dụng tại một số hệ thống thủy lợi
đại diện để kiến nghị bổ xung vào tài liệu 14 TCN 112-2006 hướng dẫn tính toán
đánh
giá hiệu quả kinh tế dự án thuỷ lợi tưới, tiêu.
1.1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đây là vấn đề mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc đánh giá hiệu
quả, nâng cao hiệu quả phục vụ của các CTTL.
1. Mặc dù sẽ là một thử thách lớn để phát triển, tìm ra một phương pháp đánh
giá phù hợp với các thể loại, quy mô CTTL khác nhau với đối tượ
ng sử dụng nước đa
dạng, ở các miền vùng khác nhau và giải quyết mâu thuẫn giữa các hộ dùng nước với
nhau.Tuy nhiên tập thể Đề tài đã nghiên cứu đề xuất được. Phương pháp tiếp cận
đánh giá hiệu quả phục vụ đa mục tiêu của các CTTL tại Việt Nam và sơ đồ khối Bộ
khung tổng thể các bước đánh giá hiệu quả HTTL có giá trị tham khảo áp d
ụng tốt.
tình huống do các nhu cầu dùng nước ngày càng gia tăng trong khi nguồn nước đến có
chiều hướng giảm đi.
3
c) Để nâng cao hiệu quả phục vụ của CTTL ,Đề tài đề xuất cần sớm xây dựng
chiến lược quy hoạch thủy lợi phục vụ đa mục tiêu ở các quy mô khác nhau, vùng khác
nhau, và thể loại công trình khác nhau
7. Các giải pháp quản lý khai thác đã được Đề tài đã đề xuất khá đầy đủ, gồm:
Gải pháp quản lý nước, giải pháp quản lý công trình, giải pháp quản lý kinh tế,
tài chính, giải pháp về t
ổ chức quản lý công trình thủy lợi, giải pháp về chính sách
quản lý công trình thủy lợi. Trong đó nhấn mạnh một số giải pháp đặc trưng.
8. Các kết quả nghiên cứu cử Đề tài có thể tham khảo áp dụng vào thực tiễn cho
các thể loại CTTL khác, ở các miền, vùng khác .
1.1.4. Nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu.
1. Khảo sát, đánh giá được thực trạng các công trình thủy lợi vùng Trung du,
miền núi phía Bắc đáp ứ
ng nhiệm vụ thiết kế và phục vụ đa mục tiêu so với yêu cầu.
2. Xây dựng phương pháp luận và cơ sở khoa học đánh giá hiệu quả tổng hợp
CTTL phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.
3. Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phần mềm tính toán hiệu
quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các công trình th
ủy lợi.
4. Dựa trên các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của
CTTL đã được thiết lập và tiến hành thử nghiệm áp dụng tại một số hệ thống thủy lợi
đại diện để kiến nghị bổ xung vào tài liệu 14 TCN 112-2006 hướng dẫn tính toán
đánh giá hiệu quả kinh tế dự án thuỷ lợi tưới, tiêu.
5. Xây dựng phần mề
m cơ sở dữ liệu và tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của
chuyên gia, các cán bộ chuyên môn ở địa phương.
− Tiếp cận nghiên cứu các sử dụng các Phần mềm máy tính đánh giá hiệu quả
CYYL như: Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid Appraisal Process - RAP), Đánh giá
tiêu chuẩn hoạt động của hệ thống (Benchmarking process) các tổ chức
IPTRID, ICID,
FAO phối hợp với IWMI và phần mềm IMSOP của Australia.
− Tiếp cận, khảo sát các hệ thống công trình thủy lợi đã và đang hoạt động tại
các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc.
− Tiếp cận nghiên cứu, khảo sát chi tiết tại một số CTTL đại diện trong vùng
tại các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Hoàn Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc…
− Tiếp cận nguyên tắc sử dụng tổng hợp nguồn nước theo Bốn nguyên tắc
Dublin.
−
Tiếp cận mục tiêu và chiến lược phát triển thủy lợi giai đoạn đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030.
− Tiếp cận đáp ứng các nhu cầu, tiếp cận định mức sử dụng nước hiệu quả cho
các ngành.
− Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm trên thế giới và
trong nước về hiệu quả và đánh giá hiệu qu
ả các CTTL.
1.2.2. Điều tra, khảo sát, đánh giá tài liệu.
1. Thu thập, điều tra các tài liệu, phân tích đánh giá và tổng hợp tài liệu về
phương pháp, kết quả đánh giá hiệu quả tổng hợp các CTTL hiện tại đã phục vụ đa
mục tiêu (cấp thoát nước nông nghiệp, cấp thoát nước công nghiệp, cấp thoát nước
sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, phục vụ du lịch, giao thông; phòng chống và giảm nh
ẹ
thiên tai, bảo vệ môi trường ) chủ yếu tại các nước châu Á, Đông Nam Á do có các
điều kiện gần gũi với Việt Nam, các tổ chức quốc tế như FAO, ICID, IWMI.
