Điều Tra Đánh Giá Các Mô Hình Rừng Trồng Cung Cấp Gỗ Lớn Làm Cơ Sở Lựa Chọn Loài Cây Trồng Rừng Gỗ Lớn, Mọc Nhanh Ở Các Tỉnh Trung Du Miền Núi Phía Bắc (Tây Bắc Và Trung Tâm) - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------

DƯƠNG THỊ DUNG

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH RỪNG TRỒNG CUNG CẤP
GỖ LỚN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG GỖ
LỚN, MỌC NHANH Ở CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(TÂY BẮC VÀ TRUNG TÂM)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2010


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------

DƯƠNG THỊ DUNG

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH RỪNG TRỒNG CUNG CẤP
GỖ LỚN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG GỖ
LỚN, MỌC NHANH Ở CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(TÂY BẮC VÀ TRUNG TÂM)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
D1..3

Đường kính ngang ngực

D0

Đường kính gốc

FAO

Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương
thực, nông nghiệp của Liên hiệp quốc)

Hvn

Chiều cao vút ngọn

KHCN

Khoa học công nghệ

KTLS

Kỹ thuật lâm sinh

LN


VKHLNVN

Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam

∆H

Tăng trưởng bình quân chung về chiều cao

∆D

Tăng trưởng bình quân chung về đường kính

Hbq

Chiều cao trung bình

Dbq

Đường kính trung bình

MĐHT

Mức độ hoàn thành



Mật độ

ĐDTĐ


Các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhừm mục đích phát
triển các giải pháp kỹ thuật và kinh tế-xã hội để thiết lập rừng trồng gỗ lớn
cho nguyên liệu đồ mộc. Trong các mô hình nghiên cứu đó, các loài cây đã
được khảo nghiệm cùng với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp. Mục

1


tiêu cụ thể của các hoạt động nghiên cứu là xác định được những loài và tổ
thành loài hỗn giao thích hợp nhất cho việc thiết lập rừng trồng gỗ lớn, mọc
nhanh cho các dạng lập địa ở vùng sinh thái. Các khảo nghiệm được đánh giá
dựa trên các tiêu chí cụ thể sau đây đối với mỗi loài và biện pháp thiết lập: (i)
tốc độ sinh trưởng (H, D, V); (ii) Hình thân (dáng cây); (iii) Khả năng tự tỉa
cành, (iv) Kiểu sinh trưởng (biểu hiện đỉnh sinh trưởng, phản ứng với ánh
sáng, với thổ nhưỡng); (v) sinh lực cây, tính chống chịu, (vi) Cấu trúc tán,
(vii) Phản ứng trong hỗn giao, (viii) Khả năng tái sinh, (ix) Tính chất cơ lý
hoá gỗ, (x) Tính chất công nghệ của gỗ.
Các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đều được xuất phát từ các yêu
cầu thực tế sau đây:
- Ngành công nghiệp chế biến gỗ (đặc biệt là đồ mộc) Việt Nam đang
phát triển với tốc độ rất nhanh và đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu
khoảng 2,5 tỷ US$, nhưng đáng tiếc lại phải nhập 80 gỗ nguyên liệu.
- Khả năng cung cấp gỗ từ rừng tự nhiên ngày càng giảm, trong những
năm trước 2000, sản lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên của Việt Nam trung
bình khoảng 2 triệu m3 gỗ tròn mỗi năm, giảm xuống 0,7 triệu m3 vào năm
2000 và 0,3 triệu vào năm 2003; hiện nay con số này chỉ còn khoảng 0,2 triệu
m3/năm.
- Việt Nam có trên 5 triệu ha rừng nghèo kiệt với sản lượng bình quân
chỉ 30-90 m3/ha, trong đó ít nhất có 2-3 triệu ha rừng sản xuất có khả năng cải
tạo thành rừng sản xuất thâm canh gỗ lớn. Cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt

m3/ha/năm) để sản xuất gỗ lớn (có đường kính trên 25 cm ) với luân kỳ kinh
doanh tối đa là 30 năm. Rừng trồng thương mại gỗ lớn mọc nhanh có thể
được thiết lập ở quy mô lớn do các công ty đầu tư hoặc một liên kết nhiều khu
rừng quy mô nhỏ đến vừa của các chủ rừng nhỏ”.
Vì các lý do này, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của
mình là: “Điều tra, đánh giá các mô hình rừng trồng cung cấp gỗ lớn làm cơ
sở lựa chọn loài cây trồng rừng gỗ lớn, mọc nhanh ở các tỉnh trung du miền
núi phía bắc (Tây bắc và trung tâm)”

