Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm paecilomyces SP và khả năng sử dụng trong phòng trừ rầy nâu hại lúa - Pdf 23



BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRẦN VĂN HUY
NGHIÊN C
ỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM SINH HỌC
CỦA NẤM PAECILOMYCES SP. VÀ KH
Ả NĂNG
SỬ DỤNG TRONG PHÒNG TRỪ RẦY NÂU HẠI LÚA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP


Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60.62.01.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Lê Văn Trịnh
HÀ NỘI – 2012
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

i

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian nỗ lực học tập và nghiên cứu, tới nay tôi đã hoàn
thành luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học của nấm
Paecilomyces sp. và khả năng sử dụng trong phòng trừ rầy nâu hại lúa”.
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận

LỜI CAM ðOAN Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
là trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2012
Tác giả Trần Văn Huy

2. Mục tiêu của đề tài
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
Chương 1 - TỔNG QUAN

1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
4
1.1. 1. Nghiên cứu sử dụng nấm có ích phòng trừ sâu hại
4
1.1.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm hình thái cấu tạo của vi nấm
9
1.1.3. Vị trí phân loại của chi nấm Paecilomyces
11
1.1.4. Một số đặc điểm chung của chi nấm Paecilomyces
và loài
Paecilomyces javanicus
16
1.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
23
1.2.1. Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nấm có ích phòng trừ sâu hại
23
1.2. 2. Tình hình gây hại của rầy nâu và một số kết quả nghiên cứu sử
dụng nấm có ích để phòng trừ
25 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

2.3.3. Đánh giá thử nghiệm khả năng sử dụng nấm Paecilomyces
javanicus để sản xuất chế phẩm phòng trừ rầy nâu hại lúa
37
2.3.4. Xử lý số liệu
41
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả điều tra thu thập và phân lập các mẫu nấm ký sinh tự nhiên
trên rầy hại lúa tại một số tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc Bộ
42
3.1.1 Điều tra thu thập và phân lập các mẫu nấm ký sinh tự nhiên trên
rầy hại lúa
42
3.1.2. Đánh giá tuyển chọn dòng nấm Paecilomyces sp. có hiệu lực gây
chết rầy nâu cao trong điều kiện nhà lưới
49 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

v

3.1.3. Kết quả định danh dòng nấm tím Paecilomyces sp. (PaeR1) bằng
kỹ thuật sinh học phân tử
51
3.2. Một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái cơ bản của nấm
Paecilomyces javanicus (PaeR1) ký sinh trên rầy nâu hại lúa.
52
3.2.1. Các đặc điểm hình thái, sinh học cơ bản của nấm P. javanicus
52
3.2.2. Điều kiện phát triển thích hợp của nấm Paecilomyces javanicus
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các ký hi
ệu,
các chữ viết tắt
Diễn giải
Pae Paecilomyces
Ma Metarhizium anispliae
T
o
C Nhiệt độ
H (%)
Ẩm độ tương đối của không khí
TB
Trung bình
bt Bào tử
BVTV
Bảo vệ thực vật
NNC
Ngày nuôi cấy


DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Tên bảng Trang

Bảng 3.1 Kết quả thu thập mẫu nấm ký sinh tự nhiên trên rầy hại
lúa tại một số tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc Bộ (Năm 2011,
2012) 42
Bảng 3.2 Kết quả phân lập, định loại mẫu nấm ký sinh trên rầy nâu
thu được tại một số vùng của Đồng bằng Bắc Bộ (Năm
2011, 2012)
45
Bảng 3.3 Hiệu lực ký sinh gây chết trở lại trên rầy nâu của một số
nguồn nấm thu thập và phân lập được ở ngoài tự nhiên
(Phòng TN, Viện BVTV, 2011) 47
Bảng 3.4 Kết quả tách đơn bào tử tạo các dòng nấm thuần
Paecilomyces sp.ký sinh rầy hại lúa (Viện BVTv, 2011) 49
Bảng 3.5 Hiệu lực gây chết rầy nâu của các dòng nấm tím
Paecilomyces sp. (Nhà lưới Viện BVTV, 2012) 50
Bảng 3.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của nấm P. javanicus
(PaeR1) sau các thời gian nuôi cấy trên môi trường PDA
(Viện BVTV, 2012) 53
Bảng 3.7 Đặc điểm hình thái, sinh học cơ bản của chủng nấm P.
javanicus (PaeR1) ký sinh trên rầy nâu hại lúa (Viện
BVTV, 2011-2012)
54
Bảng 3.8 Khả năng phát triển của nấm tím P. javanicus (PaeR1)
trên các loại môi trường nuôi cấy khác nhau (Viện BVTV,
3/2012)

