BÁO CÁO THỰC TẬP NGOẠI KHÓA TẠI BA VÌ CỦA SINH VIÊN KHOA NÔNG LÂM NGƯ - Pdf 23

BÁO CÁO THỰC TẬP NGOẠI KHÓA
TẠI BA VÌ
CỦA SINH VIÊN KHOA NÔNG LÂM NGƯ
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay học đi đôi với hành là vấn đề luôn được quan tâm. Với sinh
viên cũng như học sinh không chỉ học trong sách vở mà còn học ở ngoài
thực tế để có thể nắm được bản chất,hiểu mọi vấn đề một cách cụ thể, sâu
sắc và không xa rời với thực tế. Đặc biệt với lĩnh vực nông nghiệp nói
chung và ngành chăn nuôi thú y nói riêng là lĩnh vực hay ngành phải luôn
luôn gắn liền với thực tế. Vì vậy việc học tập trong giáo trình chưa đủ mà
chúng ta phải thường xuyên thực hành và đi thực tế, nếu không chúng ta sẽ
xa rời thực tế.
Do đó khoa Nông - Lâm – Ngư Trường ĐHHV luôn chú trọng đến
việc thực hành và thực tập của sinh viên. Từ đó nhà trường và khoa đã tạo
điều kiện tổ chức 2 đợt thực tập ngoại khóa tại Ba Vì và Trường Đại Học
Nông Nghiệp Hà Nội cho sinh viên K9 CNTY + K10 CNTY, để sinh viên
có diều kiện học tập, thực hành và tiếp xúc với thực tế nhiều hơn. Qua đó
sinh viên có thể nắm được những kiến thức cơ bản một cách dễ dàng và
hiểu rõ hơn sâu sắc hơn.
Tại Ba Vì chúng ta đã được học tập và thăm quan tại, Trung tâm
nghiên cứu Bò sữa và Đồng cỏ Ba Vì, một số trại bò sữa và đồng cỏ, sở
thú, trung tâm nghiên cứu bò Moncada, trung tâm nghiên cứu Dê Thỏ Sơn
Tây… Đây đều là những trung tâm có điều kiện thuận lợi cho ta học tập và
giúp ta có vốn hiểu biết phong phú hơn về các giống cỏ, giống bò sữa, bò
thịt, bò đực giống, phương pháp kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đối với từng
giống, kĩ thuật thụ tinh nhân tạo ở bò, kĩ thuật thu nhận sản phẩm từ chăn
nuôi.
Còn tại Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội cụ thể là ở khoa Thú
y, một ngôi trường đầy đủ phương tiện kĩ thuật khoa học tiến bộ cùng với
đó là đội ngũ cán bộ giảng dạy giỏi và nhiệt tình là một điều kiện vô cùng
thuận lợi để ta học tập tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả. Ở chúng ta đã

nhu cầu trên tôi xin báo cáo về đợt thực tập ngoại khóa vừa qua tại Ba Vì
và Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội như sau:
PHẦN II: NỘI DUNG
A. THỰC TẬP TẠI BA VÌ
I. Trung tâm nghiên cứu Bò sữa và Đồng cỏ Ba Vì
1. Giới thiệu chung
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì thuộc xã Tản Lĩnh,
huyện Ba Vì, Hà Nội. Đây là trung tâm trực thuộc Viện Chăn nuôi, có tiền
thân từ Nông trường Quốc doanh Ba Vì, được thành lập từ năm 1958. Năm
1989, Nông trường được đổi tên và chuyển chức năng nhiệm vụ thành
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì. Trong thời gian qua trung tâm
đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể như: Nghiên cứu chọn lọc, lai tạo
các giống bò và giống cây thức ăn gia súc phù hợp với các vùng sinh thái
nông nghiệp, hợp tác với quốc tế và chuyển giao công nghệ…
2. Nội dung
2.1 Giới thiệu một số giống cỏ
Tại trung tâm nghiên cứu rất nhiều giống cỏ phục vụ cho chăn nuôi và đem
lại hiệu quả đặc biệt cho việc chăn nuôi bò sữa như: cỏ voi, cỏ GhineTD58,
cỏ tín hiệu, cỏ Ruzi, cỏ Hybrid, cỏ longpara, cây keo dậu, cỏ Cảlliandra, cỏ
Stylo…
a. Cỏ voi
- Đây là loại cỏ thân đứng, có khả năng sản xuất sinh khối cao, sinh
trưởng nhanh trong mùa mưa.
- Được nhập vào nước ta từ năm 1960, hiện nay các giống vẫn đang
được trồng trong sản xuất : cỏ voi Napier VA06 được nhập từ Trung
Quốc, cỏ voi Seleceron1, Kinggrass được nhập từ Cu Ba.
- Được trồng bằng hom có 3 – 4 mắt.
- Sản lượng đạt khoảng 290 – 300 tấn chất xanh/ha/năm.
- Tỷ lệ vật chất khô đạt 15,6%, Protein thô đạt 8,8%.
- Mục tiêu: nhằm thu được sản lượng sinh khối cao.