3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ngoài nước
Trồng rừng là một nhiệm vụ quan trọng ở các nước nhiệt đới vì hai lý
do: để tái lập lại các hệ sinh thái rừng (HSTR) đã bị thoái hoá và để đáp ứng
các nhu cầu về gỗ ngày càng tăng trong khi gỗ rừng tự nhiên ngày càng cạn
kiệt. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức được sự cấp thiết này. Các số
liệu tổng kết của FAO đã cho thấy, ngày nay trên toàn thế giới có khoảng 135
triệu ha rừng trồng công nghiệp bằng các loài cây mọc nhanh đã được thiết
lập, khoảng 75% diện tích rừng trồng tập trung tại các vùng ôn đới, 25% diện
tích tập trung ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, khoảng 5% diện tích ở
vùng Châu Phi và gần 10% diện tích rừng trồng tập trung ở vùng Châu Mỹ –
La tinh, 20% diện tích tập trung ở các nước thuộc Liên bang Xô Viết (cũ), còn
lại khoảng 25% diện tích tập trung ở các nước vùng Châu á - Thái Bình
Dương và Châu Âu ( Gautier, 1991; Kanowski & Savill, 1992). Hàng năm có
khoảng từ 0,8 – 1, 2 triệu ha được trồng mới (FAO, 1993).
Tuy nhiên trồng rừng nhằm mục đích gì, thiết lập rừng trồng như thế
nào và rừng trồng sẽ phát triển ra sao thì lại rất ít được quan tâm. Nhiều diện

kiện nước ngầm quá cực đoan. Trồng rừng ở các lập địa này chỉ có thể thành
công nếu loại bỏ được các yếu tố không thuận lợi cho quá trình sinh trưởng
của cây rừng, ví dụ phải có hệ thống tưới nước hoặc thoát nước, phải bón
phân hoặc cải tạo đất, hoặc có thể tìm được loài cây nhập nội thích nghi được
với các điều kiện lập địa cực đoan. Các biện pháp này thường rất tốn kém và
ít khi được sử dụng trong lâm nghiệp. Do đó ở những lập địa mà tự nhiên đã
không có rừng thì không nên chọn để trồng rừng.
Để một dự án trồng rừng thành công, trước hết phải loại bỏ được các
yếu tố cản trở sinh trưởng của cây trồng. Rất nhiều dự án trồng rừng đã bị thất
bại chỉ vì không chú ý đến luận điểm hiển nhiên này. Tuy nhiên, xác định

5


được các yếu tố quyết định để bảo đảm cho cây rừng phát triển dễ dàng hơn
nhiều so với loại trừ chúng. Các lợi ích hợp pháp của những người sử dụng
đất truyền thống phải được tính đến một cách hợp lý. Khi yêu cầu cơ bản này
đã thoả mãn, chúng ta có thể bắt đầu một kế hoạch trồng rừng. Các biện pháp
kỹ thuật quan trọng đầu tiên cho trồng rừng là: chọn loài cây thích hợp, sản
xuất cây giống, chuẩn bị đất, xác định các kỹ thuật trồng rừng và các biện
pháp nuôi dưỡng và quản lý rừng trồng.
Để phục vụ kinh doanh, sản xuất rừng hiệu quả cả về môi trường sinh
thái và kinh tế một cách bền vững. Điều này đòi hỏi phải có biện pháp điều
chế rừng một cách hợp lý. Vì vậy, việc nghiên cứu sinh trưởng, sản lượng
rừng nhằm đánh giá được năng suất rừng và hiệu quả kinh tế cũng như sinh
thái của việc trồng rừng là việc làm quan trọng nhất trong việc điều chế rừng.
Appanah, S. và Weiland, G (1993) đã xuất bản quyển sách “Planting
quality timber trees in Peninsular Malaysia-a review đã tổng quan những kinh
nghiêm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, tiến trình lịch sử và cuộc tranh
luận lớn về quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng, bao gồm cả những sai lầm về

