BÀI THU HOẠCH THỰC TẾ DI TÍCH ĐỀN HÙNG
Phú Thọ mảnh đất cội nguồn của đất nước của dân tộc Việt. Phú Thọ mảnh đất
thiêng có rất nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử gắn liền với dân tộc
Việt, bên cạnh đó cũng là rất nhiều lễ hội, những nét văn hóa độc đáo về ẩm thực
cũng như âm nhạc…
Qua hai ngày 10-5 và 11-5 năm 2014 chúng em đã được đi chuyến đi học tập thực
tế tại rất nhiều các địa điểm khác nhau.
I , Bảo tàng Hùng Vương (Đền Hùng)
-7h30 sáng tất cả sinh viên và thầy cô giáo bộ môn tập trung tại nhà điều hành
trường Đại học Hùng Vương, 8h xe của nhà trường đón và đi đến khu di tích lịch sử
Đền Hùng, điểm đến đầu tiên trong khu di tích là bảo tàng Hùng Vương.
Bảo tàng Hùng Vương
- Giới thiệu về bảo tàng và các hiện vật ở tầng 1
+ Bảo tàng Hùng được xây dựng năm 1986 do Hội kiến trúc sư Việt Nam
thiết kế phỏng theo truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dày phản ánh quan niệm của
người Việt cổ về vũ trụ trời tròn, đất vuông.
1
- Tầng 2 của bảo tàng là nơi trưng bày chính của bảo tàng, với hơn 1000 hiện
vật chọn để trưng bày. Giúp chúng ta tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển
của nhà nước Văn Lang, nhà nước sơ khai đầu tiên trong quá trình hình thành lịch sử
dân tộc. Nội dung bày tại bảo tàng Hùng Vương chia thành năm phần, nội dung
trưng bày ở năm gian khác.
+ Nội dung thứ nhất giới thiệu về đất nước con người thời nguyên thủy, qua
những hiện vật ở đây giúp ta tìm hiểu về tự nhiên con người vùng đất tổ, cung như
giải thích vì sao xưa kia vua hùng chọn nơi đây làm đất đóng đô.
Xa bàn đầu tiên của bảo tàng là giới thiệu về thiên nhiên vùng đất tổ. Ở khu di tích
lịch sử đền hùng có ba ngọn núi cấm đó là núi Hùng, núi Vặn, và núi Trọc ba ngon
núi thiêng này quần tụ lại với nhau. Trên đỉnh núi Hùng từ xa xưa các vua Hùng
thường lên đây để lập đàn tế trời cầu cho nước thái dân an. Ngay từ buổi đầu dựng
nước trên đỉnh núi Hùng đã có những khát vọng cơm no áo ấm của tổ tiên ta. Khu
vực đất tổ chính là nơi được bao bọc bởi ba dòng sông. Ba dòng sông này cùng hội
3
chiếm ưu thế nhưng với sự sắc bén của đồ đồng thì đã thúc đẩy mạnh sự phát triển
của nông nghiệp. Con người không những đủ ăn mà đã có của để tích trữ.
Chứng tích văn hóa Phùng Nguyên
Chứng tích các hoạt động văn hóa nghệ thuật thời kì văn hóa Đông Đậu
+ Ở gian phòng thứ ba của bảo tàng là giới thiệu về sự nghiệp dựng nước của các
vua Hùng, tương đương với giai đoạn văn hóa Đông Sơn có thời gian cách chúng ta
khoảng từ 2800 năm đến 2000 năm. Tên của giai đoạn văn hóa này được lấy tên từ
một di chỉ khảo cổ ở Thanh Hóa vào năm 1924, giai đoạn này tình độ đúc đồng của
chúng ta đạt tới mưcs khá đỉnh cao. Sản phẩm mà cả Việt Nam và thế giới biết đến
đó là các trống đồng, chuông đồng, hay những thạp đồng. Sở dĩ chúng ta đi từ các
4
giai đoạn van hóa khác nhau giúp chúng ta hiểu ra nền văn hóa của chúng ta là bản
địa không vay mượn nơi khác.
Văn hóa Đông Sơn
+ Kiệu tế lễ tai bảo tàng chính là kiệu 8 người khiêng, kiệu bát cống, dùng để
tế lễ, dâng lễ vật trong ngày giỗ tổ 10- 3, trước kia 42 xã trong địa bàn thi xem kiệu
của làng nào đẹp nhất thì sẽ được dâng lễ trong ngày giỗ tổ. Hiện nay 7 xã phường
thay nhau dâng lễ trong ngày giỗ tổ, xưa kia ngày giỗ tổ được tổ chức vào ngày 11,
ngày 11 chính là ngày mất của vua Hùng thứ 6, nhưng đến năm 1917 khi tuần phủ
của tỉnh Phú Thọ Lê Trung Ngọc xin với triều đình là mùng 10 là ngày quốc giỗ của
toàn dân tộc còn 11 là ngày mà dân sở tại làm lễ.