làm đất lại, bón phân không cần gieo hạt , thảm cỏ tự mọc từ những
hạt còn lại trong đất.
- Năng suất đạt 150 – 200kg/ha, sản lượng cỏ thu được 110 – 120
tấn /ha.năm.
- Thiết lập thảm cỏ bằng hạt bằng hom hoặc phục trang thảm cỏ sau
khi thu hạt.
- Tỷ lệ vật chất khô khoảng 21,5%, Protein thô khoảng 9,2%.
- Dự trữ cỏ chủ yếu bằng phương pháp phơi khô hoặc ủ xanh.

Hình 4. Cỏ Ruzi
e. Cỏ Hybrid
- Là giống cỏ lai tiếp hợp vô tính giữa Brachiara ruziziensis với
Brachiara Decunbens.
- Cỏ Hybrid sinh trưởng mạnh, chịu khô, nhánh khỏe, nên nhân giống
nhánh có tỷ lệ cao.
- Không có khả năng sản xuất hạt,
- Sản lượng đạt 130 -140 tấn/ha/năm.
- Tỷ lệ vật chất khô khoảng 24,2 % ,Protein tho khoảng 9,7%.
- Có thể thu cắt ăn tươi phơi khô và ủ xanh.
-
Hình 5. Cỏ Hybrid
f. Cỏ Stylo
- Đây là loài thuộc họ đậu lâu năm mọc thẳng đứng hoặc phân cành có
khả năng sản suất hạt, tỷ lệ nảy mầm cao, không kén đất, nhưng yêu
cầu đát thoát nước,
- Có thể cắt ăn tươi hoặc ủ xanh, ra hoa vào tháng 10.
- Sản lượng chất xanh thu được 60 – 70 tấn/ha/năm.
- Tỷ lệ vật chất khô khoảng 24,3%, Protein thô khoảng 17,1%.

Hình 6. Cỏ stylo

năm, cân đối giữa thức ăn xanh và thức ăn dự trữ.
+ Nâng cao chất lượng thức ăn xanh bằng bổ sung từ 15 – 20% cỏ cây
họ đậu trong thức ăn hang ngày cho vật nuôi ăn cỏ.
2.2 Phương pháp làm ủ chua bảo quản và sử dụng hiệu quả
- Ủ chua là một trong những phương pháp dự trữ thức ăn phổ biến và hiệu
quả trong chăn nuôi.
* Lý do ( mục đích ) cần phải ủ chua vì:
+ Do điều kiện khí hậu từ tháng 4 đến tháng 11 cung cấp đủ ánh sáng,
lượng mưa, nhiệt độ thời tiết thích hợp nên thảm cỏ phát triển tốt. Nhưng từ
khoảng tháng 11 trở đi đến tháng 4 năm sau thì điều kiên khí hậu thời tiết
nước ta có nhiều thay đổi, do đó cỏ phát triển rất kém hay không phát triển
được.
+ Dự trữ thức ăn để tránh hiện tượng: Lúc ăn không hết, lúc lần chẳng ra!
+ Cung cấp đầy đủ thức ăn chất lượng cao cho bò trong cả năm để thu
được năng suất cao nhất.
- Việc ủ chua phải hợp lí và lượng thức ăn ủ chua cần làm phụ thuộc vào:
+ Số lượng bò nuôi trong trại
+ Lượng thức ăn ủ chua 1 con bò ăn hàng ngày
+ Khoảng thời gian thiếu thức ăn xanh (>4tháng)
Để làm được lượng TĂ ủ chua đã dự định thì nguyên liệu (cây ngô) là
thứ quan trọng nhất => diện tích đất trồng ngô?
* Chuẩn bị:
a.Cây ngô, ngọn ngô, cỏ voi (trưởng thành) :
+ Cây ngô cả bắp,
đây là nguyên liệu làm ủ chua rất tốt. Nhưng phải tiến hành khi hạt ngô
đã vào bánh tẻ, tức là khi bấm thấy chắc tay nhưng vẫn còn sữa. Khi đó
hàm lượng nước trong thân cây ngô sẽ khoảng 70-75%.
+ Ngọn ngô là nguồn phụ phẩm của những nơi trồng ngô thu bắp, cũng
dùng để ủ chua rất tốt.
+ Cỏ voi trưởng thành cũng có thể làm nguyên liệu để ủ chua nhưng cần