Bảng 3.14

Hiệu quả hạn chế rầy nâu của chế phẩm nấm P. javanicus

(PaeR1)

với các liều lượng khác nhau (Nhà lưới Viện
BVTV, 2012) 66
Bảng 3.15

Hiệu lực hạn chế rầy nâu của chế phẩm nấm P. javanicus
trên đồng ruộng (Vân Nội - Hà Nội, vụ Mùa, 2012) 68
Bảng 3.16

Ảnh hưởng của chế phẩm nấm P. javanicus (PaeR1) đối
với các thiên địch chính của rầy nâu trên đồng ruộng (Vân
Nội, Đông Anh, Hà Nội - Vụ mùa, 2012)
69
Bảng 3.
17
Hiệu lực hạn chế rầy nâu của chế phẩm nấm P.javanicus
(PaeR1) trên đồng ruộng tại xã Tây Sơn, Tiền Hải, Thái
Bình (Vụ mùa, 2012) 71
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ðỒ THỊ

Cuống sinh bào tử trần của nấm Paecilomyces javanicus 56
Hình 3.12

Bào tử của nấm Paecilomyces javanicus ký sinh trên rầy
nâu 56
Hình 3.13

Kích thước bào tử của nấm Paecilomyces javanicus 57
Hình 3.14

Khuẩn lạc nấm Paecilomyces javanicus phát triển trên 2 mức
nhiệt độ khác nhau:A :Nhiệt độ 25
0
C, B: Nhiệt độ 30
0
C
59 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

x

Hình 3.15

Khuẩn lạc nấm P. javanicus sau 5 ngày nuôi c
ấy
trong các ngưỡng pH môi trường (PDA) khác nhau 61
Hình 3.16


Phòng) Vụ mùa 2012
72 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

1

MỞ ðẦU
1. Tính cấp thiết của ñề tài
Hiện nay, sản xuất lúa gạo ở nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn
và Việt Nam đã trở thành nước đứng đầu trong việc xuất khẩu lúa gạo trên thế
giới. Tuy nhiên, cùng với một số đối tượng dịch hại khác, rầy nâu vẫn được
coi là nguy cơ đe dọa đến sản xuất lúa gạo ở nước ta.
Rầy nâu (Nilaparvata lugens) là một trong những đối tượng gây hại
nguy hiểm trên cây lúa ở nước ta và các nước trồng lúa khác ở châu Á. Chúng
chích hút dinh dưỡng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lúa, khi mật độ
rầy nâu cao dẫn đến hiện tượng cháy rầy. Đặc biệt, rầy nâu là tác nhân lan
truyền vi rút gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Năm 2010, diện tích lúa bị rầy
nâu gây hại trên toàn quốc lên tới 1,082,309 ha. Các tỉnh Nam Bộ rầy nâu
gây hại trên diện tích 332,941 ha. Ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng và ven
biển Trung Bộ rầy nâu luôn là đối tượng nguy hiểm gây hại trực tiếp trên lúa
và luôn là mối nguy hiểm tiềm ẩn tham gia truyền bệnh vi rút lùn xoắn lá với
diện tích gây hại trong năm là 749 368 ha [19].
Theo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về rầy nâu hại lúa
đã chỉ rõ, việc phòng trừ rầy nâu bằng thuốc hóa học trong một thời gian dài
đã làm tổn hại tới các loài ký sinh, thiên địch của rầy nâu. Mặt khác, lạm dụng