Kiệu Bát Cống
5Mộ Táng ở làng Cả
II.Giới thiệu về toàn cảnh về Đền Hùng
các vua hùng cùng các lạc hầu, lạc tướng lên đây để bàn việc nước. Đền Trung xây
dựng vào khoảng thế kỷ XIV.Hiện nay đền Trung có kiểu kiến túc hình chữ nhị
giống như năm 1943,có 2 lớp gồm nhà tiến tế và hậu cung. Đó là kết quả của cuộc
trùng tu tháng 9 năm 2009
9
Sau khi thăm xong đền Trung đi khoảng hơn 100 bậc là chúng ta tới đền thuộng nơi
có độ cao cao nhất. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” tức là điện thờ
trời trên núi Nghĩa Lĩnh, tương truyền xưa kia nơi đây vua Hùng thương lên đây lập
đàn tế trời để cầu cho quốc thái, dân an. Đền Thượng kiến trúc kiểu chữ
Vương,gồm ba cấp:Phía trước là nghi môn rồi đến đại bái (cấp 1), tiền tế (cấp 2),và
hậu cung (cấp 3).Đền Thượng chính là nơi diễn ra những nghi thức quan trọng nhất
10
trong ngày 10-3.
Đền Thượng
Cột đá thề:tương truyền rằng “khi Thục Vương được nước,do cảm kích việc
nhường nước của Duệ vương,công đức lớn như trời đất,bèn cử giá đến núi Nghĩa
Lĩnh lập đền đài lấy lam nơi thờ tự nước,dựng cột đá giữa chân núi chỉ lên trời mà
khấn rằng:Nguyện có trời cao lồng lộng soi sét không bao giờ sai,nước Nam sẽ
trường tồn,miếu thờ hung vương sẽ còn mãi,nếu về sau các vua kế trị mà ước bội
thề,thì búa rìu gió sẽ trừng phạt để không phụ lời thề của người đời trước”.qua thời
gian dấu tích cột đá bị vùi lấp,năm 1968 các nhà nghiên cuwsu tìm thấy đã cho tôn
tạo mô phỏng cột đá thề và đặt ở phía bên trái đền Thượng.Năm 2003 được trùng tu
lại và năm 20o9 được tôn tạp bằng cột đá khối trụ
11
Cột đá thề
Thăm xong đền Thượng đi về cửa phía đông của ngôi đền cúng ta sẽ bắt gặp lăng
mộ hùng vương và tương truyền đây là lăng mộ của vua Hùng thứ VI.Năm 1974
dưới triều Nguyễn được tu bổ,tôn tạo ở thế đầu đội sơn,chân đạp thủy,quay theo
hướng Đông-Nam.Hiện nay mộ có hình khối chữ nhạt,nắp lăng đắp hình cửu long
tranh châu.
và đã được ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và phê duyệt quy hoạch năm 1985 và
chính thức là còn 6,5 hecta.
Ngoài ra làng Cả còn đang bị ôi nhiễm nặng nề bởi công ty Miwon và việc lấy ao ở
làng Cả làm nơi xử lý nước thải…
Hình ảnh thực trạng của Làng Cả
+ Làng Cả được phát hiện từ những năm 1959-1960 trong những năm xây dựng
khởi công Khu công nghiệp Việt trì, khi đó Việt trì vẫn còn rất nhiều nhà dân ở hai
bên đê.sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 và trung ương thực hiện nhiệm vụ xây
dựng kinh tế và đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội vì thế mà
khu công nghiệp Việt Trì được xây dựng nhằm mục đích công nghiệp hoá hiện đại
hóa đất nước phát triển kinh tế, đồng thời giúp nhân dân miền Nam tích cực đấu
14
tranh giải phóng dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước. Vì thế khu công nghiệp Việt
Trì được xây dựng trên 2 nhiệm vụ mà đảng và dân ta cần phải thực hiện. Khu di
tích Làng cả đưọc phát hiện do nhân dân vừa thực hiện làm thủy lợi vừa là xây dựng
nhà máy. Những hiện vật đầu tiên được tìm thấy được người dân gửi đi và có tên là
di tích Việt Trì, gọi là Việt Trì vì do chưa hình dung được nó là cái gì? Những cái đó
được viết trong nhiêu sách, ví dụ: Những vết tích của thời đại đồng thau được công
bố 1963 của nhà sử học Lê Văn Lan,đầu tiên chưa biết chưa hình dung nó ở thời đại
nào? niên đại nào? phạm vi ra sao đặc trưng di vật như thế nào? thuộc thời đaị
nào? Mãi đến năm 1977 khi xây dựng mở rộng nhà máy miến mì chính khi xây
dựng thì phát hiện được 134 ngôi mộ cổ, nhưng phải huy động chữa cháy, viện khảo