- Vật liệu phủ kín là phần rất quan trọng nhưng nhanh hỏng sau khi sử
dụng.
- Không nên tiết kiệm phần chi phí này. Vì nếu phủ không kín, không
khí lọt vào trong sẽ gây thối hỏng thức ăn => tổn thất sẽ nhiều hơn rất
nhiều lần so với chi phí mua nilon mới.
- Cần cải tiến vật liệu phủ kín đang dùng hiện nay. Nên đặt mua nilon
đủ rộng so với bề rộng của hố ủ để phủ nilon theo chiều dọc của hố ủ
chứ không phải theo chiều ngang như hiện nay.
e. Vật liệu nén (đất, cát)
Vật liệu nén: có thể là đất hoặc cát đóng bao hay những vật nặng khác.
Những vật liệu này dùng để đè lên trên hố ủ sau khi đã phủ kín, nhằm
tránh không khí lọt vào trong.
*) Quy trình ủ chua:
1. Chuẩn bị
- Hố ủ: dọn dẹp sạch sẽ nếu là hố ủ cũ
- Nilon để phủ kín: mua sẵn và các vật dụng khác: vật liệu nén,…
2.Chặt ngô về, thái nhỏ bằng máy thái
3.Đưa ngô đã thái nhỏ xuống hố ủ, nén chặt
4.Phủ nilon và bạt nhanh chóng, cẩn thận.
5. Đè các vật liệu nén lên phía trên
*) Nguyên tắc để có chất lượng cao
1. Nguyên liệu tốt: cây ngô chặt về ủ chua không quá non, không quá
già
2. Nén càng chặt càng tốt, phủ kín, đè nặng => phải đảm bảo kín khí
3. Toàn bộ quá trình làm ủ chua phải được tiến hành nhanh chóng
(càng nhanh càng tốt). Nên cố gắng hoàn tất một hố ủ trong vòng 1
ngày.
*) Bảo quản và sử dụng hiệu quả
- Ngô sau khi ủ 30 ngày là có thể lấy ra sử dụng được
- Nếu chưa mở hố ủ, TĂ ủ chua có thể dự trữ được trong thời gian rất

- Tìm hiểu đặc điểm tập tính và cách chăm sóc nuôi dưỡng bảo tồn
chúng.
a. Loài nhím
- Đây là 1 trong những loài đang được nuôi dưỡng tại trại thú ở Ba Vì
- Nhím là loại lớn nhất trong bộ gặm nhấm, nặng trung bình từ 15 –
20kg, thân và đuôi dài từ 80 – 90cm. Hình dáng nặng nề, mình tròn
đầu to, mõm ngắn có 4 răng cửa dẹp và rất sắc, mắt nhỏ, tai nhỏ,
chân ngắn (4 chi) 2 chi sau ngắn hơn 2 chi trước, móng chân nhọn
sắc.
- Trên lưng lông biến thành gai cứng, nhọn nhất là nửa lưng phía
sau (có 2 loại lông cứng: 1 loại dài nhỏ và 1 loại dài to, ngắn), lông
biến thành những tiêm tròn cứng dài từ 10 – 30cm và nhọn có
khúc trắng, khúc đen mọc thành chùm từ 3 – 4 cái.
- Ở vùng bụng lông nhím biến thành sợi cứng có màu đen. Sau gáy
có một dải lông trắng dựng ngược như cái mào, xung quanh cổ
viền lông trắng, đuôi ngắn có những sợi lông phía đầu phình ra
thành hình cốc rỗng ruột màu trắng. Nhím đực có mõ dài hơn, đầu
nhọn, thân hình thon dài, đuôi dài hơn, tính tình hung dữ, hay lùng
sục, đánh lại con đực khác để “bảo vệ lãnh thổ”.
Khi cần thiết gặp kẻ thù thì nhím rung đuôi, những lông chuông này tạo
thành một tiếng kêu “lách cách”, “lè xè” để doạ nạt kẻ thù và thông báo với
những con vật cùng đàn những tín hiệu để lẩn tránh kẻ thù.
-
- Thức ăn của chúng thường là sắn ngô khoai và các loại rau củ quả.
- Nhím thường được nhốt theo chuồng có 2con hoặc 4 con la do chúng
phải có sự ghép căp giữa đực và cái chỉ trừ khi chưa ghép được cặp thì
ta mới nhốt 1 con riêng lẻ.
- Bộ phận sinh dục:
Lúc nhỏ, lỗ sinh dục con đực có “gai”, và con cái không có. (Để phân biệt,
chúng ta có thể vật ngửa nhím con, vạch lố sinh dục để xem).

