Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN THỊ MAI PHƢƠNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC
THUỘC NGÀNH MỘC LAN (MAGNOLIOPHYTA)
Ở VÙNG BÃI BỒI VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN
TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2012
NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC HÀ NỘI – 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình
của các thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp.
Với tất cả tấm lòng, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS. Trần Thế Bách -
gắn liền với việc sử dụng thảo mộc làm cây thuốc chữa bệnh. Những năm
gần đây thảo mộc không những đƣợc sử dụng trong y học mà còn là
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác nhƣ: Mỹ phẩm, thực phẩm …
Vì vậy có thể khẳng định cây thuốc là những nhóm tài nguyên thực vật có
giá trị hàng đầu là tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ƣu đãi cho mỗi
dân tộc, mỗi quốc gia. Trong công nghệ y học hiện đại phát triển, có nhiều
loại thuốc có những tác dụng phụ không mong muốn. Nhƣng đối với các
loại thuốc sản xuất từ thảo mộc hầu nhƣ rất ít có tác dụng phụ. Vì vậy việc
sử dụng các loại thảo mộc làm thuốc của con ngƣời ngày càng nhiều. Tuy
nhiên nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm
thực vật bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí. Tri thức sử
dụng cây thuốc bị mai một do không đƣợc tƣ liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều
cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc
của thế hệ trƣớc. Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi
có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhƣng lại bị tàn phá nhiều
nhất. Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp
đƣợc phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng, đời
sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc phục vụ
cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một nhiều. Điều đó dẫn tới việc bảo tồn
và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu
phát triển, mà nó đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dƣợc vô
cùng lớn.
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dƣợc đang ngày càng đƣợc
khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây
thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm
phục vụ cho mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con ngƣời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn dài khoảng 15 km tính từ cửa sông
3.1. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp dữ liệu khoa học về đa dạng cây thuốc thuộc ngành Mộc lan
(Magnoliophyta) ở vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm cơ sở khoa học để bảo tồn, phát triển các loài cây thuốc tại vùng bãi
bồi ven biển huyện Kim Sơn - Ninh Bình.
- Làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lƣợc trong các chƣơng trình qui
hoạch, quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên thực vật của vùng bãi bồi ven
biển huyện Kim Sơn - Ninh Bình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới.
Trên thế giới từ thời thƣợng cổ đến nay con ngƣời vẫn luôn coi trọng
cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chính để chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ. Ở
Ai Cập, các văn bản về dƣợc thảo đƣợc viết bằng giấy cói vào năm 1950
Trƣớc công nguyên (TCN), tài liệu xƣa nhất còn tồn tại. Những văn bản
này liệt kê hàng chục loại cây thuốc, công dụng của chúng và các bùa chú
có liên quan. Các loài thảo dƣợc đƣợc nói đến bao gồm cả Thầu dầu
(Ricinus communis) và Tỏi (Allium sativum). Ở Ấn Độ, trong bộ sử thi
Vedas đƣợc viết vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong
phú về dƣợc thảo thời kỳ đó. Cuốn “Charaka Samhita” đƣợc các thầy thuốc
Charatta viết tiếp theo bộ Vedas vào khoảng năm 400 TCN. Tài liệu y học
này trình bày chi tiết 350 loài dƣợc thảo. Trong số đó, có cây Cần ami
(Ammi visnaga) là loài thảo mộc có nguồn gốc từ Trung Đông, gần đây
đƣợc chứng minh là có hiệu quả trong điều trị bệnh hen suyễn, cây Rau má
(Centella asiatica) từ lâu đƣợc sử dụng để chữa bệnh phong.
Những hiểu biết về thảo mộc của ngƣời Hy Lạp và Roma gắn liền với
nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ. Ngƣời Hy Lạp cổ xƣa chịu ảnh
hƣởng của ngƣời Babylon, Ai Cập, Ấn Độ. Hippocrat (460 – 377 TCN) là
thầy thuốc nổi tiếng ngƣời Hy Lạp đƣợc mệnh danh là cha đẻ của y học
hiện đại khi ông là ngƣời đƣa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là
thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn”.
Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu
đƣợc các thầy tu sƣu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài
liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập. Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã
viết cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản
cuốn “The English Physician”. Đây là cuốn dƣợc điển có giá trị và là một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
trong những cuốn sách hƣớng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tƣợng sử
dụng, ngƣời không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức
khỏe. Cho đến nay, cuốn sách này vẫn đƣợc tham khảo và trích dẫn rộng rãi.
Ngày nay theo thống kê của quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên
(WWF), trên thế giới có khoảng 250.000 - 270.000 loài thực vật bậc cao thì
có đến 35.000 - 70.000 loài đƣợc sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa
bệnh. Trong đó Trung quốc có trên 10.000 loài, Ấn độ có khoảng 7.500 -
8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài,
Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài và Hàn Quốc có
khoảng 1.000 loài có thể sử dụng đƣợc trong Y học truyền thống. Châu Mỹ
la tinh nơi có 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử
dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở ngƣời dân bản địa. Schule đã phát hiện
gần 2.000 loài cây thuốc đƣợc sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia.
Các quốc gia Châu Phi thƣờng số loài cây thuốc ít hơn nhƣ Somalia có 200
loài, Botswana có 314 loài .
Cùng với phƣơng thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà
tính chữa bệnh trong khi các nhà nghiên cứu về thảo mộc cho rằng tác dụng
chữa bệnh của cây thuốc là do sự kết hợp của nhiều thành phần có trong
cây thuốc. Chẳng hạn nhƣ chất khoáng, vitamin, tinh dầu glycosid và nhiều
chất khác đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cƣờng hoặc hỗ trợ các
đặc tính chữa bệnh của cây thuốc, bảo vệ cơ thể của các tác nhân gây độc.
Trong khi đó, các hợp chất đƣợc phân lập và tổng hợn có khả năng chữa
bệnh hiệu quả nhƣng vì thiếu đi các hợp chất tự nhiên khác nên chúng có
khả năng gây độc đối với cơ thể. Trƣớc đây, việc sử dụng thảo dƣợc để
chữa bệnh thƣờng bị hiểu lầm với phép thuật và mê tín dị đoan. Ngày nay,
khoa học hiện đại đã chứng minh đƣợc khả năng chữa bệnh của thảo mộc.
Vì vậy, thế giới ngày càng quan tâm tới cây thuốc cũng nhƣ phƣơng pháp
chữa bệnh bằng y học cổ truyền.
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài
thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp đƣợc sử dụng trực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong
đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới Châu Á có
khoảng 6.500 loài thực vật có hoa đƣợc dùng làm thuốc. Mức độ sử dụng
thuốc thảo dƣợc ngày càng cao.
Theo thống kê trên toàn thế giới, giá trị của công nghiệp dƣợc sử
dụng cây cỏ là 800 tỷ USD/năm. Ở Trung quốc tiêu thụ hàng năm hết
700.000 tấn dƣợc liệu, sản phẩm y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào
năm 1986. Tại các nƣớc có nền công nghiệp phát triển thì mức độ sử dụng cây
thuốc ngày càng tăng. Ngày nay, có khoảng 40 % dân số các nƣớc công
nghiệp phát triển sử dụng các dạng thuốc bổ sung.
Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trƣờng Âu - Mỹ
và Nhật Bản vào năm 1985 lá 43 tỷ USD. Doanh số bán thuốc từ cây cỏ ở
các nƣớc Tây Âu năm 1989 là 2,2 Tỷ USD so với tổng doanh số buôn bán
nhiều nhất. Theo số liệu của tổ chức Nông lƣơng của Liên Hiệp Quốc
(FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của
các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ƣớc tình khoảng 75.000 hecta
rừng bị phá hủy.
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dƣợc đang ngày càng đƣợc
khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây
thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm
phục vụ cho mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con ngƣời.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.
Việt Nam đƣợc đánh giá là nƣớc đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong
phú và đa dạng sinh vật. Trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa
dạng. Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có
nguồn tài nguyên thực vật phong phú. Ƣớc tính, nƣớc ta có khoảng 12.000
loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000
loài tảo [9], [15], [16]. Có khoảng trên 4.000 loài thực vật bậc cao dùng
làm thuốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Trong cuốn sách “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tƣ Y
Thƣ” của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại
bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn. Hai cuốn sách này đƣợc
xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam. Đến
thế kỷ 18, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y
Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật,
các đặc tính chữa bệnh [46].
Thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thƣợng Lãn Ông, tên thực là Lê
Hữu Trác (1721-1792) Ông là ngƣời am hiểu nhiều về y học, sinh lý học,
đọc nhiều sách thuốc. Di sản để lại ngày nay cho con cháu là hàng chục
bộ sách y dƣợc quý. Ngoài kế thừa “Nam dƣợc thần hiệu của Tuệ Tĩnh,
miền Bắc Việt Nam. Năm 1991, trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc
gia về cây thuốc lần thứ II ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu
một danh sách các loài cây thuốc ở Việt Nam có 2 280 loài cây thuốc bậc
cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Năm 1997 tác giả giới thiệu “ Từ
điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài cây thuốc, đây là một công
trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dƣợc và
các nhà thực vật học. Đặc biệt năm 2012, tác giả đã tái bản có bổ sung công
trình trên với 4.470 loài cây thuốc.
Các kết quả điều tra dƣợc liệu của Viện Dƣợc liệu từ năm 1961 đến
1985 đã phát hiện 1.863 loài cây thuốc, trong 1 033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17
lớp, 11 ngành đƣợc xếp loại theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan.
Đến năm 2000, số loài cây thuốc đã tăng lên tới 3.849 loài thuộc 307 họ
thực vật.
Theo Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu hàng năm nƣớc ta
khai thác và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau. Khó
mà thống kê đƣợc một cách đầy đủ khối lƣợng dƣợc liệu tự nhiên đƣợc
khai thác bởi vì hàng năm ngoài cơ sở sản xuất của nhà nƣớc còn có những
cơ sở của tƣ nhân, của những ông Lang bà Mế và ngƣời dân từng địa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phƣơng tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian.
Trần Đình Lý (1993) và cộng sự đã xuất bản cuốn sách “1900 loài cây
có ích” [19]. Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt
Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo,
600 chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài tre nứa, 40 loài song
mây. Trong số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có công dụng làm
thuốc. Cũng trong năm này, Vƣơng Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý
quanh ta” [1].
Nhiều cuốn sách có giá trị về tài nguyên cây thuốc đƣợc các nhà khoa
Tình trạng về nguồn tài nguyên thực vật nói chung và nguồn cây
thuốc nói riêng hiện nay không còn nguyên vẹn nhƣ sƣa. Do phá rừng, đốt
nƣơng làm rẫy, khai thác ồ ạt dẫn tới nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng
cạn kiệt, nhiều loài cây thuốc bị giảm về trữ lƣợng nhƣ Bình vôi
(Stephania brachyandra), Chùa dù (Elsholtzia penduliflora), Tục đoạn
(Dipsacus asper),… Đặc biệt đối với những cây quý hiếm thì tình trạng suy
kiệt càng trở nên gay gắt hơn nhiều: Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam
thất hoang (Panax stipuleanatus), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus)…
hiện lâm vào tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng.
Trong những năm qua, nhà nƣớc Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu
tƣ cho công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ
truyền, phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân
dân. Các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều
tra cơ bản, đặc biệt là chƣơng trình điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện
Dƣợc liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm vi toàn quốc. Đến nay ở nƣớc
ta có khoảng 3.948 loài cây thuốc đƣợc ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành
thực vật bậc cao và bậc thấp, bao gồm cả nấm.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu ở khu vực bãi bồi huyện kim Sơn
Vấn đề nghiên cứu về tài nguyên thực vật nói chung và tài nguyên
cây thuốc nói riêng vẫn chƣa đƣợc chú trọng. Theo thống kê sơ bộ, hệ thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vật thuộc ngành Mộc lan ở vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn có
khoảng 460 loài. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu về đa dạng
cây thuốc vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn. Dƣới sự hƣớng dẫn của
các thầy cô tại Viện Sinh thái Tài nguyên và Sinh vật tôi đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Mộc lan
(Magnoliophyta) ở vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh
Bình”.
