Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
KHOÁ LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài: “Phát triển hệ thống hỗ trợ quản lý
chất lượng công việc ở Sở giao dịch Ngân
hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam”
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Phạm Tiến Dũng
Sinh viên thực hiện: Tạ Hồng Nhung
Lớp : HTTTB
Khoá : 11 (2008-2012)
Hệ : Chính quy
Hà Nội, tháng 6/2012
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Họ và tên sinh viên: Tạ Hồng Nhung
Lớp: HTTTB Khóa: 11 (2008-2012)
Ngành đào tạo: Hệ thống thông tin quản lý Hệ đào tạo: Chính quy
1/ Tên khoá luận tốt nghiệp:
Phát triển hệ thống hỗ trợ quản lý chất lượng công việc ở Sở giao dịch Ngân
hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
2/ Nội dung chính của khoá luận:
Chương 1: Cơ sở phương pháp luận xây dựng hệ thống thông tin quản lý
Trình bày tổng quan về hệ thống thông tin, giới thiệu những công cụ để thực hiện
đề tài, và một số thông tin nghiệp vụ khác để xây dựng hệ thống quản lý chất lượng
công việc tại Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Ngân Hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo đều
kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập cuối khóa.
Cuối cùng em cũng chân thành cám ơn các thầy cô, các anh chị và các bạn đã
nhiệt tình giúp đỡ động viên giúp em hoàn thành tốt khóa luận này.
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
NHẬN XÉT
(Của cơ quan thực tập)
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
NHẬN XÉT
(Của giảng viên hướng dẫn)
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
MỤC LỤC
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngày nay công nghệ thông tin đã đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế, xã hội của mỗi nước, là một phần không thể thiếu trong một xã hội ngày càng
hiện đại hoá. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam đã gia nhập WTO, đây là
yếu tố đã đặt ra nhiều thách thức với các doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý từ quy
trình cũng như công nghệ. Công nghệ thông tin sẽ là một công cụ hữu ích, gắn liền các
hoạt động khác nhau trong một Ngân hàng, tạo thành một chuỗi giá trị mang lại lợi ích
mong muốn cho mỗi Ngân hàng.
Đặc biệt, đối với các Ngân hàng, việc ứng dụng tin học là bắt buộc nếu muốn tồn
tại và đứng vững trên thị trường. Khối lượng dịch vụ đa dạng đòi hỏi quản lý chặt chẽ
và chi tiết của Ngân hàng không thể không có sự trợ giúp của máy tính điện tử. Một
máy tính điện tử giúp người ta thực hiện hàng chục triệu phép tính chỉ trong vòng một
môn cao, được trang bị những kỹ năng mềm phục vụ sự giao tiếp và bán hàng. Đồng
thời, nhân viên ngân hàng cũng cần có thái độ phục vụ tốt, lịch sự, chuyên nghiệp,
nhiệt tình đáp ứng nhu cầu của khách hàng Tất cả những yếu tố này đã được cụ thể
hóa trong bộ tiêu chuẩn về tác phong làm việc và chất lượng phục vụ khách hàng đang
được áp dụng tại các phòng ban thuộc Sở giao dịch. Điều này đặt ra tính cấp thiết
trong công tác quản lý việc thực hiện bộ tiêu chuẩn nói riêng, và việc đánh giá chất
lượng công việc của mỗi cán bộ nói chung tại cơ sở.
Nguồn vốn luôn là mạch máu xuyên suốt và quan trọng đầu tiên cho bất cứ
doanh nghiệp nào muốn hoạt động và tồn tại. Đối với các doanh nghiệp mà sản phẩm
chính là tiền thì nguồn vốn càng là nền tảng then chốt để hoạt động và phát triển.
Trong bối cảnh các Ngân hàng thương mại cạnh tranh gay gắt không chỉ về lãi suất
huy động vốn, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam là ngân hàng
đầu ngành trong việc huy động được các nguồn vốn có quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu
về vốn của chính mình và ít bị chao đảo với những biến động của thị trường tài chính.