- Bệnh đường ruột:
Do khẩu phần thức ăn cung cấp không đầy đủ như ngoài thiên nhiên
nên nhím có thể bị tiêu chảy. Chữa trị bằng cách dùng thuốc phòng
chống tiêu chảy hoặc bổ sung thêm thức ăn đắng – chát như lá ổi
xanh, củ cà rốt, rễ cau, rễ dừa, trái điều… Mặt khác, cần cân đối
khẩu phần thức ăn; không cho ăn thức ăn ẩm mốc, hôi thối, bẩn thỉu.
b. Loài hươu nai
- Là động vật có tập tính khác với các loài gia súc khác là tính bảo thủ
cao, cho dù được nuôi dưỡng, chăm sóc nhưng tập tính bản năng hoang dã
vẫn tồn tại như: Thận trọng, nhút nhát và khó tiếp cận, thấy người từ xa
chúng đã lẩn tránh.
- Có thính giác và khứu giác rất phát triển, có vai trò quan trọng trong đời
sống của chúng để canh chừng nguy hiểm từ kẻ thù. Hươu nai nhạy cảm
với những kích thích, khi có tiếng động đột ngột hoặc người lạ đi vào là
chúng dậm chân xuống đất, ngẩng cao đầu nhìn chăm chú về phía phát ra
tiếng động hoặc người lạ.
- Hươu nai thường sống theo nhóm, chúng có tập tính đàn cao, khi một con
chạy là cả đàn chạy theo. Khi có tín hiệu cho ăn, con đầu đàn đi là cả đàn
chạy theo. Khi nằm nghỉ hay nhai lại chúng thường tụ tập theo loài riêng rẽ.
- Hươu nai đực không đóng vai trò trong việc nuôi con chung. Hươu nai
đực chỉ quan hệ với nhóm hươu cái trong thời gian động dục. Mùa động
dục hươu nai đực ăn ít, tính tình dữ tợn, có khi gây nguy hiểm cho người.
- Hươu nai chủ yếu hoạt động vào ban đêm, thời gian còn lại hươu nai nghỉ
và nhai lại.
- Quan hệ với con người: Hươu nai có tập tính phòng thủ bị động, ít khi
chúng tấn công con người.
Trong điều kiện nuôi bán tự nhiên tại Ba Vì, thức ăn xanh cung cấp 2 bữa
trong ngày vào 9 giờ và 17 giờ. Thức ăn tinh cung cấp lúc 15 giờ, do đó tập
tính hoạt động ăn nghỉ của hươu nai đã phần nào thay đổi so với những con
sống ở điều kiện môi trường tự nhiên.