2. Đoàn cán bộ thực hiện đề tài đi học tập, khảo sát tại Viện Quản lý nước
Quốc tế IWMI và Trung tâm Quản lý tưới Quốc tế IIMI tại nước Srilanca và các công
tưới, tiêu nước nông nghiệp so nhiệm vụ thiết kế ban đầu.
a. Phân tích, đánh giá về hiệu quả
tổng hợp các hệ thống thuỷ lợi phục vụ đa
mục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội và môi trường nông thôn: thuỷ sản, công
nghiệp, phát triển du lịch và dịch vụ, cấp nước sinh hoạt, phòng chống thiên tại vệ môi
trường.
2. Phân tích những tồn tại, khó khăn, nêu rõ những nguyên nhân làm cho CTTL
chưa phát huy được hiệu quả phục vụ đa mục tiêu.
3. Nghiên cứu đề xuất Ph
ương pháp đánh giá hiệu quả công trình thủy lợi phục
vụ đa mục tiêu cho điều kiện Việt Nam.
4. Xây dựng hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của công trình
thủy lợi và thử nghiệm áp dụng tại vùng Trung du, miền núi phía Bắc và áp dụng thử
nghiệm.
5. Xây dựng phần mềm máy tính cơ sở dữ liệu, chương trình tính toán các chỉ
tiêu đ
ánh giá hiệu quả tổng hợp, đa mục tiêu của công trình thủy lợi.
6. Đề xuất phương hướng, giải pháp về quy hoạch, thiết kế và quản lý khai thác
để Nâng cao hiệu quả tổng hợp CTTL phục vụ đa mục tiêu trên vùng trung du, miền
núi phía Bắc và áp dụng thử nghiệm tại các HTTL hồ chứa, đập dâng đại diện.
7. Tổ chức tập huấn, chuyển giao công nghệ cho một số công ty, xí nghi
ệp khai
thác CTTL trên vùng trung du, miền núi phía Bắc.
8. Báo cáo tổng hợp tổng kết các kết quả NCKH của đề tài.
lương thực, nông sản lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Thái Lan, Việt nam, Nhật Bản,
Mexico, Brazinlia, Philipin, Indonesia…ở đó, đã từ lâu thuỷ lợi - tưới tiêu nước đã
được coi là giải pháp hàng đầu trong phát triển nông nghiêp, có tác dụng quyết định
đến tăng vụ, tăng năng xuất, sản lượng các cây trồng…
2. Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước sinh ho
ạt (Domestic water supply).
- Phần lớn dân cư nông thôn sống gần cạnh các kênh mương dẫn nước của
HTTL nên họ có điều kiện thuận lợi sử dụng nước miễn phí nguồn nước từ HTTL cho
sinh hoạt gia đình, thông qua sử dụng trực tiếp nước chảy trên kênh mương, hoặc gián
tiếp thông qua các giếng nước được nguồn cung cấp nước từ các kênh mương ngấm
vào tầng đất chứa nước, nh
ất là trong mùa khô hạn, đặc biệt các vùng khan hiếm nước.
- Các hệ thống thủy lợi quy mô vừa và nhỏ thường cung cấp nước cho các nhu
cầu sinh hoạt nông thôn, các hệ thống cở lớn và trung bình còn thêm cả cấp nước cho
các khu đô thị, thị trấn, khu công nghiệp, thậm trí còn cấp nước cho các thành phố. Tại
Trung Quốc, các hệ thống thủy lợi lớn đã cung cấp 26 tỷ m
3
nước/năm cho các nhu
cầu sinh hoạt và công nghiệp (chiếm tới 15% tổng các nhu cầu nước sinh hoạt, công
nghiệp của Quốc gia này, cho hơn 200 triệu dân cư).
- Dân cư nông thôn, chủ yếu là nông dân mà nhà cửa của họ phần lớn nằm gần
cạnh các kênh mương dẫn nước của hệ thống thủy loi nên họ có điều kiện thuận lợi sử
dụng nước từ kênh mương thủy lợ
i để cho sinh hoạt gia đình, họ đã sử dụng trực tiếp
nước chẩy trên kênh mương, hoạc sử dụng gián tiếp thông qua các giếng nước được
nguồn nước cấp từ các kênh mương ngấm vào đất - tầng chứa nước, nhất là trong mùa
khô.
- HTTL Cung cấp nước cho các hộ nông dân đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa
thuộc miền đồi núi, ở đó chưa có được hệ thống cấp nước sạ
ch công nghiệp cho sinh
ng.
- Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát
nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực
tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy
lợi làm tăng mực nước ngầm. Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ
chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia c
ầm…
- Tại vùng Bình cao nguyên Texas, nước Mỹ, các nhu cầu nước nông nghiệp đã
khai thác tới 95% tổng lượng nước ngầm. Do vậy sự thay đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi với sự gia tăng ngành chăn nuôi (bao gồm vật nuôi và các cây thức ăn chăn nuôi)
đã làm giảm lượng nước cung cấp cho nông nghiệp tới 25 %,nhưng lại góp phần
chống xói mòn đất, tăng độ phì nhiêu của đất, lại tăng hiệu qu
ả kinh tế chung sản xuất.
5. Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho công nghiệp và dịch vụ ở nông
thôn (Water suplly for Rural enterprises).
- Nhiều vùng ở nông thôn chưa được xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch,
nên nguồn nước từ hệ thống kênh tưới đã cấp nước cho các hoạt động tiểu công
nghiệp, dịch vụ ở nông thôn như chế biến nông sản, sản xuất g
ạch ngói và vật liệu xây
dựng, chế biến thực phẩm, các nhà hàng ăn uống,…
6. Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho thủy điện và giao thông thủy
(Hydropower generation and navigation).
Những năm trước đây, một số hồ đấp thủy lợi và nhiều bậc nước trên kênh
mương được tận dụng để phát triển thủy điện, nhưng giảm dần cùng với s
ự phát triển
của mạng lưới điện quốc gia (bao gồm nhiệt điện và các trạm thủy điện lớn). Về giao
thông thủy trên các HTTL hiện nay cũng giảm dần do sự phát triển mạnh mẽ của mạng
lưới giao thông đường bộ. Tuy nhiên tại nhiều vùng ở Campuchia, Philippin, Thái Lan,
Malaysia và vùng đồng bằng sông Mê Kông của Việt Nam, các hệ thống kênh
nguồn nước ngầm.
- Cải thiện tiểu khí hậu (Climate adjustment).
Sự bốc thoát hơi nước từ các cánh đồng lúa rộng lớn có tác dụng làm giảm nhiệt
độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào mùa đông lạnh giá.
Đặc biệt ở các vùng lân cận các hồ chứa thủy lợi có khí hậu luôn mát mẻ trong mùa hè
và ấm áp trong mùa đông, chính vì vậy mà nhiều khu vực có hồ chứa và hồ chứa nước
th
ủy lợi được kết hợp xây dựng các khu du lịch.
- Tác dụng làm sạch nước của các hệ thống thủy lợi (Water purification)
Khối lượng nước trên các cánh đồng lúa có tác dụng làm tăng tính hấp phụ của
đất đối với các kim loại nặng và làm tăng khả năng vận chuyển chất hữu cơ của nó,
Các cánh đồng lúa như là các vùng đất ướt nhân tạo có tác dụng chuyển hóa các
nguyên tố Nitogen và Photpho có lợi cho đất và cây trồ
ng. Tỷ lệ khử Nitogen này là từ
0.02 đến 0.8 g/m2/d.
Các lượng bùn cát lắng đọng trên kênh mương trong quá trình chuyển nước và
bùn cát lắng đọng trên các cánh đồng lúa tưới ngập đã có tác dụng làm sạch nước
(trong hơn) và còn cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây trồng phát triển, cải tạo đất
thoái hóa.
8 - Bảo tồn đa dạng sinh học nhờ các HTTL (Conservation of Biodiversity)
Các HTTL cấp, thoát nước và điều hoà dòng chẩy, cải tạo đất đã có tác dụng rõ
rệ
t để giữ gìn, phát triển các loại cây trồng, quần thể cây tự nhiên, các động vật, sinh
vật trên khu vực để bảo tồn đa dạng sinh học.
9. Giá trị du lịch sinh thái và giải trí của các hệ thống thủy lợi.
Nhiều hệ thống thủy lợi, nhất là các hồ chứa nước đã là nơi du lịch sinh thái,
giải trí rất tốt do cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, nguyên sơ, do khí hậu ôn hòa, do bản
thân các công trình c
ủa hồ chứa được thiết kế xây dựng đẹp.
ệt Nam
2.2.1. Các thành tựu chung.
Những thành tựu do thủy lợi đạt được như sau:
Năm 1945 cả nước mới có 13 hệ thống thủy nông vừa và lớn tập trung ở các
tỉnh Trung du, đồng bằng Bắc bộ, khu 4 cũ, Duyên Hải miền Trung cùng với một số
kênh lạch tạo nguồn ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng năng lực tưới mới đạt
324.900 ha, tiêu mới đạt 77.000 ha. Tính đế
n nay cả nước đã xây dựng được gần 100
hệ thống thủy nông vừa - lớn và hàng nghìn công trình thủy lợi nhỏ, trong đó có:
- Trên 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu m
3
nước hoặc có đập cao trên 10
m hoặc công trình xả lũ trên 2000 m
3
/s (phân loại theo tiêu chuẩn của IOCLD). Với số
lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới sau Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản,
Tây Ban Nha, Canada, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Pháp, Nam Phi, Mêxico, Italia,
Anh. Trong số hồ đập lớn trên có: 72 hồ đập có dung tích trên 10 triệu m
3
, 41 hồ đập
có dung tích trên 20 triệu m
3
.