cổ học được báo đến và quá trình mở rộng nhà máy tạm dừng,lần đầu tiên chúng ta
dựng được một bức tranh cực lớn với bức tranh cư trú của người dân với những hiện
vật cực kì đặc sắc như khoa thắt lưng đồng, trống đồng…giáo, dìu rất đặc trưng, rồi
những chiếc đinh chữ U để đóng quan tài… và những đồ gốm nhưng không pong
phú lắm, nhưng mà đồ đồng thì phong phú như đinh,rìu, giáo, rồi các tấm hộ thân
của những võ sĩ của một cái người chiến binh, búa rìu trang trí hoa văn chó hươu…
Có thể nói đây là một trung tâm, ở những khu mộ táng có mộ rất nhiều hiện vật có
những mộ rất nhiều hiện vật có những mộ không có gì có mộ chỉ có một và 2 hiện
phổ biến bởi vì xưa kia hát xoan còn được các cụ dùng để giao lưu và kết thân với
các làng khác nhau ở 16 cửa đình nữa chứ không phải là 4 làng như hiện nay. Xưa
kia hát xoan thường được hát vào những ngày hội xuân, hội thu. Còn ngày nay hát
xoan đã mai một rất nhiều, các cụ cao tuổi đã gia đi rất là nhiều, các bậc con cháu
còn biết thì còn rất là ít trong đó có cô Nguyễn Thi Lịch,cô là chùm phường xoan
An Thái,là người phụ nữ duy nhất là chùm của phường xoan,các nơi còn lại đều
do nam giới làm chùm phường. Ngoài ra hát xoan ngoài các phần đặc sắc trên còn
có 14 quả cách nữa. Mà trong những hát khác lại không có những quả cách như trên,
không có lề lối và quy định như hát xoan.
16
Các nghệ nhân phường xoan An Thái
Làng xoan còn là một làng nông nghiệp từ xa xưa cho tới nay, bên cạnh làng An
Thái còn có một làng Kim Đức là một làng rất nổi tiếng về kinh tế, buôn bán…
17
nhưng hát xoan ở đây vẫn giữ được những nét riêng và cũng là một trong những
phường xoan nổi tiếng trên địa bàn tình Phú Thọ.Đặc điểm của làng xoan là vẫn giữ
được truyền thống nông nghiệp rất cổ truyền rất xa xưa, hoàn toàn như bối cảnh xa
xưa, họ vẫn yêu hát xoan vẫn giữ gìn, hát xoan hiện tại là một di sản phi vật thể của
nhân loại và cần bảo vệ khẩn cấp. Vì vậy người dân mỗi người nên biết lấy ít nhất
một quả cách và hiện tại đang được các ban nghành quan tâm, là một người sinh
viên chúng ta hãy cố gắng học tập bảo vệ và phát triển hát xoan.Sau khi được nghe
các nghệ nhân tại phường xoan hát 14 quả cách,mọi người trong đoàn đều rất hào
hứng khi được giao lưu với các nghệ nhất hát xoan bằng tiết mục cuối cùng là hát
“bỏ bộ”.Một tiết mục thoải mái và chắc hẳn mọi người đã học tập được nhiều kinh
nghiệm hát xoan từ các nghệ nhân.Cô Giang và thầy Thục đã thay mặt lớp cảm ơn
các nghệ nhân của làng xoan An Thái.18h mọi người lên xe ô tô rồi di chuyển về
điểm tập kết lúc sáng và ra về để chuẩn bị cho chuyến đi thực tế ngày hôm sau.
Chuyến học tập thực tế ngày 20-5
-6h 30 sáng,tất cả mọi người tập trung tại nhà điều hành của trường,7h bắt đầu
xuất phát đi đến khu tưởng niệm Bác Hồ tại Tam Nông
sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm tư mã, đem quân xâm lấn, lại sai thứ sử Định Châu
là Tiêu Bột hội với Phiêu ở Giang Tây.
Trần Bá Tiên đem quân đi trước. Khi quân của Bá Tiên đến Giao Châu, Lý Nam Đế
đem 3 vạn quân ra chống cự, bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, tướng
Tinh Thiều tử trận. Ông chạy về thành Gia Ninh (xã Gia Ninh, huyện Vĩnh Lạc
tỉnh Vĩnh Phúc cũ ngày nay thuộc xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ.). Quân Lương đuổi theo vây đánh.
19
Tháng giêng năm 546, Trần Bá Tiên đánh lấy được thành Gia Ninh, tướng Phạm Tu
tử trận. Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương. Quân Lương đóng ở cửa
sông Gia Ninh.