2. Mục tiêu của ñề tài
Xác định được một số đặc điểm hình thái, sinh học cơ bản của nấm tím
xám Paecilomyces sp. và đánh giá được khả năng ứng dụng loài nấm này
trong phòng trừ rầy nâu hại lúa.
3. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ ðối tượng nghiên cứu
Nấm Paecilomyces sp. ký sinh rầy nâu hại lúa thu thập tại (Hà Nội, Hải
Phòng, Vĩnh Phúc)
+ Phạm vi nghiên cứu
- Xác định đặc điểm hình thái sinh học và điều kiện nhân nuôi nấm
Paecilomyces sp. ký sinh rầy nâu hại lúa
- Xác định khả năng ứng dụng nguồn nấm này để sản xuất chế phẩm sinh
học để phòng trừ rầy nâu hại lúa.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

3

Rầy nâu Nilaparvata lugens là đối tượng gây hại nguy hiểm tr ên cây
lúa và rất khó phòng trừ một cách hiệu quả và bền vững. Việc lạm dụng thuốc
hóa học để phòng trừ rầy nâu đã làm tăng khả năng kháng thuốc của rầy, đồng
thời làm giảm mật độ quần thể thiên địch của rầy, dẫn đến làm tăng nguy cơ
rầy nâu bộc phát thành dịch. Do vậy, việc tìm kiếm sử dụng các tác nhân sinh
học để giảm thiểu lượng thuốc hoá học trừ rầy nâu là yêu cầu cấp bách của
sản xuất lúa gạo ở nước ta. Kết quả của đề tài sẽ đóng góp vào giải quyết yêu
cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất lúa. Đồng thời, có ý nghĩa to lớn trong
việc nghiên cứu, khai thác nguồn tài nguyên vi sinh vật hữu ích trong tự nhiên
để phát triển chế phẩm sinh học phục vụ phòng chống rầy nâu hại lúa.

việc sử dụng nấm ký sinh gây bệnh để phòng trừ sinh học đối với các loài côn
trùng đã được quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỷ 19.
Năm 1815, Agostino Bassi đã mô tả tỷ mỷ về nấm trắng Muscardin
trên tằm dâu và đưa ra biện pháp phòng trừ. Sau đó, một số công trình nghiên
cứu về nấm có ích của các tác giả như Oduen (1837), Luis Pasteur (1885-
1890), Carte A và Levrat D (1909) .v.v (dẫn theo Tạ Kim Chỉnh, 1996;
Nguyễn Ngọc Tú và CS., 1997) [1; 18] đã công bố những tài liệu trong đó
miêu tả tỉ mỉ về hình thái các chủng vi nấm ký côn trùng và sự phân bố của
chúng trong tự nhiên. Trong giai đoạn này vấn đề sử dụng nấm có ích trong
đấu tranh sinh học cũng được quan tâm nghiên cứu. Người đi tiên phong
trong lĩnh vực này chính là nhà khoa học người Nga Ilya Ilich Mechnikov
(1884). Ông cùng người học trò của mình là nhà côn trùng học Isac Krasirsik,
đã tiến hành sản xuất bào tử nấm M. anisopliae, trộn với đất bột tung ra đồng
để diệt sâu non và trưởng thành bọ đầu dài hại củ cải đường (Bothinoderes
punctiventris). Hiệu quả gây chết của nấm đối với bọ đầu dài đạt đến 55- 80%
sau 10-14 ngày (dẫn theo Tạ Kim Chỉnh, 1996) [1]. Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