tác động tổng hợp nhất định của lập địa để thỏa mãn các điều kiện sống của
nó. Các nhân tố lập địa có thể tác động đến sinh trưởng của cây rừng với
nhiều mức độ khác nhau từ tối thiểu đến tối đa; ở cả hai cực tối đa và tối
thiểu, cây rừng đều sinh trưởng không tốt do nó bị tác động quá nhiều hoặc
quá ít. Trong điều kiện không có sự tác động của con người, thảm thực vật
rừng tự nhiên phản ánh chính xác nhất tác động tổng hợp của các lập địa tự
nhiên.
Mỗi lập địa cụ thể được xác định bởi rất nhiều nhân tố sinh thái; có thể
phân thành 3 nhóm các nhân tố cơ bản như hình 1.1. Việc đánh giá tiềm năng
các lập địa lâm nghiệp có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau
như đã đề cập ở chương tổng quan, sau đây sẽ tóm tắt và hệ thống lại những
luận điểm chính được áp dụng trong đề tài:

7


1. Phương pháp gián tiếp thông qua thảm thực vật:
Thảm thực vật tự nhiên là tấm gương phản ánh trung thực tiềm năng
sản xuất của các lập địa tự nhiên. Chúng ta hiểu tiềm năng sản xuất tự nhiên
là năng suất sinh khối bậc một trên một đơn vị diện tích lập địa cụ thể, trong
một đơn vị thời gian dưới sự tác động tối ưu của các nhân tố sinh thái. Khối
lượng sinh khối sản xuất trong một HSTR là chỉ tiêu tổng hợp để định lượng
năng suất lập địa.
Vị trí
Nhóm nhân tố vô sinh

Lập địa

Khí hậu
Thổ nhưỡng



Bảng 1.1. Sản xuất sinh khối trên mặt đất trong các kiểu rừng khác
nhau của trái đất (Nguồn: Bruenig (1974) và Lieth (1974)
Năng
Sinh khối
Sinh khối
lượng
khô
khô
chứa trong
(tấn/ha/năm)
(tấn/ha/năm) sinh khối
theo
theo Lieth
khô
Bruenig
(kcal/g)

Kiểu rừng

Kiểu khí
hậu Theo
Walter

Rừng mưa ẩm nhiệt
đới

I,II


V

13,8

6-25

4,8

Rừng hỗn giao ôn đới
lạnh

VI

9,5

-

4,7

VIII

3,7

2-15

4,8

6,0

2-20

Ước lượng sản xuất bậc một của thảm thực
vật thứ sinh hình thành sau tác động
(tấn/ha/năm)
Đồng cỏ

Thảm cây
bụi
(Savane)

Cây bụi
kín

Rừng thứ
sinh

Rừng lá rộng
thường xanh

20-30

5-6

5-8

3-15

15-25

Rừng lá rộng nửa
rụng lá


4-8

-

Rừng cây bụi

3-6

3-4

3-5

-

-

Đồng cỏ

2-5

2-5

-

-

-

Như vậy, tiềm năng sản xuất sinh khối ở các lập địa khác nhau có thể

quan sát nhất định. (2) dạng phi tuyến tính tương đối khó về thuật toán nhưng
lại có thể biểu diễn chính xác hơn các tương quan sinh thái. Về cơ bản, đường
sinh trưởng của cây rừng xét trong tương quan với một nhân tố sinh thái nhất
định y=f(x) thường được xác định bởi 3 điểm đặc trưng cho nhu cầu của từng
loài cây đối với nhân tố sinh thái đó theo dạng như ở hình 1.2. sau đây:
Y

Ymax

Xmin

Xopt

Xmax

X

Hình 1.2. Sự phụ thuộc sinh trưởng cây vào nhân tố sinh thái

11


Điểm tối thiểu Xmin giới hạn dưới của nhu cầu, ở đó cây chỉ có thể tồn
tại mà không phát triển được (tức là Y=0); Điểm tối đa Xmax giới hạn trên của
nhu cầu ở đây cây còn có thể tồn tại nhưng cũng không sinh trưởng được
(Y=0), vượt qua giới hạn này là cây bị chết. Trong khoảng Xmin và Xmax cây
tồn tại và sinh trưởng (Y>0) và có một điểm mà tại đó sinh trưởng đạt giá trị
tối đa, điểm đó gọi là điểm tối ưu Xopt của nhân tố x đối với cây cụ thể. Để
xác định được mô hình toán mô phỏng mối quan hệ này, người ta phải xác
định được dãy số liệu quan sát bằng điều tra thực nghiệm hoặc tiến hành các