- Trên 2000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất lắp máy về tưới là 250
MW, tiêu là 300 MW để tiêu úng vụ mùa cho 1,5 triệu ha ruộng và 0,5 triệu ha đất tự
nhiên (làng mạc, đường sá, thành thị )
- Trên 5000 cống tưới tiêu lớn và vừa được xây dựng trên các sông lạch, kênh
trục cũng như dưới các đê sông, đê biển.
2.2.2. Các công trình thủy lợi ở nước ta đã mang lại hiệu quả to lớn,nổi bật.
Hiến, Hàm Tử, Bãi Sậy ).
3. Công trình thuỷ lợi phục vụ phát tri
ển công nghiệp, thủy điện và dịch vụ.
Vùng ĐBSH có nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển công nghiệp nên đã phát
triển trở thành vùng công nghiệp chủ yếu của đất nước với các khu công nghiệp quy
mô tại Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên với các
ngành sản xuất đa dạng và phong phú như:
Các công trình thuỷ lợi (CTTL) đã trực tiếp hoặc gián tiếp cung c
ấp nước cho
phát triển công nghiệp, tiểu công nghiệp, các làng nghề như: kênh mương thuỷ lợi
cung cấp một phần nước sản xuất cho các xí nghiệp, cung cấp nước cho công nhân
sinh hoạt (trực tiếp hay gián tiếp làm tăng nước ngầm trong các giếng), phần lớn các
làng nghề ở nông thôn đều nhờ hệ thống thuỷ lợi cấp và thoát nước. Các làng nghề,
khu công nghiệp nhỏ tại các tỉnh Phú thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, B
ắc Ninh, Thái
Bình, Hà Nam, Nam Định, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng Cũng được hệ thống thuỷ
lợi cấp, thoát nước toàn bộ hoặc một phần (trực tiếp hay gián tiếp).
Nhiều công trình hồ chứa thuỷ lợi đã kết hợp cấp nước cho thuỷ điện như các
hồ: Cúa Đạt, Núi Cốc, Cấm Sơn, Khuôn Thần, Tà Keo, Yazun hạ,
4. Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển sản xuất mu
ối.
Các hệ thống thuỷ lợi đã đòng vai trò rất quan trọng cho việc sản xuất muối:
Như kênh mương dẫn lấy nước biển vào các cánh đồng sản xuất muối Hệ thống đê và
kênh mương thuỷ lợi đã phóng nước ngọt, ngăn ngừa nước lũ tràn vào đồng muối phá
hoại các công trình nội đồng, còn tiêu thoát nước mưa và nhanh chóng tháo tách nước
ót ra khỏi đồng muối.
11
Thực tế đã chứng minh công tác cải tạo lại các hệ thống thuỷ lợi đồng muối là
điều kiện để tăng năng xuất, sản lượng muối.
và đông Nam bộ, khu Bốn cũ còn cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho việc
trồng rừng nhất là các hồ chứa ở trên vùng cao: dùng làm nước tưới cho cây vườn ươm
lâm nghiệp và cung cấp nướ
c bảo vệ rừng như để dập lửa khi xảy ra cháy rừng. Hệ
thống thuỷ lợi phục vụ phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn.
8. Hệ thống thuỷ lợi phục vụ giao thông.
Các bờ kênh mương, nhiều mặt đập dâng, đập hồ chứa, cầu máng được tận
dụng kết hợp giao thông đường bộ. Giao thông thủy tận dụng kênh mương
được phát
triển mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
9. Các CTTL có vai trò quan trọng phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường
a. CTTL phòng chống úng ngập
Cùng với bão lụt, mưa lớn cũng thường gây ra úng ngập nghiêm trọng cho
nhiều diện tích đất canh tác và làng mạc ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ - những
vùng trũng ở đồng bằng Bắc bộ như Nam Định - Hà Nam trước đây khi chưa có 6 trạm
b
ơm lớn Cổ Đam, Cốc Thành, Vĩnh Trị, Hữu Bị, Nhâm Tràng, Như Trác, thì cả
vùng này là vùng “chiêm khê, mùa thối” vụ mùa chỉ cấy được 4% diện tích đất canh
tác. Nhưng sau khi xây dựng được 6 trạm bơm trên đã tiêu cho 8 vạn ha, tưới cho 6,1
vạn ha lúa 2 vụ, là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải tạo và phát triển môi trường sinh
thái, cải thiện đời sống nhân dân và bộ mặt xã hội của vùng.