5

Đến đầu thế kỷ 20 đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất và ứng
dụng nấm có ích để phòng trừ sâu hại cây trồng. Các công trình tập trung
nghiên cứu khả năng nhân nuôi nấm và đã xác định được môi trường thích
hợp để nhân sinh khối một số chủng nấm như Cordyceps norvegica (Sopp U.
J., 1911), Euprocties phacorhoca (Speare A. G., 1912), Entomophthorales sp
(Wolff M., 1925). Ở thời kỳ đó thì thành tựu này là một tiến bộ rất to lớn. Nó
giúp vạch ra phương hướng sử dụng vi sinh vật để đấu tranh với côn trùng hại
trên quy mô lớn. Sau giai đoạn này các thí nghiệm về nhân sinh khối và sử

và CS., 1985; Hajek và CS., 1987; Anderson và CS., 1988; Quintela và CS.,
1990; Bing, 1991) (theo Nguyễn Thị Lộc, 2009) [10]. Ở Canada đã nghiên
cứu ứng dụng nấm Paecilomyces farinosus để phòng trừ châu chấu hại lúa
(Khachatourians G. G., 1992) [44] và loài rệp hại vừng (Thomas P. H. và
CS., 1992) [57]. Còn tại các nước Mỹ La-tinh mà điển hình là tại Brazil đã có
nhiều công trình nghiên cứu với xu hướng sử dụng nấm Paecilomyces spp.,
M. anisopliae và B. Bassiana, để phòng trừ côn trùng trong đất hại cây trồng
(Quintela và CS., 1998;
D
iogo Robl và CS, 2009; Zengzhi Li và Sérgio B.
Alves, 2010) [51; 31; 45]. Hiện nay, tại Bzazil các chế phẩm nấm ký sinh đã
được ứng dụng tới vài triệu héc ta cây trồng.
Còn tại Châu Á, các tác giả ở Trung Quốc, Đài Loan đã sử dụng nấm
Paecilomyces farinosus, Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae để
phòng trừ sâu róm thông Dendrolimus punctatus (Am Wu J. W., 1988; Wu
Jinwen 1996) [26; 62], sâu đục thân (Li D. B. và CS., 1990) và châu chấu hại
lúa Locusta migratoria (Lu Q.G. và CS., 1993) [dẫn theo Tạ Kim Chỉnh,
1996) [1]. Còn tại Nhật Bản cũng có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng vi
nấm để phòng trừ sâu hại cây trồng của các tác giả Kawamoto và CS. (1986),
Kai I. và CS. (1990), Kaaya (1990, 1993) (dẫn theo Tạ Kim Chỉnh, 1996) [1].
Hiện nay trên thế giới đã sản xuất sử dụng thành công nhiều loại chế
phẩm sinh học có nguồn gốc từ nấm Paecilomyces spp. để phòng trừ nhiều
loại sâu hại cây trồng quan trọng như sâu tơ (Plutella xyllostella) (Yin Fei và
CS., 2010) [63], sâu khoang (Spodoptera litura) hại rau thập tự (Ma J. và CS.,
2007; Hu Q. B. và CS., 2007) [47; 38] và các loài bọ phấn (Bemisia tabaci,
Bemisia argentifolii) hại cây trồng (Wraight S. P. và CS., 1998; Huang Zhen
và CS., 2004) [61; 39]. Các chế phẩm nấm Paecilomyces spp. còn phòng trừ
rất hiệu quả đối với rầy nâu (Nilaparvata lugens) hại lúa (Jeanne M. M. và
CS., 1986) [40], rệp hại lúa mì (Diuraphis noxia) và các loại nhện