đang sinh sản (hay bò mẹ).
- Đặc điểm ngoại hình của bò sữa ở đây có hình giống cái nêm bầu vú
phát triển phần sau phát triển hơn phần trước, chân sau mông phát triển bởi
nó đặc trưng cho khả năng sinh sản tốt,khả năng mang thai.
- Bầu vú của bò thường có gân xanh, nếu càng nhiều gân xanh thì
càng tốt, sản lượng sữa càng nhiều.
- Bò ở đây thường chăn nuôi tại chỗ, không thả, thức ăn chủ yếu là cỏ
tươi, thức ăn ủ chua, rơm rạ khô.
- Khối lượng tiêu thụ thức ăn không cố định với từng loại bò cho ăn tự
do, đối với bê giai đoạn từ 0 đến 4 tháng tuổi cho ăn sữa lượng cỏ và cám
rất ít.
- Bê sơ sinh thường nặng khoảng 30 – 35kg, bò trưởng thành khoảng
400 – 600kg.
- Nếu chăm sóc tốt và điều kiện khí hậu phù hợp thì sản lượng sữa
trung bình đạt 15 – 20l/con/ngày, hoặc cao hơn cũng có thể đạt 20 –
30l/con/ngày.
- Bò ở đây có khả năng sinh trưởng tương đối tốt. Bò cái có hoạt động
tính dục bình thường khi đạt 18 - 24 tháng tuổi xuất hiện chu kỳ động đầu
tiên. Chu kỳ động dục của bò cái từ 18 - 21 ngày.
- Thời gian chửa đẻ là 9 tháng 10 ngày ( khoảng 270 – 280 ngày).
Trong thời gian chửa đẻ cần cung cấp đủ lượng thức ăn và có chế độ chăm
sóc hợp lí.
- Bò đẻ sau 60 ngày thì phối giống trở lại, nếu sau 5 - 6 tháng mà
không phối giống được tức bò lại chậm thì chúng ta phải có biện pháp can
thiệp.
3. Cách chăm sóc nuôi dưỡng
• Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò chửa đẻ
- Bò sau khi đẻ 30 - 60 ngày nếu động dục cần phối giống ngay. Sau khi
phối 3 tháng nếu không động dục trở lại, khám thai xác định bò có chửa
cần được bổ sung thêm thức ăn để nuôi thai.

sạch sẽ, theo dõi bò ăn uống, sức khoẻ, đặc biệt là bầu vú và âm hộ, nếu
thấy bò bỏ ăn, nhiệt độ lên cao, bầu vú và âm hộ không bình thường phải
báo thú y kịp thời xử lý.
- Sau khi 7 - 10 ngày bò đẻ ăn theo chế độ cho bò sữa bình thường, người
chăn nuôi phải chú ý theo dõi bò động dục trở lại để phối giống chuẩn bị
cho lứa tiếp theo.
• Thời gian vắt sữa
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và vắt sữa phải tuân thủ theo trình tự
công việc, đúng kỹ thuật và cố định người v.v tạo nên một phản xạ có
điều kiện cho gia súc. Người chăn nuôi cần có thời gian biểu là công
việc trong ngày. Vắt sữa thường là:
Mùa hè: Sáng từ 4 giờ 30’ - 5 giờ 30'
Chiều từ 5 giờ - 6 giờ
Mùa đông: Sáng từ 5 giờ - 6 giờ
Chiều từ 4 giờ 30' - 5 giờ 30'
• Kĩ thật vắt sữa

- Người chăn nuôi cần chấp hành đúng những quy định về kỹ thuật, trình tự
công việc mới đảm bảo vắt được nhiều sữa, sữa đảm bảo tiêu chuẩn vệ
sinh, đảm bảo sức khoẻ cho bò sữa.
- Trước khi vắt sữa tắm cho bò và tẩy rửa chuồng sạch sẽ, buộc đuôi vào
chân bò, sau đó dùng khăn lau khô bầu vú và núm vú.
- Tác động kích thích bầu vú trước khi vắt, đặc biệt bò đẻ lứa đầu: 1 bàn tay
đặt trước bầu vú, còn một tay đặt phía sau, dùng khăn sạch nhúng vào nước
nóng 40 - 50
0
C, vắt kiệt nâng lên hạ xuống hoặc xoay tròn quanh bầu vú từ
1 - 2 phút.
- Dụng cụ vắt sữa phải rửa sạch, tráng nước sôi (kể cả xô vắt, và thùng
đựng), vải màn đảm bảo trắng, sạch dùng 6 - 8 lớp vải màn để lọc sữa sau