Theo Jones (1960) có ba trường phái phân chia, đánh giá rừng và đất
rừng (Evaluation of site):
- Trường phái phân chia cấp đất (Site index approaches):
Theo Cajender (1962), việc phân loại đánh giá rừng bằng chỉ tiêu cấp
đất (Site Index) do Huber thực hiện lần đầu tiên ở nước Đức năm 1824. Đến
đầu thế kỷ 20, phương pháp này được phổ biến rộng rãi ở Châu Âu, lan
truyền sang Bắc Mỹ. Phương pháp được đánh giá đơn giản và hiệu quả.
Từ khi Eichhorn (1904) theo Assman [30] phát hiện ra quy luật “Trữ
lượng rừng là một hàm số của chiều cao bình quân lâm phần” thì phương
pháp phân chia cấp đất được củng cố cơ sở lý luận bền vững chắc chắn. Nội
dung chính của phương pháp này là xây dựng một hàm sinh trưởng theo tuổi
của một nhân tố điều tra lựa chọn nào đó, thông thường là chiều cao bình
quân, chiều cao tầng trội (dominant height),… Nhân tố lựa chọn này phải là
một chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ với trữ lượng rừng (site). Trên cơ sở đường
cong trung bình này, chia thành một số cấp khác nhau theo thứ tự từ tốt đến
xấu gọi là các cấp đất. Theo các phương trình của từng cấp đất cho ngay một
khái niệm trực quan về sinh trưởng chiều cao, từ đó suy ra trữ lượng. Theo
Erteld 1966 [34], Prodan (1951) và Mitscherlich đã sử dụng chỉ tiêu tăng
trưởng trung bình về đường kính để chia cấp đất cho rừng chặt chọn tại Đức.
- Trường phái phân chia thực bì (Vegetal approaches):
Theo Manstroem (1949), việc phân loại thực bì rừng đã áp dụng từ cuối
thế kỷ 19 cho vùng Bắc Âu (theo báo Post 1862 và Norlin 1861). Từ đầu thế

13


kỷ 20, với các công trình nghiên cứu của Cajander (1909, 1926), trường phái
này phát triển mạnh ở Phần Lan. Sau này được phát triển rộng rãi sang Bắc
Mỹ và Lục địa châu Âu. Một số tác giả như Krajian (1960, 1963, 1964, 1965)
cho rằng phân chia thực bì chính là phân chia hệ sinh thái. Vì thực bì là nhân

học là phép phân tích hồi quy nhiều biến số.
Máy tính điện tử và kỹ thuật tính toán trên máy tính đã đóng góp rất
nhiều cho sự phát triển của trường phái nghiên cứu này. Những phương trình
tương quan hồi quy xác định được chính là những định lượng đáng tin cậy về
mặt quan hệ giữa chúng.
Nghiên cứu toàn cảnh (Holistic approaches): Môi trường được phân
chia dưới một cách nhìn tổng hợp. Có 4 trường phái nhỏ theo hướng này:
+ Phân loại đất: phân chia đất thành những loại đất hay hạng đất.
+ Phân hạng lập địa theo kiểu Đức (German site mapping): phương
pháp phân hạng này đã phát triển một hệ thống phân chia bao gồm các vùng
sinh trưởng (growth distrist) đến dạng lập địa cấp I, cấp II, cấp III…
+ Phân loại địa văn theo Hills (Hills physiographic site type): Nhà lâm hình
Canada Hills đề xuất hệ thống phân loại kiểu lập địa tổng hợp (total site),
được đinh nghĩa như phức hợp của kiểu lập địa và kiểu rừng, bao gồm các
yếu tố khí hậu thuỷ văn, địa chất, địa hình, quá trình hình thành đất, nước
ngầm, quần thể động thực vật và tác động của con người,… (Hills 1955, 1961
- theo Jones 1969).
+ Phân hạng môi trường: Trong phân hạng môi trường, một hay nhiều
nhân tố môi trường được định nghĩa, phân cấp trở thành gradient phân hạng
(theo những mục tiêu lựa chọn).
Peler.R.Stevens (1986) đã viết “Sổ tay để phân hạng lập địa và đánh
giá mức độ thích hợp của lập địa áp dụng ở Bangladet” trong đó áp dụng lập
địa để đề xuất cây trồng và đánh giá độ thích hợp của cây trồng với các dạng
lập địa thông qua chỉ tiêu năng suất,… Trung tâm lâm nghiệp Quốc tế
(CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho
rừng trồng ở các nước nhiệt đới trên các đối tượng là: Bạch đàn, Thông, Keo