Làm được như vậy là bởi mỗi cán bộ của Ngân hàng Ngoại Thương luôn ý thức được
trách nhiệm bản thân trong công tác huy động vốn cho Ngân hàng. Cụ thể là tại Sở
giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, bên cạnh chỉ tiêu được giao cho
các phòng ban liên quan tới công tác huy động vốn, thì mỗi cán bộ của Sở đều được
nhận chỉ tiêu huy động mỗi tháng. Đây cũng là một trong những yếu tố để đánh giá
chất lượng làm việc của cán bộ Sở giao dịch. Điều này đặt ra tính cấp thiết trong việc
quản lý việc hoàn thành chỉ tiêu huy động vốn của mỗi cán bộ nói riêng và các phòng
ban trong Sở giao dịch nói chung.
III. Mục đích của đề tài
Áp dụng những kiến thức đã học về phát triển hệ thống thông tin để phát triển
một hệ thống cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ, nhanh chóng,
phục vụ tốt quá trình quản lý chất lượng công việc của cán bộ. Tận dụng năng lực tài
nguyên (hệ thống máy tính), năng lực con người nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý. Hỗ trợ cho lãnh đạo trong việc quản lý nhân sự tại Sở giao dịch Ngân hàng
TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
IV. Phạm vi nghiên cứu đề tài
quan hệ giữa chúng.
Thiết kế cơ sở dữ liệu từ mô hình E-R, và mô hình quan hệ. Xác định các luồng
dữ liệu hệ thống, xác định hệ thống các giao diện, từ đó thiết kế kiến trúc hệ thống.
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTB.K11 Trang 9/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTB.K11 Trang 10/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
KÍ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNTT Công nghệ thông tin
ERM Entity - Relationships Model
Mô hình thực thể - Các mối quan
hệ
GDV Giao dịch viên
HĐV Huy động vốn
HTTT Hệ thống thông tin
NHNN Ngân hàng Nhà nước
RDBMS Relational Database Management System Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
SGD Sở giao dịch
TMCP Thương mại cổ phần
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
VCB Vietcombank
Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTB.K11 Trang 11/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN XÂY DỰNG HỆ
THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
Thu thập
Đích
Kho dữ liệu
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 12/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
Như Hình 1.1, mọi hệ thống thông tin có bốn bộ phận: bộ phận đưa dữ liệu vào,
bộ phận xử lý, kho dữ liệu, bộ phận đưa dữ liệu ra.
Trong bất kì một tổ chức nào, cũng có thể xác định 3 hệ thống bao gồm: hệ thống
điều khiển (quản lí), hệ thống thông tin (HTTT), hệ thống thực hiện (HTTH). Trong
đó, HTTT là thành tố không thể thiếu của một tổ chức, có vai trò là cầu nối liên kết với
2 hệ thống còn lại, bảo đảm cho tổ chức hoạt động đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Về mặt kỹ thuật, HTTT có thể được hiểu như một tập hợp của nhiều thành phần
liên hệ với nhau có nhiệm vụ thu thập, quản lí, xử lí, lưu trữ và phân phối thông tin để
hỗ trợ cho việc làm quyết định, phối hợp và điều hành. Về chức năng, HTTT còn có
thể sản xuất ra các thông tin “chiến lược” giúp những người quản lí và hoạt động phân
tích vấn đề, hình dung ra các đối tượng phức tạp, và làm ra các sản phẩm mới.
Rõ ràng HTTT là một yếu tố cấu thành của một tổ chức. Nhiệm vụ cơ bản của
HTTT trong tổ chức là xử lý các thông tin đầu vào, tức là thông tin dùng cho mục đích
hoạt động của tổ chức nhằm chuyển chúng về một dạng trực tiếp sử dụng được: làm
cho chúng trở thành hiểu được, tổng hợp hơn, truyền đạt được, hoặc có dạng đồ hoạ,
Từ đó hỗ trợ cho việc ra các quyết định và giúp nhà quản lí thực hiện các chức năng
quản lí. Việc lập kế hoạch, tổ chức bố trí nhân sự với nguồn lực con người đã có, thực
hiện các chức năng chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động của tổ chức đều phải dựa trên cơ
sở là HTTT. Ngoài ra HTTT còn trang bị cho các nhà quản lí các phương pháp kĩ thuật
mới trong xử lí, phân tích và đánh giá. Vì vậy HTTT trở thành một thành phần cơ bản
của một tổ chức, giữ vai trò quan trọng trong thành công của hoạt động quản lí điều
hành của một tổ chức.