12
Ở vàng Đồng bằng sông Cửu Long, các công trình thủy lợi thoát lũ ra biển Tây
đã góp phần tránh lũ sớm cho hàng trăm nghìn ha gieo giống và cho khu vực dân cư
khu vực Tứ giác Long Xuyên
Các công trình thủy lợi đặc biệt là hồ chứa ngoài các nhiệm vụ ở trên còn có
nhiệm vụ phòng chống lũ cho hạ lưu. Điều tiết nước, tích nước trong mùa lũ để bổ
sung cho mùa kiệt, chống lại hạn hán đảm bảo
đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
b. Khí hậu:
Nhìn chung khí hậu vùng núi phía Bắc rất khắc nghiệt và thay đổi phức tạp,
giữa mùa nóng và mùa lạnh, giữa ngày và đêm có sự chênh lệch ảnh hưởng rất lớn đến
môi trường sinh thái và sản xuất nông nghiệp.
+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16
0
C ở vùng cao 10
0
C ÷
12
0
C, mùa hè tháng nóng trên 26
0
C, vùng núi cao 20
0
C ÷ 22
0
C.
+ Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ 650 ÷
1000 mm/năm Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 3: 250 mm/tháng so với
100mm /tháng của Lai Châu, Sơn La vào tháng 2 và tháng 3.
+ Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm là 82% ÷ 85 %, độ ẩm lớn nhất 85% ÷ 90% và
thấp nhất 70% ÷ 75%.
+ Chế độ mưa: Lượng mưa năm bình quân 2000 ÷ 2500(mm/năm), thấp nhất
1200
÷1600mm, cao nhất 2500 ÷ 3000(mm/năm). Mưa ở Tây Nguyên tăng dần từ
13
vùng thấp lên vùng cao. Các sườn núi có hướng đón gió tăng rõ rệt từ 2600 ÷ 2800
(mm/năm), vùng khuất gió lượng mưa đạt 1200 mm/năm. Lượng mưa phân bố không
- Tính chất đất đai thổ nhưỡng:
Địa hình miền núi rất phức tạp, chênh lệch về cao độ rất l
ớn, sông suối, đồi núi
cắt vùng núi ra thành từng khu nhỏ độc lập. Diện tích canh tác phân tán, đất trồng trọt
đã bị thoái hoá nhiều. Tình trạng bạc mầu, chua, lầy thụt khá phổ biến.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy đất đai vùng đồi núi phía Bắc rất đa dạng và
phức tạp thể hiện rõ nhất là quá trình tích luỹ mùn và quá trình Gralit, ngoài ra còn có
các quá trình Macgalit và Sialit.
2.3.2. Đặc điểm các công trình thuỷ lợi vùng miền núi, trung du phía Bắc
Các hệ
thống thủy lợi ở miền núi lại có tầm quan trọng đặc biệt vì nó góp phần
quyết định vào việc khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế ở miền núi, bảo vệ rừng
đầu nguồn, chống xói mòn đất, phòng chống lũ lụt cho hạ lưu.
Ngoài ra, các hệ thống thủy lợi vùng đồi núi có ý nghĩa rất lớn trong việc giải
quyết nạn du canh du cư, phá rừng, đồng thời cũ
ng đóng góp rất lớn trong chiến lược
phân bố dân cư trên lãnh thổ của Nhà nước.
Đặc điểm hệ thống: Trên cơ sở các đặc điểm địa hình và nguồn nước đã trình
bày ở trên, các hệ thống thuỷ lợi vùng đồi núi sẽ có nhữngđặc biệt riêng của nó so với
các vùng khác như vùng trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển.
1) Hệ thống thủy lợi miền đồi núi hầu hế
t là hệ thống quy mô nhỏ nhỏ có công
trình đầu mối (CTĐM) là hồ chứa, đập dâng hoặc cống lấy nước tự chảy, có nhiều
trạm thủy điện loại vừa, loại nhỏ và trạm thủy luân phụ trách diện tích tưới từ vài chục
14
hecta đến vài trăm hecta, hầu hết là các công trình tạm, năng lực phục vụ kém, thời
gian phục vụ của công trình ngắn, chẳng hạn đến năm 2008:
- Tỉnh Tuyên Quang có tới trên 2500 công trình hồ chứa, đập, phai nhỏ và rất
nhỏ đảm bảo diện tích từ và ha đến hai, ba, bốn chục ha.
hiệu quả sử dụng CTTL, mặt khác kênh mương thường chạy men theo sườn núi, xa nơi
dân cư không được bảo vệ, sửa chữa thường xuyên nên lòng kênh bị đất đá bồi lấp,
mái kênh bị sạt lở do lũ quét từ trên sườn dốc vì vậy năng lực phục vụ của hệ thống
kênh rất thấp.
7) Hệ thống th
ủy lợi hồ chứa, đập dâng ngoài nhiệm vụ cấp nước tưới, phòng
chống lũ còn phải phục vụ nhiều mục đích khác nhau, cấp nước sinh hoạt, cấp nước
cho trạm thủy điện, cho thủy điện nhỏ gia đình hoặc cối giã gạo. Vì vậy kênh mương
bị xẻ bờ lấy nước một cách tự phát, không theo qui hoạch. Do vậy Năng lực công trình
đầ
u mối và hệ thống kênh mương thường bị nhỏ so với yêu cầu cấp nước hiện tại.