15




biện pháp kỹ thuật này rất nhiều tác giả nghiên cứu như: Matthew (1995) đã
nghiên cứu tạo lập mô hình trồng rừng hỗn loài giữa cây trồng chính với cây
họ đậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy cây họ đậu tác dụng rất tốt cho cây trồng
chính [23]. Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trồng, làm đất, phối trí cây
trồng rừng khác nhau cũng cho sinh trưởng và năng suất trồng rừng khác
nhau. Nghiên cứu về mật độ Evans.J (1992) [33], đã bố trí 4 công thức mật độ
trồng rừng khác nhau (2985, 1680, 1075, 750cây/ha) cho Bạch đàn
(E.deglupta) ở Papua New Guinea sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình
quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng
tổng trữ lượng cây gỗ đứng của rừng vẫn nhỏ hơn các công thức mật độ cao.
Khi nghiên cứu về Thông (P. caribeae) ở Qeensland (Australia) thí nghiệm
với 5 công thức mật độ khác nhau (2200, 1680, 1330, 750 cây/ha), sau 9 năm
trồng cũng đã thu được kết quả tương tự.
Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật bón phân cho cây trồng nhằm nâng
cao năng suất rừng trồng. Tác giả Mello (1976) ở Brazil cho thấy khi bón
phân NPK Bạch đàn sinh trưởng nhanh hơn 50% khi không bón phân. Nghiên
cứu về công thức bón phân cho Bạch đàn (E. grandis) theo công thức 150g
NPK /gốc theo tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 ở Nam Phi năm 1985 Schonau kết luận có
thể nâng cao chiều cao trung bình của rừng trồng lên 2 lần sau năm thứ nhất.
Bón phân Phosphate cho Thông caribe ở Cu Ba, Herrero và cộng sự (1988)
thu được kết quả là nâng cao sản lượng rừng sau 13 năm trồng từ 56 m3/ha lên
69 m3/ha,… Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy biện pháp bón phân, thời
gian bón phân, loại phân bón ảnh hưởng rất rõ rệt đến năng suất trồng rừng.
Biện pháp kỹ thuật tỉa cành, tỉa thưa cho lâm phần rừng cũng ảnh
hưởng rất lớn đến năng suất sinh khối cũng như kinh tế cho rừng trồng. Bên
cạnh đó việc phòng trừ sâu bệnh hại cho cây rừng cũng phát huy rất hiệu quả
nhằm nâng cao năng suất rừng trồng. Nghiên cứu về bệnh phấn hồng trên cây
Bạch đàn ở Ấn Độ của Seth, K.S (1978) [28] hay công trình nghiên cứu bệnh