Sự ra đời của một tổ chức - từ cổ chí kim - kéo theo một HTTT xuất hiện. Khi
chưa có máy tính, hoạt động của HTTT có thể được thực hiện trên các công nghệ thủ
Tiến trình phần mềm là phương cách sản xuất ra phần mềm với các thành phần
chủ yếu bao gồm: mô hình vòng đời phát triển phần mềm, các công cụ hỗ trợ cho phát
triển phần mềm và những người trong nhóm phát triển phần mềm.
Như vậy, tiến trình phát triển phần mềm nói chung là sự kết hợp cả hai khía cạnh
kỹ thuật (vòng đời phát triển, phương pháp phát triển, các công cụ và ngôn ngữ sử
dụng, …) và khía cạnh quản lý (quản lý dự án phần mềm).
Mô hình vòng đời phần mềm là các bước phát triển một sản phẩm phần mềm cụ
thể. Một vòng đời phát triển phẩn mềm thường có các pha cơ bản sau:
Pha xác định yêu cầu: khám phá các khái niệm liên quan đến việc phát triển
phần mềm, xác định chính xác yêu cầu và các ràng buộc của khách hàng với sản phẩm
phần mềm đó.
Pha phân tích: mô tả chức năng của sản phẩm, các input của sản phẩm và các
output được yêu cầu; khám phá các khái niệm trong miền quan tâm của sản phẩm và
bước đầu đưa ra giải pháp xây dựng hệ thống.
Pha thiết kế: xác định cụ thể phần mềm sẽ được xây dựng như thế nào. Pha thiết
kế bao gồm hai mức là thiết kế kiến trúc và thiết kế chi tiết.
Pha cài đặt tích hợp: cài đặt chi tiết và tích hợp hệ thống phần mềm dựa trên kết
quả của pha thiết kế.
Pha bảo trì: tiến hành sửa chữa phần mềm khi có các thay đổi. Đây là pha rất
quan trọng, tiêu tốn nhiều thời gian và chi phí nhất trong tiến trình phát triển phần
mềm.
Pha loại bỏ: thực hiện loại bỏ phần mềm hoặc thay thế phần mềm bởi một phần
mềm hoàn toàn mới.
Thông thường hai quá trình không thể thiếu được trong vòng đời phát triển phần
mềm là viết tài liệu và kiểm thử. Các quá trình này không trở thành một pha riêng biệt
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 14/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
mà được tiến hành song song với tất cả các pha khác trong tiến trình phần mềm nghĩa
là tất cả các pha đều phải viết tài liệu và kiểm thử với các mức độ khác nhau.
Có rất nhiều mô hình vòng đời phần mềm nhưng hai mô hình đơn giản và được
computer và SQL Server computer. Một RDBMS bao gồm databases, database engine
và các ứng dụng dùng để quản l. dữ liệu và các bộ phận khác nhau trong RDBMS.
SQL Server 2005 được tối ưu để có thể chạy trên môi trường cơ sở dữ liệu rất lớn
(Very Large Database Environment) lên đến Tera-Byte và có thể phục vụ cùng lúc cho
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 15/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
hàng ngàn user. SQL Server 2005 có thể kết hợp "ăn ." với các server khác như
Microsoft Internet Information Server (IIS), E-Commerce Server, Proxy Server
Các phiên bản của SQL Server 2005:
Enterprise: Hỗ trợ không giới hạn số lượng CPU và kích thước Database. Hỗ trợ
không giới hạn RAM (nhưng tùy thuộc vào kích thước RAM tối đa mà HĐH hỗ trợ)
và các hệ thống 64bit.
Standard: Tương tự như bản Enterprise nhưng chỉ hỗ trợ 4 CPU. Ngoài ra phiên
bản này cũng không được trang bị một số tính năng cao cấp khác.
Workgroup: Tương tự bản Standard nhưng chỉ hỗ trợ 2 CPU và tối đa 3GB RAM.
Express: Bản miễn phí, hỗ trợ tối đa 1CPU, 1GB RAM và kích thước Database
giới hạn trong 4GB.
1.2.2 Ngôn ngữ lập trình Visual Basic.NET
Ngôn ngữ Visual Basic ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các đề án, chương
trình thực hiện trong và ngoài nước. Visual Basic được xem là một công cụ phát triển
phần mềm thông dụng hiện nay.