8) Hầu hết các hệ thống thủy lợi ở miền đồi núi chỉ giải quyết vấn đề cấp nước
cho tưới cây trồng là chủ yếu vì vậy chưa có hệ thống tiêu thoát nước hoàn chỉnh,
chưa có những công trình ngăn lũ để bảo vệ kênh mương và công trình trên hệ
thống.
9) Chưa có qui hoạch hợp lý và thực hiện các giải pháp phòng chống lũ lụt, lũ
quét, hệ thống chống xói mòn, rửa trôi đất để bảo vệ CTTL hồ chứa và vùng hưởng
lợi. Gây ra lượng bùn cát bồi lắg lòng hồ lớn trên tỷ lệ cho phép làm giảm dung tích
nước sử dụng hữu ích.
10) Hệ thống còn thiếu nhiều các công trình bảo đảm an toàn như công trình
tràn sự cố hồ chứa n
ước đường tràn bên của kênh, công trình chống bồi lấp và xói
mòn trên kênh…
11) Hầu hết các công trình thủy nông đều đã đạt được xây dựng trên 20 năm,
chưa có điều kiện tu bổ nâng cấp do thiếu vốn, các hạng mục sửa chữa chắp vá và chịu
15
tác động mạnh của thiên nhiên và con người nên xuống cấp rất nhanh, năng lực giảm
sút, thường chỉ đạt từ 50 ÷ 70% năng lực thiết kế.
12) Các công trình tạm rất phổ biến ở miền núi, với số lượng lớn, chủ yếu.
công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch, lâm nghiệp và phát điện như:
1. Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển trồng trọt
Hệ thống công trình thủy lợi có tác động rất lớn, thực hiện được vai trò biện
pháp hàng đầu phát triển ngành trồng trọt, nhờ có công trình thuỷ lợi đã làm tăng đáng
kể năng suất, tăng vụ, góp phần phát triển đa dạng hóa sản xuất và tăng sản lượng
cây trồng, vật nuôi. Nhìn chung nhờ các công trình thủy lợi mà hệ số quay vòng ruộng
đất nâng từ 2 lên 2,5 lần, năng suấ
t lúa được tăng lên: Vụ chiêm xuân đạt 5,03
÷
6
tấn/ha, vụ mùa đạt 4
÷
5 tấn/ha và ngô đông đạt 5
÷
6 tấn/ha, khoai tây 11
÷
14 tấn/ha,
đậu tương từ 5,4
÷
13 tạ/ha, chè tăng từ 29
÷
41 tạ/ha.
Bắc Kạn là tỉnh miền núi rất nghèo nhất miền Bắc, nhưng nhờ có các công trình thủy
lợi nên diện tích tưới được mở rộng, đạt tưới chắc 85% đất canh tác canh tác được hai vụ
lúa, sản lượng lúa tăng từ 5 tấn lên 8 tấn/ha/năm.
Yên Bái là tỉnh miền núi khó khăn, do có CTTL được đảm bảo nước tưới chắc
cho gần 80% đất canh tác nên trồng cấy được c
ả 2 vụ ổn định, các cây trồng đều tăng
cả về diện tích, năng suất sản lượng (NX lúa tăng từ 6 lên 9 tấn/ha/năm, NX ngô vụ
năng lực thiết kế đặt ra như ở tỉnh Lào Cai, vụ mùa đảm bả
o từ 70 - 73% diện tích, vụ
Đông – Xuân 80 - 85% so với năng lực thiết kế; tỉnh Hà Giang, tổng diện tích lúa được
tưới cả năm đạt 69,1%; tỉnh Tuyên Quang diện tích CTTL đảm bảo tưới 75% DTTK;
tại Vĩnh Phúc đạt 80 - 85%; Lạng Sơn đạt 75%; Cao Bằng đạt 70%; Bắc Giang đạt
70% và Thái Nguyên đạt 65 - 70% DTTK. Trung bình toàn vùng các CTTL mới đảm
bảo 70% - 75% năng lực thiết kế theo nhiệm vụ.
2. Hiệu quả CTTL phục vụ chăn nuôi gia súc, gia c
ầm, thuỷ cầm.
Hệ thống thủy nông còn là môi trường, là nguồn cung cấp nước và tiêu thoát
nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực
tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy
lợi làm tăng mực nước ngầm. Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ
chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ
gia súc, gia cầm,…
Tỉnh Tuyên Quang: Hệ thống thủy lợi cấp nước cho trại chăn nuôi Bò Phú Lâm
với quy mô trên 3.000 con, cho trại Bò Hoàng Khai, (khoảng 300 ÷ 400 con).
Hệ thống kênh mương còn là nơi cho trâu, bò ra uống nước và tắm rửa trực tiếp,
do vậy một số hệ thổng thuỷ lợi ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn còn
được xây dựng bến xuống tắm cho gia súc.