Blastospore)
bằng các nguồn nitơ và cacbon
khác nhau. Kết quả cho thấy trong các nguồn nitơ thử nghiệm thì (NH
4
)
2
SO
4

thích hợp nhất cho nấm P. fumosoroseus phát triển, tạo bào tử chồi.
Về công nghệ lên men xốp tạo bào tử trần nấm P. fumosoroseus và
Paecilomyces farinosus, nhóm tác giả Gabriel Moura Mascarin; Sergio
Batista Alves; Rogerio Biaggioni Lopes (2010) [35] đã tiến hành thử nghiệm
nhân sinh khối loại nấm này trên các môi trường là gạo trắng, gạo lứt, tấm
gạo, ngô mảnh, cám gạo, lúa mì, đậu tương, bã mía. Kết quả đã xác định trên Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

8

môi trường gạo trắng nấm P. fumosoroseus phát triển tốt nhất với lượng bào
tử

đạt 1,1 x 10
9
bt/g, tiếp đến là gạo lứt (5,7 x 10
8
bt/g), tấm gạo (4,3 x 10
8

thể rầy nâu (LC
50
) của 2 chủng này là rất thấp 284 và 306 bt/m
2
sau 10 ngày
lây nhiễm [41].
Những kết quả nghiên cứu trên của tác giả Jin S. F (2008) [41] cũng
phù hợp với một số nghiên cứu trước đó của một số nhà bệnh lý học côn trùng
trên thế giới như Fernandes, P. M., (1991); Moorhouse E. R., (1993);
Balavenkatasubbai M. và CS., (1994) [dẫn theo Nguyễn Ngọc Tú và CS., Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

9

1997 [18]. Các tác giả này nhận thấy để sản xuất chế phẩm nấm cho năng suất
và độc lực trừ sâu cao phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gốc chủng phân lập
(nguồn gốc địa lý và nguồn cơ chất, phân lập từ côn trùng hay từ đất) Đó là
những khía cạnh quan trọng, giúp định hướng cho việc chọn lọc chủng giống
để sản xuất chế phẩm vi nấm phòng trừ dịch hại cây trồng nông, lâm nghiệp.
1.1.2. Một số nghiên cứu về ñặc ñiểm hình thái cấu tạo của vi nấm
+ Tế bào, sợi nấm, hệ sợi và khuẩn lạc
Cũng như trong cấu tạo của các loài nấm lớn (nấm quả thể) và các
nhóm sinh vật có nhân khác, tế bào vi nấm gồm thành tế bào, chất nguyên
sinh, nhân tế bào, không bào và thể ẩn nhập. Thành phần hoá học của các tế
bào vi nấm có thể thay đổi theo loài, theo vị trí tế bào trên sợi nấm so với
ngọn nấm (Gibatt, 1969). Các thành phần nguyên tố hoá học ở tế bào nấm,
quan trong nhất là Cacbon (40%), Oxy (40%), Nitơ (7-8%) và Hydro (2-3%).
Hydrat cacbon quan trọng ở các tế bào nấm là glicogen và trehaloza. Glicogen

vitamin (Li và Holdom) (dẫn theo N. L. Dũng và CS., 1982) [3].
+ Bào tử và tế bào sinh bào tử nấm
* Bào tử nấm: Ngoài loại bào tử không có ý nghĩa sinh sản như bào tử
áo (chlamydospore), nấm còn có các loại bào tử sinh sản, giúp chúng phát tán
rộng rãi trong tự nhiên. Tùy theo phương thức hình thành (có qua quá trình
trao đổi nhân hay không) mà người ta chia ra thành 2 loại bào tử ở nấm: bào
tử vô tính và bào tử hữu tính. Bào tử vô tính được chia ra thành các nhóm:
Động bào tử (zoospore), Bào tử kín (sporangiospore, angiospore), Bào tử trần
(conidium, gymnospore) [3].
- Bào tử trần (conidium, gymnospore): Gồm các loại bào tử vô tính
thường gặp nhất ở nấm. Chúng có hình dạng, kích thước, kết cấu hết sức
phong phú. Bào tử trần có loại không màu có loại có màu [4; 5]. Kích thước
bào tử trần thay đổi tùy loài, ngắn nhất là 1-2 µm, dài nhất là 80-100 µm.
Hình dạng bào tử trần khác nhau tùy loài: không vách ngăn, 1 vách ngăn, từ 2 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