Sau một thời gian tập hợp và củng cố lực lượng, tháng 8, ông đem 2 vạn quân từ
trong đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ),
đóng nhiều thuyền đậu chật cả mặt hồ. Quân Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không
dám tiến vào. Đêm hôm ấy nước sông lên mạnh, dâng cao 7 thước, tràn đổ vào hồ.
Trần Bá Tiên nhân đó đem quân theo dòng nước tiến trước vào. Quân Vạn Xuân
không phòng bị, vì thế tan vỡ.
Lý Nam Đế phải lui giữ ở trong động Khuất Lạo, ông ủy cho con thái phó Triệu Túc
là tả tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước.
Năm 548, ngày 20 (ngày Tân Hợi) tháng 3 (tức ngày 13-4 dương lịch), Lý Nam Đế
ở động Khuất Lạo lâu ngày bị nhiễm lam chướng, ốm qua đời. Ông ở ngôi được 5
năm (543-548), thọ 46 tuổi.
- Tìm hiểu về động Khuất Lão.
+ Động Khuất Lão nằm ở hữu ngạn sông Hồng, cách sông Hồng không xa, có
3 cánh ở ba phía, cánh thứ nhất phía Bắc, cánh thứ 2 phía Đông, cánh thứ 3 phá
Nam. Phía Bắc, Đông, Nam được bao bọc bởi 115 mẫu ruộng chiêm quan năm ngập
nước… Do bị giặc phá mất đền thờ và bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2010 được
sự đồng ý của UBND tỉnh Phú Thọ, UBND huyện Tam Nông đã cho xây dựng lại
đền thờ Lý Bí trên nền móng cũ từ xưa, muốn lên thắp hương trên linh cữu của ngài
thì chỉ ngày mùng một đầu tháng mới được lên, và chỉ những người trông coi mới
cho bao gia đình tới an cư lạc nghiệp. Thế là nét văn hoá làng vốn dĩ đã có cội rễ sâu
xa lại càng thêm đặc sắc bởi sự pha trộn của nhiều sắc thái văn hoá ở nhiều vùng
khác nhau trên mọi miền đất nước.
Sống trên mảnh đất gò đồi cỗi cằn sỏi đá, việc canh tác của người Văn Lang gặp rất
nhiều khó khăn. Không những thế, những ảnh hưởng của thiên tai địch hoạ, càng
làm cho cuộc sống của họ càng thêm vất vả. Bởi vậy, người Văn Lang lấy tinh thần
lạc quan là phương châm sống, cho dù cuộc đời có gặp nhiều nỗi chuân chuyên đến
mấy, có bế tắc đến mấy thì cũng vẫn phải cười. Người Văn Lang luôn cười và không
ngừng sáng tác ra những câu chuyện khoác lác để mà cười. Trải qua bao thăng trầm
của lịch sử, cái phương châm sống ấy đã ăn vào máu thịt, trở thành đặc điểm riêng
biệt của người Văn Lang. Họ dùng tiếng cười để quên đi cái đói, quên đi cái vất vả
và quên đi những nỗi đau. Họ cười để cho những người khác yên tâm mà ở lại, mà
sống gắn bó với làng. Khác với nụ cười phóng khoáng, hài hước của riêng một bác
Ba Phi đất Nam Bộ, cái cười của Văn Lang là cái cười của cả tập thể, của cả cộng
đồng. Thời cổ thì chuyện khoác lác mang dấu ấn cổ. Thời nay thì chuyện lại mang
phong cách hiện đại.
Có lẽ không địa phương nào người dân lại có trí tưởng tượng ngộ nghĩnh như trí
tưởng tượng của người Văn Lang,dân làng Văn Lang là giọng nói nghe "nặng" khác
hẳn giọng nói của dân quanh vùng,qua cách tiếp xúc lúc nói chuyện và lúc ăn
trưa.Người dân phát âm thường kéo dài, bỗng lên cao, bỗng hạ hẵng. Chính giọng
nói đặc biệt của dân làng Văn Lang làm cho những câu chuyện bình thường qua
giọng kể mang nặng thổ âm khác lạ này một tứ duyên thầm. Cũng câu chuyện ấy
người làng khác kể thì không gây được tiếng cười nhưng qua những giọng kể với
thanh giọng đặc biệt của dân làng Văn Lang thì người quanh vùng phải ôm bụng
cười, cười đến chảy nước mắt. Tại đây chúng em cũng được nghe những câu truyện
từ xưa, cũng như hiện đại.
Ví dụ: Ăn cá không phở trở mình, củ sắn xuyên qua đường 24…
22
Hát trầu văn
Sau khi được nghe kể chuyện cười được các nghệ nhân cao tuổi biểu diễn hát trầu