mím chặt và phát ra tiếng lép bép.Sau 2-3 ngày xuất hiện các mụn nước ở
mồm, móng, chân, vú. Con vật đi lại khó khăn. Các mụn sau khi vỡ ra thấy
vết loét màu hồng, nông và dễ bị nhiễm trùng và kế phát các bệnh
khác.Đây là bênh do vi rut gây ra vì vậy đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu bệnh này. Do vậy định kỳ tiêm phòng vacxin hàng năm là biên
pháp tốt nhất và hiệu quả nhất cho người chăn nuôi.
+ Bệnh tụ huyết trùng: Đây là bệnh do vi khuẩn Gram (-) gây ra vì vậy có
thể dùng một số loại kháng sinh sau Penicinin kết hợp Streptomycin,
Kanamycin, Gentamycin,Tylosin
Tiêm liên tục 3-5ngày, liều lượng như phần bệnh viêm phế quản – phổi
Ngoài việc dùng kháng sinh cần kết hợp với các thuốc hạ sốt, trợ sức, trợ
lực và hộ lý chăm sóc chu đáo.
Ngoài ra còn rất nhất các loài bệnh khác như : viêm móng, viêm rốn, các
bệnh về đường ruột. Vì vây chúng ta cần chú ý chăm sóc nuôi dưỡng đẻ bò
không mắc bệnh không ảnh hưởng lớn đến người chăn nuôi.
- Cách phòng bệnh
+ Nên tiêm phòng 2 lần/năm bệnh tụ huyết trùng và lở mồm long móng,
dịch tả.
+ Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, bảo đảm chuồng trại luôn trong tình
trạng sạch sẽ, thông thoáng
+ Diệt ruồi, muỗi và các loài ký sinh ngoài da
+ Nuôi dưỡng đúng quy trình kỹ thuật
+ Áp dụng các biện pháp phòng bệnh viêm vú
+ Tiêm điều trị dự phòng ký sinh trùng đường máu.
IV. Tại trung tâm thu gom sữa Ba Vì
- Tại đây ta đã được biết đến quy trình cũng như các yêu cầu thu gom sữa
trước khi đưa vào chế biến.
- Sữa bò tươi là một sản phẩm hang hóa nông nghiệp đặc biệt, đòi hỏi
phương pháp thu mua cũng phải đặc biệt để đáp ứng cho việc bảo đảm chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

là bảo đảm quyền lợi cho người chăn nuôi.
V. Tại trung tâm nghiên cứu bò Moncada
Tại đây chúng ta đã được biết đến trung tâm bò Moncada (Công ty gia súc
trung ương Vinalaca) được thành lập năm 1970 dưới sự giúp đỡ của CuBa.
Nhiệm vụ chức năng chính của công ty là tuyển chọn, nhập và nuôi dưỡng
các giống bò cao sản; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp
tác quốc tế; xây dựng và phát triển hệ thống mạng lưới thụ tinh nhân tạo…
Hơn nữa là học được quy trinh khai thác và sản xuất tinh đông lạnh, kĩ
thuật truyền tinh nhân tạo cho bò…
1. Cách khai thác tinh bò đực và sản xuất tinh đông lạnh
* Quy trình khai thác tinh bò đực sản xuất tinh đông lạnh
1. Lấy tinh bò đực giống bằng âm đạo giả
Phương pháp này như sau: có giá nhảy để bò đực nhảy lên. Giá nhảy có thể
bằng hình nộm, bằng bò đực hoặc bò cái đứng giá. Bò đực được dắt đến giá
nhảy. Nhờ phản xạ có điều kiện bò đực nhảy giá và xuất tinh vào âm đạo
giả. Ta thu nhận tinh từ âm đạo giả.
Giá nhảy :
- Cách đơn giản nhất là làm chuồng ép và sử dụng bò sống làm giá cho bò
đực nhảy. Bò làm giá có thể là bò cái hoặc bò đực. Ưu điểm của phương
pháp này là gần với tự nhiên, đơn giản, đầu tư ít. Nhược điểm là dương vật
đực giống bị bẻ cong và cần kỹ thuật viên lấy tinh dũng cảm và nhiều kinh
nghiệm.
- Sử dụng gía gỗ có gắn âm đạo giả bên trong để lấy tinh có ưu điểm là
không bẻ cong dương vật của đực giống. Điều này sẽ làm tăng cường việc
đẩy và phóng tinh, ảnh hưởng tốt đến số lượng và chất lượng tinh dịch.
Nhược điểm là mua giá nhảy rất đắt tiền.
Chuẩn bị âm đạo giả
Trước khi lấy tinh ta phải chuẩn bị âm đạo giả, các bước như sau:
- Lấy vỏ và ruột âm đạo đã được sấy khô và khử trùng ra
ngoài. Lắp ruột âm đạo giả vào vỏ cho căng và thẳng, lật ngược 2 đầu ruột

quản âm đạo giả.
Nơi lấy tinh

Trích đoạn TẠI TRƯỜNG ĐH NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI. Được giới hạn từ cắt ngang át lát về trước gồm: xương sọ, xương bất Đốt sống lưng: Thực hành bệnh lí bệnh truyền nhiễm – vi sinh vật Thực hành nội dung dinh dưỡng động vật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status