Với gia cầm được chăn nuôi chủ
yếu ở quy mô nhỏ, hộ gia đình, hầu như tận dụng
nước mặt từ kênh mương chẩy vào các ao, đầm (được đào mới hay có sẵn), hoặc nước từ
hệ thống kênh mương làm tăng mực nước ngầm để rồi được lấy phục vụ chăn nươi.
Lợi dụng mặt nước kênh mương để chăn thả vịt,ngan, ngỗng hay tháo nước từ
kênh mương vào các ao chăn nuôi thủy cầm.
17
Nước từ các hệ thống thủy lợi còn được dùng để tưới cho các đồng cỏ, cây thức ăn
b) Tình hình thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh:
Tỉnh Bắc Giang: có khoảng 70 hồ chứa có mặt nước lớn với tổng diện tích
4.973ha, hiện nay có 3.614ha đã được đưa vào thả cá. Hồ Cấm Sơn Bắc Giang thực
hiện nuôi cá ngay tạ
i mặt hồ đạt sản lượng 400-500 (tấn/năm).
Các hệ thông thủy lợi còn cung cấp nước cho ruộng trũng một vụ chuyển sang
nuôi thuỷ sản là 1.503, ha. Quy hoạch nuôi cá ruộng trũng được cấp nước từ các CTTL
của tỉnh trên 5.000ha.
Tỉnh Lạng Sơn có khoảng 251 hồ chứa với tổng diện tích mặt nước 1200 ha,
hiện nay hầu hết các hồ chứa này đều được đư
a vào thả cá.
Tỉnh Thái Nguyên: Hồ Núi Cốc có khoảng 330,6 ha diện tích nuôi trồng thuỷ
sản với sản lượng 800 (tấn/năm)
Tỉnh Tuyên Quang: Toàn tỉnh có 2.050 ha mặt nước hồ, ao để nuôi thả cá. Tổng
số 472 hồ chứa và các ao gia đình khoảng 934 ha chủ yếu lấy nước từ kênh mương
18
thủy lợi. Hệ thống hồ Ngòi Là có diện tích mặt nước trên 50 ha đã được nuôi trồng
thuỷ sản, hệ thống kênh mương của hồ Ngòi Là còn cung cấp nước vào gần 200 ao, hồ
gia đình được đào cạnh kênh mương để lấy nước, năng suất bình quân đạt 5tấn/ha
Tỉnh Vĩnh Phúc: Đang hoàn thành dự án quy hoạch thủy lợi gần 6.000ha vùng
ruộng lúa trũng kết hợp nuôi trồ
ng thuỷ sản. Hệ thống Liễn Sơn cung cấp nước cho trại
thủy sản của tỉnh và nhiều ao, hồ nhỏ nằm rải rác trên hệ thống.
Hồ chứa Xạ Hương cung cấp nước cho liên doanh nuôi cá Trình để xuất khẩu.
Hồ Đầm Bài - huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình: có khoảng 50 ao dọc trên kênh
tưới lấy nước để nuôi cá. .Tại các tỉnh nêu trên các kênh mương thủy lợi còn làm
nhiệm vụ
tiêu thoát nước cho các khu nuôi trồng thủy sản, hoặc dùng nước thải từ thủy
sản, từ chăn nuôi để tiếp tục tưới ruộng.
Tại tỉnh Thái Nguyên: Hồ chứa Núi cốc cung cấp nước cho Khu Gang Thép với
lưu lượng 6 m
3
/s, cho nhà máy Cán thép Gia Sàng 0,7 (m
3
/s), cơ khí Phổ Yên, Gò
Đầm với lưu lượng 0,4 m
3
/s, cấp nước sinh hoạt cho một phần TP. Thái Nguyên với
lưu lượng 0,1 m
3
/s.
Tại Bắc Giang: thuỷ lợi cung cấp nước cho một phần của nhà máy phân đạm,
Hà Bắc là 36.974 triệu m
3
/năm với tần suất bảo đảm 95%. Cấp nước cho nhà máy
Parium: 109.500m
3
/năm. Cấp cho xí nghiệp gạch Tân Xuyên: 200.000m
3
/năm 19
Hình 2.3. Khu nuôi trồng thủy sản tại
Vĩnh Phúc được HTTL cấp nước
Hình 2.4. Trại giống thủy sản Lào Cai lấy
nước từ kênh mương thuỷ lợi
Hình 2.5. Trại giống thuỷ sản lấy nước
từ kênh đập dâng 19/5 Yên Bái
20
Hình 2.7. Hồ chứa Khuôn Thần, Bắc
Giang kết hợp với du lịch sinh thái
Hình 2.8. Lòng hồ Quang Minh, Hà
Giang kết hợp du lịch sinh thái Hình 2.9. Hồ Núi Cốc – Thái Nguyên Hình 2.10. Hồ Ngọc – Hoà Bình
Hình 2.11. Sân Golf và hồ Xạ Hương – Vĩnh Phúc
6. Công trình thuỷ lợi phục vụ thủy điện của tỉnh Miền núi, trung du phía Bắc
Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển ngành thủy điện: Do hệ thống lưới điện
quốc gia đã và đang phát triển mạnh nên toàn bộ người dân tại các thị trấn, thị xã và
thị tứ đều được sử dụng lưới điện quốc gia. Chỉ có một số nơi mạng lưới điện quốc gia
chưa kéo đến
được thì người dân các thôn bản mới sử dụng các dốc nước trong kênh
để đặt các trạm thuỷ điện nhỏ. Tuy nhiên một số hồ chứa đã kết hợp phát triển thủy
điện, như các hồ Thác Bà, Cấm Sơn, Núi Cốc, Khuôn Thần, Khuẩy Lái… Kênh chính
của hệ thống đập dâng 19 tháng 5 - Nghĩa Lộ cấp nước cho trạm thủy điện nhỏ với
công xuất 84 kw.