đáng kể, thậm chí tỉa với cường độ lớn còn làm giảm tổng sản lượng gỗ lâm

18


phần. Tuy nhiên, với lâm phần Vân sam (Picea abies) tỉa thưa mạnh sẽ làm
cho tăng trưởng thể tích của cây cá thể tăng lên 15-20% so với lâm phần
không tỉa. So sánh sinh trưởng của đường kính cây thuộc lâm phần Tếch 26
tuổi được tỉa thưa với cường độ lớn ở tuổi 14, Iyppu và Chandrasekharan
(1961) nhận thấy ở lâm phần tỉa thưa mạnh đường kính cây là 39,9cm trong
khi ở lâm phần không tỉa thưa chỉ đạt 29,5cm.
Tỉa thưa có thể làm tăng chất lượng gỗ của một số loài cây lá rộng như
Quercus sp, Esche,… nhưng lại có tác động ngược lại đối với loài Pinus
silvetris, Larix sp,… Tỉa thưa có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng đường kính
cây, làm lượng gỗ giác tăng lên, lượng gỗ lõi giảm đi nên chất lượng gỗ xẻ giảm.
Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát triển của tán lá khá rõ nét. Nghiên
cứu rừng trồng Pinus patula, Julians Evan (1982) cho thấy ở rừng 19 tuổi
chưa qua tỉa thưa chiều dài tán lá bằng 29% tổng chiều dài thân, trong khi
cũng ở tuổi này rừng đã tỉa thưa một lần vào tuổi 9, chiều dài tán lá lên tới
40% chiều dài thân cây. Đối với diện tích tán, Hunt (1969) đã so sánh ảnh
hưởng của tỉa thưa đến lâm phần Pinus strobus 22 tuổi và kết luận sau 5 năm
tính từ thời điểm tỉa thưa, tổng trọng lượng lá cây của lâm phần qua tỉa thưa
gấp 3 lần trọng lượng lá cây của lâm phần chưa tỉa thưa.
1.2. Trong nước
Cùng với việc chọn lập địa thích hợp, chọn loài cây trồng là một vấn đề
cực kỳ quan trọng có tính chất quyết định đến năng suất, chất lượng và độ bền
vững của rừng trồng trong tương lai. Do đó, nghiên cứu, lựa chọn tập đoàn và
cơ cấu cây trồng phù hợp cho một vùng lâm nghiệp và cho từng lập địa cụ thể
đã, đang và sẽ là đề tài luôn được quan tâm trong lỉnh vực xây dựng rừng.
Chọn loài cây trồng tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính sinh học của

Kon Hà Nừng...bằng các loài cây Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Sao đen
(Hopea odorata), Xoan mộc (Toonna surenii), Giổi nhung (Michelia medicris)

20


ở Hiếu Liêm, Mã Đà (Đồng Nai); ở Sơ Pay, Kbang (Gia Lai). Cũng trong thời
gian này, Sở Lâm nghiệp Đồng Nai đã cho trồng các loài bản địa như Dầu rái,
sao đen dưới tán các rừng keo lá tràm ở Trị An, Long Khánh và Xuyên Mộc.
Trần Nguyên Giảng / Đặng Văn Đàm (1995-1997) đã tiến hành đề tài
trồng hỗn loài cây bản địa dưới tán che cây keo lá tràm trên đất nương rẫy tại
vườn quốc gia Cát Bà với kết quả rất tốt và đã được xây dựng thành hướng
dẫn kỹ thuật do Vụ Khoa học, Công nghệ và Chất lượng sản phẩm ban hành
năm 1998. Trên cơ sở hướng dẫn kỹ thuật này, JIFRO đã hỗ trợ kinh phí để
xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa dưới tán keo lá
tràm với qui mô lớn hơn ở Cát Bà, Xuân Mai và Hoà Bình (Nguyễn Quang
Việt, Nguyễn Văn Ngung).
Các dự án trồng rừng Việt - Đức KfW1 ở Lang Sơn và Bắc Giang;
KfW2 ở Hà Tỉnh, Quảng Bình và Quảng Trị cũng đã đưa cây bản địa vào
trồng dưới rừng keo lá tràm theo hướng đa dạng hoá cây trồng.
Thảm thực bì và nền đất là hai đặc tính có tính chỉ thị đặc trưng nhất
trong việc đánh giá tiềm năng lập địa để gây trồng cây bản địa lá rộng. Đặc
biệt lưu ý là các chủng loại, tổ thành, mối quan hệ tương tác hỗ trợ, cạnh tranh
của thảm cây còn lại ở tầng dưới và các biến động của các yếu tố tạo thành
các vi lập địa loang lổ đan xen của nền đất để có các biện pháp lợi dụng và
khắc phục cụ thể.
Giá trị kinh tế và môi sinh của rừng tạo ra ở một nơi nhất định theo qui
luật sinh thái học, chủ yếu là do hiệu ứng hữu cơ của ba nhân tố cơ bản "đặc
điểm khí hậu + tính chất đất đai + đặc tính loài cây" (Lâm Công Định, 1999).
Vì vậy, đối với việc chọn loài cây trồng, các yếu tố tự nhiên như: chế độ ánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status