Sau phiên bản Visual Basic 1.0 là Visual Basic 2.0, đã từng chạy nhanh hơn, dễ
sử dụng hơn. Đến Visual Basic 3.0 bổ sung thêm một số phương thức đơn giản, dễ
điều khiển cơ sở dữ liệu hơn. Visual Basic 4.0 bổ sung thêm hơn hỗ trợ phát triển 32
bit và bắt đầu tiến trình chuyển Visual Basic thành ngôn ngữ lập trình hướng đốI
tượng. Visual Basic 5.0 bổ sung khả năng tạo các điều khiển riêng. Visual Basic 6.0 có
thêm nhiều chức năng mạnh như các ứng dụng Internet/ Intranet. . .v.v…
Visual Basic gắn liền vớI khái niệm lập trình trực quan, nghĩa là khi thiết kế
chương trình, bạn thấy ngay được kết quả qua từng thao tác. Visual Basic cho phép
chỉnh sửa một cách đơn giản, nhanh chóng giao diện của các đốI tượng trong ứng
trong Office Visio 2007 kết nối các hình khối, phân phối chúng ngang nhau, và sắp
xếp chúng cho bạn - chỉ với 1 click. Khi bạn di chuyển các hình khối đã kết nối, chúng
vẫn được kết nối và các đường nối tự động định lại giữa các hình khối.
Office Visio 2007 được cung cấp với 2 phiên bản độc lập: Office Visio
Professional và Office Visio Standard. Office Visio Standard 2007 có các chức năng cơ
bản giống với Visio Professional 2007 và bao gồm một tập hợp các chức năng và mẫu
của nó. Office Visio Professional 2007 cung cấp các chức năng nâng cao, như kết nối
dữ liệu và chức năng hình tượng, mà Office Visio Standard 2007 không có.
1.2.4 Microsoft Visual Studio 2008
Microsoft Visual Studio là môi trường phát triển tích hợp (Integrated
Development Environment (IDE) được phát triển bởi Microsoft. Đây là một loại phần
mềm máy tính có phục vụ cho các lập trình viên trong việc phát triển phần mềm.
Các môi trường phát triển hợp nhất thường bao gồm:
- Một trình soạn thảo mã (source code editor): dùng để viết mã.
- Trình biên dịch (compiler) và/hoặc trình thông dịch (interpreter).
- Công cụ xây dựng tự động: khi sử dụng sẽ biên dịch (hoặc thông dịch) mã
nguồn, thực hiện liên kết (linking), và có thể chạy chương trình một cách tự động.
- Trình gỡ lỗi (debugger): hỗ trợ dò tìm lỗi.
- Ngoài ra, còn có thể bao gồm hệ thống quản lí phiên bản và các công cụ nhằm
đơn giản hóa công việc xây dựng giao diện người dùng đồ họa (GUI).
- Nhiều môi trường phát triển hợp nhất hiện đại còn tích hợp trình duyệt lớp
(class browser), trình quản lí đối tượng (object inspector), lược đồ phân cấp lớp (class
hierarchy diagram),… để sử dụng trong việc phát triển phần mềm theo hướng đối
tượng.
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 17/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
Như vậy, Microsoft Visual Studio được dùng để phát triển console (thiết bị đầu
cuối – bàn giao tiếp người máy) và GUI (giao diện người dùng đồ họa) cùng với các
trình ứng dụng như Windows Forms, các web sites, cũng như ứng dụng, dịch vụ web
(web applications, and web services). Chúng được phát triển dựa trên một mã ngôn
Trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp
quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của
một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước,
đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và
toàn cầu.
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày
nay đã trở thành một ngân hàng đa năng hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách
hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong
các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự
án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ
phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…
Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có lợi thế rõ nét trong
việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển
các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao. Các dịch vụ: VCB
Internet Banking, VCB Money, SMS Banking, VCB Cyber Bill Payment,…đã, đang
và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu
quả, dần tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) cho khách
hàng.
Sau gần nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện có trên 12.500
cán bộ nhân viên, với gần 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị
thành viên trong và ngoài nước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 78 chi
nhánh và hơn 300 phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2 công
ty con tại nước ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 5 công ty liên doanh, liên
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 19/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
kết. Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với khoảng
1.700 ATM và 22.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc. Hoạt động
ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia
và vùng lãnh thổ.
Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với
Hình 2.1: Tổ chức bộ máy SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.1.3 Chức năng của các phòng ban thuộc Sở giao dịch Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Phòng bảo lãnh: là phòng nghiệp vụ thuộc Sở Giao dịch Vietcombank, có chức
năng tham mưu và giúp Ban Giám đốc thực hiện các nghiệp vụ Bảo lãnh và tái bảo
lãnh của Sở Giao dịch đối với khách hàng theo các văn bản quy định hiện hành về
công tác bảo lãnh của Nhà nước, NHNN và Vietcombank, đồng thời tuân thủ các thoả
ước quốc tế, các thông lệ quốc tế và các điều lệ quốc tế về nghiệp vụ bảo lãnh ngân
hàng mà Việt Nam là nước thành viên hoặc đã cam kết tham gia.
- Phòng hành chính quản trị: là phòng chuyên môn thuộc Sở Giao dịch
Vietcombank có chức năng tham mưu và giúp Ban Giám đốc trong công tác hành
chính, quản trị tại Sở Giao dịch.
- Phòng khách hàng đặc biệt: phòng nghiệp vụ thuộc Sở Giao dịch Vietcombank,
có chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc xây dựng chính sách khách
hàng đối với khách hàng thể nhân và cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng cho
khách hàng đặc biệt của Sở Giao dịch (là những khách hàng thể nhân có số dư tiền gửi
lớn, doanh số giao dịch cao hoặc là cán bộ cao cấp của Nhà nước, cán bộ lãnh đạo các
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 21/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
ngành, . . .) theo đúng quy định, quy chế, quy trình nghiệp vụ hiện hành của Nhà nước,
NHNN VN và Vietcombank đồng thời tuân thủ các quy ước quốc tế về nghiệp vụ ngân
hàng mà Vietcombank Nam tham gia.
- Phòng kế toán giao dịch: là phòng nghiệp vụ thuộc Sở Giao dịch Vietcombank
có chức năng phục vụ đối tượng khách hàng là tổ chức (cư trú và không cư trú) có
quan hệ giao dịch với Sở Giao dịch Vietcombank theo đúng quy định, quy chế về hạch
toán, kế toán thanh toán và quy trình nghiệp vụ của Nhà nước, NHNN và
Vietcombank.
- Phòng kiểm tra giám sát tuân thủ: là phòng chuyên môn thuộc Sở Giao dịch
Vietcombank, có chức năng tham mưu và giúp Ban Giám đốc trong việc kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các văn bản của pháp luật, quy chế của NHNN, quy định của
- Phòng Thanh toán Thẻ: là phòng nghiệp vụ của Sở Giao dịch Vietcombank, có
chức năng sau: Thực hiện việc phát hành các loại thẻ ghi nợ của Vietcombank; Thực
hiện việc phát hành, thu nợ cho vay tín dụng thẻ và thanh toán các loại thẻ của
Vietcombank; Là đầu mối xử lý toàn bộ các vấn đề liên quan đến việc phát hành, thu
nợ và thanh toán các loại thẻ của Sở Giao dịch với Trung tâm thẻ và các phòng, đối tác
liên quan; Là thành viên của Ban Quản lý Quỹ ATM tại Sở Giao dịch Vietcombank.
Việc thực hiện các chức năng trên phải đảm bảo theo đúng quy định, quy chế, quy
trình nghiệp vụ hiện hành của Nhà nước, NHNN và Vietcombank đồng thời tuân thủ
các quy ước quốc tế về nghiệp vụ thẻ mà Vietcombank tham gia.
- Phòng Vốn và kinh doanh ngoại tệ: là phòng nghiệp vụ tại Sở Giao dịch Ngân
Vietcombank có chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc Sở Giao dịch về quản trị,
điều hành lãi suất, tỷ giá, phí, huy động và kinh doanh vốn VNĐ và ngoại tệ tại SGD
theo đúng các quy định về quản lý vốn và quản lý ngoại hối của NHNN VN và
Vietcombank.
- Phòng đầu tư dự án: là phòng nghiệp vụ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam có chức năng: Đầu mối phát triển sản phẩm đầu tư dự án;
Phân tích rủi ro và thẩm định cấp tín dụng đầu tư dự án đối với khách hàng.