11
vách ngăn trở lên, vừa có vách ngang vừa có vách dọc, hình xoắn, hình sao
hay dạng sợi [3].
* Tế bào sinh bào tử trần: Còn gọi là giá bào tử trần (hay cuống sinh
bào tử trần (conidiophore). Giá bào tử trần có khi đứng riêng rẽ, có khi mọc
thành cụm từ 2 tới nhiều chiếc trên sợi nấm. Giá bào tử trần trong một cụm có
khi đứng riêng rẽ, có khi dính liền với nhau để tạo thành bó giá (synnema,
coremium) hoặc tạo thành cụm giá (sporodochium), hoặc tạo thành túi giá
(pycnidium), hoặc tạo thành đĩa giá (acervulus). Bó giá gồm nhiều giá bào tử
trần dài, xếp song song với nhau và dính liền với nhau hoặc ở phần gốc hoặc
suốt dọc chiều dài. Các bào tử trần sinh ra ở phần ngọn hay sinh ra suốt chiều
dọc của giá bào tử. Cụm giá cấu tạo bởi các giá bào tử trần ngắn, xếp liền

biệt gọi là thể bình (dẫn theo Tạ Kim Chỉnh, 1996; Bùi Xuân Đồng và CS.,
2000) [1; 2].
Căn cứ vào kiểu hình thành bào tử trần của tế bào sinh bào tử trần,
người ta phân biệt các kiểu phát sinh bào tử trần là kiểu tản (thallic) và kiểu
chồi (blastic) (theo Enllis, 1971). Nếu tế bào sinh bào tử chồi trong, nhưng bị
bào tử trần đẩy ra ngoài qua một miệng nhỏ và tạo thành chuỗi hướng gốc, người
ta gọi kiểu chồi trong này là thể bình (Tulloch, Latch và Veen). Một số nhà nấm
học đã dùng kiểu tế bào sinh bào tử trần làm đặc điểm phân loại cơ bản của nấm
bất toàn (Ellis, 1978; Suttpn, 1973; dẫn theo Tạ Kim Chỉnh, 1996) [1].
Dựa vào các đặc điểm hình thái của bào tử trần, bộ máy bào tử trần, giá
bào tử trần, hệ sợi nấm, lớp nấm bất toàn trong hệ thống phân loại Saccardo
(1880, 1886) được chia thành 4 bộ:
- Bộ Nấm túi giá (Sphaeropsidales) gồm các nấm bất toàn có túi giá
(pycnidium) và có 1 họ (Sphaeropsidaceae) gồm các loài ký sinh trong thực vật.
- Bộ Nấm đĩa giá (Melanconiales) gồm các nấm bất toàn có đĩa giá và
cũng có một họ (Melanconiaceae) ký sinh trên thực vật.
- Bộ Nấm bông (Hyphomycetales, Moniliales) gồm các Nấm bất toàn
không có túi giá hoặc đĩa giá, nghĩa là bào tử trần (conidiophore) mọc từ các
sợi nấm không phân hoá, các sợi nấm không tập hợp thành các bộ phận đặc Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

13
biệt của hệ sợi nấm, gồm các loài vi nấm hoại sinh hoặc ký sinh (dẫn theo Tạ
Kim Chỉnh, 1996; Bùi Xuân Đồng và CS., 2000) [1; 2] [1; 2].
- Bộ Nấm bất thụ (Agonomycetales) gồm các nấm bất toàn không có một
dạng bào tử thực nào kể cả bào tử trần (dẫn theo Bùi Xuân Đồng, 2000) [2].
Trong 4 bộ kể trên thì bộ nấm bông (Hyphomycetales, Moniliales) có
số lượng loài nhiều nhất (khoảng 7500 loài) (theo Ainsworth, 1971, dẫn theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status