+ Mẫu vật (tiêu bản) gồm cành, lá, hoa, quả, và các bộ phận cần
thiết để nghiên cứu, phân tích, xác định tên loài theo tiêu chí thực vật (gồm
các bộ phận: cành mang lá và hoa hoặc quả, một số bộ phận đặc trƣng,…
Công tác điều tra, thu thập, xử lý, lƣu trữ, bảo quản mẫu thực vật phải tuân
thủ theo qui trình kỹ thuật làm tiêu bản thực vật của Viện Sinh thái & Tài
nguyên sinh vật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Trong phòng thí nghiệm, tiến hành nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tƣ
liệu và mẫu vật để xác định tên khoa học các loài cây bằng phƣơng pháp
hình thái so sánh, trong đó có một số trƣờng hợp cần thiết có thể sử dụng
phƣơng pháp sinh học phân tử. Đồng thời ở thực địa cũng xác định tên cây
trên cơ sở mẫu tƣơi sống trong tự nhiên, nhất là những loài có thể chƣa thu
thập đƣợc mẫu vật. Trong công tác xác định tên cây, cần sử dụng các tài
liệu phân loại và các tài liệu khác gồm các bộ sách chuyên khảo về taxon,
các bộ sách Thực vật chí của một số nƣớc lân cận và Việt Nam, các công
trình về tài nguyên thực vật, Sau khi đã có tên khoa học, chúng tôi sử
dụng các trang Website chuyên ngành để kiểm tra về danh pháp nhƣ:
; ; .
+ Cuối cùng là sắp xếp để lập danh lục các loài theo các taxon lớp, họ,
chi, loài và dƣới loài. Các taxon xếp theo thứ tự vần ABC.
+ Phƣơng pháp đánh giá đa dạng các taxon thực vật trên phƣơng pháp
của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007).
+ Thông tin làm thuốc: Các công trình đề cập đến các cây thuốc nhƣ Từ
điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997, 2012), Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bắc giáp Thị trấn Bình Minh, phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Đông giáp
tỉnh Nam Định (sông Đáy) và phía Tây giáp tỉnh Thanh Hoá (sông Càn).
Trong vùng có 03 đơn vị hành chính đã thành lập (xã Kim Đông, xã Kim
Trung, xã Kim Hải), 01 đơn vị đã xác định nhƣng chƣa có bộ máy hành
chính (xã Kim Tiến) và một phần diện tích hiện nay do Ủy ban Nhân dân
huyện Kim Sơn quản lý với tổng diện tích đất đai là 6.601,7 ha.
Vùng bãi bồi Kim Sơn nằm ở điểm đỉnh phía Đông Nam của vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Là nơi đón nhận lƣu lƣợng nƣớc chứa nhiều bùng cát
và trầm tích của sông Đáy, sông Càn để bồi đắp, mở rộng lấn ra biển.
- Bên cạnh đó sông Càn, sông Đáy và hệ thống sông nội địa còn
mang đến vùng bãi bồi nhiều động vật và thực vật phong phú, tạo điều kiện
cho nhiều loại thuỷ sản phát triển nhƣ: Thực vật nổi (tảo khuê, tảo lục, tảo
gấp), động vật nổi (tôm bột, cá bột, ), sinh vật đáy và nhuyễn thể (ngao,
vọp, sò huyết ….). Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi
trồng thuỷ, hải sản trong vùng.
- Sự giao hòa của nƣớc hai cửa sông Càn, sông Đáy với nƣớc
biển Đông tạo cho khu vực có những điều kiện sinh thái, tự nhiên rất
thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng các hoạt động sản xuất nuôi
trồng thuỷ sản, phát triển du lịch…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng bãi bồi Kim Sơn
Ngoài những thuận lợi trên, vùng nghiên cứu của đề tài cũng có
không ít khó khăn phức tạp, bởi vì vùng bãi bồi Kim Sơn là vùng trũng
phía Đông Nam của đồng bằng sông Hồng, nơi đón nƣớc của nhiều sông
trong nội vùng nhƣ sông Lạng, sông Bôi, sông Vạc… với một cửa thoát
duy nhất là cửa sông Đáy,
đồng thời sông Đáy cũng là sông phân nƣớc lũ của sông Hồng, đặc điểm
- Tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 16,9
o
C.
- Tổng nhiệt độ năm trên 8.500
o
C.
- Những tháng có nhiệt độ trung bình trên 23
o
C bắt đầu từ tháng 4 đến
tháng 10.