- Phòng Kinh doanh dịch vụ: là phòng nghiệp vụ thuộc Sở Giao dịch Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng trực tiếp cung cấp các sản phẩm dịch vụ
của Ngân hàng Ngoại thương như: dịch vụ tài khoản, các dịch vụ liên quan đến tiền tệ,
thanh toán đối ngoại dành cho khách hàng cá nhân, các sản phẩm huy động vốn… theo
đúng các quy định của Pháp luật và của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
- Phòng khách hàng: là phòng nghiệp vụ thuộc Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam có chức năng: Đầu mối duy trì và phát triển quan hệ với
khách hàng trên tất cả các mặt hoạt động, tất cả các sản phẩm ngân hàng; Phân tích rủi
ro và thẩm định giới hạn tín dụng, cấp tín dụng đối với khách hàng
- Phòng Khách hàng thể nhân: là phòng nghiệp vụ thuộc Sở Giao dịch Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam có chức năng sau: Đầu mối duy trì, phát triển và
quản lý quan hệ với khách hàng là thể nhân trên tất cả các mặt hoạt động, tất cả các
sản phẩm ngân hàng; Trực tiếp cấp tín dụng đối với khách hàng là thể nhân theo đúng
Bộ tiêu chuẩn bình xét chi trả lương hàng tháng (Bộ tiêu chuẩn V1.2) tại SGD
Vietcombank được xây dựng và thống nhất bởi Hội đồng lương của SGD. Việc áp
dụng bộ tiêu chuẩn với mục đích nâng cao hiệu quả công tác đối với cán bộ, khuyến
khích cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ để đưa hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch
phát triển không ngưng, đáp ứng yêu cầu ngày càng đổi mới của Ngân hàng, và là một
trong những cơ sở để Hội đồng lương xem xét đánh giá tính điểm lương kinh doanh
cho cán bộ. Bộ tiêu chuẩn gồm 8 tiêu chí, chấm theo thang điểm 100, với mỗi mức
điểm là môt mức lương công việc tuơng ứng. Căn cứ vào tổng số điểm cán bộ đạt
được theo tiêu thức chấm điểm hàng tháng trên, Hội đồng lương Sở giao dịch Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam phân loại lao động, và xếp loại lương cán bộ vào
các mức như sau:
- Đạt 90-100điểm: xếp vào mức 1(100% bậc lương của mã lương công việcV1.2)
- Đạt 80-89 điểm: xếp vào mức 2 (95% bậc lương của mã lương công việc V1.2)
- Đạt 70-79 điểm: xếp vào mức 3 (90% bậc lương của mã lương công việc V1.2)
- Dưới 69 điểm: xếp vào mức 4 (80% bậc lương của mã lương công việc V1.2)
Cuối mỗi tháng, từng cá nhân phải tự đánh giá kết quả làm việc cá nhân trong
tháng dựa trên tiêu chuẩn điểm đã thống nhất và tự nhận xếp loại mức của bậc lương
công việc, trên cơ sở đó lãnh đạo phòng sẽ chấm điểm đánh giá cho cán bộ phòng
mình phụ trách. Các phòng/tổ phải hoàn thành việc chấm điểm trước ngày làm việc
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 24/60
Khóa luận tốt nghiệp PTHT hỗ trợ QL chất lượng công việc SGD VCB
thứ 2 hàng tháng. Hội đồng lương Sở giao dịch họp xét lương chậm nhất không quá
ngày 10 hàng tháng.
Bên cạnh bộ tiêu chuẩn V1.2, Sở giao dịch VCB còn áp dụng bộ tiêu chuẩn dành
riêng cho các giao dịch viên của Sở với mục đích nâng cao chất luợng phục vụ khách
hàng. Do tính chất công việc của các giao dịch viên tại các phòng khác nhau là khác
nhau, nên bộ tiêu chuẩn GDV đuợc chia thành 3 nhóm tiêu chuẩn. Các tiêu chí trong
bộ tiêu chuẩn đuợc xây dựng bởi Ban chỉ đạo và việc chấm điểm GDV cũng triển khai
tương tự như chấm điểm V1.2. Vào cuối mỗi quý, Ban chỉ đạo dựa trên bảng điểm
tổng hợp của các giao dịch viên để xếp hạng khen thưởng những giao dịch viên hoàn
Tạ Hồng Nhung – Lớp HTTTB.K11 Trang 25/60