Tỉnh L
ạng Sơn không có công trình thuỷ điện riêng biệt mà ở dạng công trình thuỷ
lợi kết hợp phát điện. Tính đến nay toàn tỉnh đã có 21 trạm thuỷ điện nhỏ công suất trạm
từ 5 đến 200 KW. Tổng công suất lắp đặt là 672KW.
21
Tỉnh Cao Bằng có trạm thủy điện nhỏ lấy nước từ kênh tại huyện Hòa An.
Tỉnh Quảng Ninh: Hệ thống Hồ Yên Lập còn kết hợ
p cấp nước sinh hoạt cho
khoảng 30 vạn dân của Hoành Bồ, hồ cấp gần 5.000 (m
3
/ngày – đêm) cho nhà máy
nước Quảng Yên.
Các CTTL ở Sơn La Cấp nước sinh hoạt cho gần 6,3 vạn đồng bào vùng cao,
nước sạch cho 1,8 vạn dân vùng nông thôn.
22
Hình 2.15. Hệ thống thuỷ lợi cấp nước
sinh hoạt cho người dân
Hình 2.16. Nước trên kênh 19/5 Nghĩa Lộ –
Yên Bái để sinh hoạt
8.Công trình thuỷ lợi phục vụ giao thông
a. Giao thông đường bộ
Tình hình chung: Tại các tỉnh miền núi hệ thống kênh mương thường có mặt cắt
ngang nhỏ, lại qua địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên các bờ kênh mương thường nhỏ
chỉ có thể phục vụ giao thông bộ cho các phương tiện vận chuyển nhỏ và thô sơ .
Việc kết hợp công trình thuỷ lợi để giao thông (như cầu máng, cầu trên đập, )
vẫn được thực hi
ện nhưng ngành thuỷ lợi không thu được lệ phí.
Hình 2.17. Cầu máng kết hợp giao thông
Hình 2.18. Bờ kênh kết hợp giao thông
Hình 2.19. Đập dâng 19 tháng 5 -
Yên Bái kết hợp giao thông, cấp nước sinh
hoạt
nghiệp Lào Cai – Cam Đường, khu công nghiệp Nà Toỏng…
10. Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển lâm nghiệp
Các công trình thuỷ lợi tại các tỉnh Miền núi, Trung du phía Bắc nêu trên còn
cấp nước, giữ ẩm cho các vườn ươm cây, cho việc trồng rừng nhất là các hồ chứa ở
trên vùng cao: dùng làm nước tưới cho cây vườn ươm lâm nghiệp và cung cấp nứơc
bảo vệ rừng như để dập lửa khi xảy ra cháy rừng.
Hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn
11. Công trình th
ủy lợi có tác động tích cực đến môi trường
Nhìn chung các CTTL đã tác động tích cực đến môi trường sinh thái, đặc biệt
là tại các khu vực có tưới hoặc gần các hồ chứa
Các HTTN còn có tác dụng phòng chống thiên tai, lũ lụt như cắt lũ, tiêu thoát
nước cho cho các tỉnh vùng đồi núi, trung du phía Bắc.
a) Tác động đến môi trường nước
CTTL đã tác động tích cực đến môi trường nước, vì công trình thủy lợi điều tiết
nước giữa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chả
y kiệt. Bổ sung cho nước
ngầm, tác dụng này được thể hiện rõ ràng hơn ở những vùng cao. Nước từ cá kênh
mưong và nước tưới từ ruộng lúa ngấm xuống làm tăng nước ngầm
b) Tác dụng đến môi trường đất
Tất cả các CTTL không gây xói mòn đất, giúp cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm
cần thiết để không bị bạc màu, đá ong hoá, còn cải tạo đất,mở rộng di
ện tích canh tác.
c. Tác dụng đến tiểu khí hậu khu vực
Sự bốc thoát hơi nước từ các cánh đồng lúa rộng lớn có tác dụng làm giảm nhiệt
độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào mùa đông lạnh giá.
Các hồ chứa đều có tác động tích cực cải tạo điệu kiện vi khí hậu của một vùng. Làm
tăng độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vậ
t chống xói mòn, rửa