Vùng bãi bồi có nhiệt độ trung bình tƣơng đối cao, chênh lệch nhiệt
độ giữa các mùa và ở các thời điểm khác nhau trong một mùa dao động từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
o
C đến 25
o
C. Với đặc trƣng nhiệt độ nhƣ vậy là điều kiện rất tốt để hệ
sinh thái nhiệt đới phát triển, đồng nghĩa với khu vực có tiề năng rất lớn để
thâm canh các loại cây trồng nhiệt đới và nuôi trồng thuỷ sản.
3.1.3.2. Chế độ ẩm
Do vị trí địa lý nằm sát biển nên độ ẩm không khí trung bình năm
tại vùng bãi bồi tƣơng đối cao (83,0%). Với độ ẩm không khí cao tác
động đến môi trƣờng của khu vực tƣơng đối khắc nghiệt đối với sức
khoẻ của con ngƣời và hệ động vật trong khu vực. Bên cạnh đó độ ẩm
không khí cao luôn tiềm ẩn sự bùng phát và lan truyền dịch bệnh.
3.1.3.3. Bốc hơi
Do tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lƣợng bốc hơi trung
sông Hồng), sông Càn trên nền biển nông. Mức độ nhiễm mặn có xu thế
giảm dần từ đê Bình Minh 1 đến đê Bình Minh 3; pH của đất có xu thế
ngƣợc lại. Biến động độ mặn và pH trong đất vùng bãi bồi là sự biến đổi
theo mùa rõ ràng.
3.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG BÃI BỒI KIM SƠN.
3.2.1. Dân số, lao động
Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện Kim Sơn, tính đến ngày
31/12/2009 thì tổng số dân 03 xã vùng bãi bồi (xã Kim Đông, xã Kim
Hải, xã Kim Trung) là 9.949 ngƣời, 2.436 hộ. Mật độ dân số toàn vùng
150 ngƣời/km
2
.
Bảng 1. Dân số vùng bãi bồi Kim Sơn
TT
Đơn vị
hành chính
Dân số
(ngƣời)
Mật độ dân số
(ngƣời/km
2
)
Tỷ lệ tăng dân số (%)
Tự nhiên
Cơ học
1
Xã Kim Đông
3.344
512
+1,02
lao động toàn vùng. Lực lƣợng lao động chủ yếu tập trung trong ngành
nông nghiệp, lực lƣợng lao động tham gia dịch vụ chƣa nhiều, phần lớn
theo mùa vụ thu hoạch thuỷ sản và cây cói. Lao động chƣa qua đào tạo là
chủ yếu, nhìn chung trình độ còn thấp, đa số là lực lƣợng lao động phổ thông.
Thu nhập của ngƣời dân trong vùng những năm gần đây đã đƣợc
nâng lên đáng kể do phát triển mạnh nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản.
Bình quân thu nhập trên một đầu ngƣời năm 2009 đạt 6,3 triệu đồng/ngƣời/ năm.
3.2.2. Tình hình phát triển kinh tế
Huyện Kim Sơn đƣợc thành lập năm 1829, là kết quả quá trình khai
hoang lấn biển. Đến nay, công cuộc khai hoang lấn biển vẫn là một tiềm
năng, thế mạnh của huyện.
Trong những năm qua hoạt động sản xuất kinh doanh của các xã
trong vùng đã có chuyển biến tích cực. Năm 2009, giá trị sản xuất ngành
nông, lâm, thuỷ sản đạt 32.528 triệu đồng, trong đó nuôi trồng thuỷ sản
chiếm tỷ trọng lớn; giá trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng 13.531
triệu đồng; giá trị sản xuất ngành thƣơng mại, dịch vụ 11.030 triệu đồng
(theo giá thực tế). Trong cơ cấu kinh tế vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn,
ngành nông, lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn nhất (41,6%). Năm 2009
tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đã giảm nhiều nhƣng nhìn chung vẫn còn ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
mức cao (theo tiêu chí mới của Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội) là
18,47%. Để đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế, xoá đói, giảm
nghèo…vấn đề đặt ra cho các xã trong vùng là phải tiếp tục chuyển dịch
mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu giống cây trồng, con nuôi theo hƣớng
sản xuất hàng hoá, tăng nhanh những sản phẩm, con nuôi có giá trị kinh
tế cao, quan tâm đến vấn đề kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trƣờng để
đảm bảo cho sản xuất phát triển bền vững, đồng thời đánh giá chính xác,
khoa học tiềm năng đất đai của vùng để có cơ chế, chính sách phù hợp