yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng đối với hệ thống ngân hàng thương mại ở hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2013 - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG
ĐỀ TÀI MÔN HỌC XUẤT SẮC
UEH500 - NĂM 2014

TÊN CÔNG TRÌNH:
THUỘC NHÓM NGÀNH:
2
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
Ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, đóng vai trò trung gian tài chính,
đi vay để cho vay, góp phần vào quá trình luân chuyển nguồn vốn. Chính vì tính chất
đặc thù này mà sự tồn tại hay phát triển của bất kì một ngân hàng nào cũng ảnh hưởng
đến sự tồn tại hay phát triển của nền kinh tế, trong phạm vi và mức độ phụ thuộc vào
nguồn tiền mà nó đóng góp vào nền kinh tế. Ngay từ những ngày đầu tiên khi nền công
nghiệp ngân hàng ra đời và phát triển, tín dụng đã là một phần không thể thiếu, một
chức năng đặc trưng, tiêu biểu trong hoạt động của nó. Ngày nay, cùng với sự phát triển
chung của ngành Ngân hàng, hoạt động tín dụng cũng có những tiến bộ đáng kể, ngày
càng có nhiều cách thức cho vay với quy mô và hình thức không hạn chế. Tuy ngày
càng có nhiều sản phẩm dịch vụ ra đời và từng bước được nâng cao, nhưng cho vay vẫn
chiếm từ 1/2 đến 2/3 tổng tài sản của một ngân hàng, và vẫn là một nguồn thu vô cùng
quan trọng trong mỗi hệ thống ngân hàng. Không những thế, đứng trước xu thế phát
triển của thời đại, sự bùng nổ của khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin và sự phát
triển chung của nền kinh tế toàn cầu theo hướng hội nhập, việc quản lý hoạt động tín
dụng, phát hiện và phòng chống rủi ro tín dụng là một nhiệm vụ cấp thiết, quan trọng
và mang tính sống còn đối với công tác quản lý cũng như sự phát triển chung của ngân
hàng thương mại. Từ những tác động nặng nề của rủi ro tín dụng đến hệ thống ngân
hàng thương mại nói riêng và đến toàn nền kinh tế nói chung, nghiên cứu sự tác động
của các yếu tố quyết định hiệu quả cho vay ở những ngân hàng nhằm đưa ra một nhận

và đưa ra một cái nhìn tổng quát về rủi ro tín dụng của nền kinh tế thị trường ở các
nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn 2005-2013,
trên cơ sở đó nhận dạng các yếu tố tác động đến hiệu quả cho vay của các ngân hàng tại
Việt Nam. Cuối cùng, dựa theo các số liệu đã phân tích, đề xuất một số kiến nghị liên
quan đến các nhà làm chính sách khi hướng đến việc hỗ trợ hoạt động kinh doanh của
một số ngân hàng thương mại trong việc phòng tránh rủi ro tín dụng.
3. Phương pháp nghiên cứu
4
Bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận dữ liệu bảng điều khiển động trong giai
đoạn 2005-2013 để kiểm tra những yếu tố quyết định việc cho vay không hiệu quả
trong cả hai hệ thống ngân hàng; ngân hàng Việt Nam và ngân hàng Trung Quốc.
Phương pháp nghiên cứu định lượng trong đó mô hình GMM đóng vai trò chủ
đạo để kiểm định tác động của các nhân tố vi mô và vĩ mô đến rủi ro tín dụng trong hai
hệ thống ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam.
4. Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm cóba phần.Phần đầu tiên sẽ trình bày những cơ sở lí thuyết về
vấn đề rủi ro tín dụng, đồng thời sơ lược về những nghiên cứu, học thuyết trước đây
trong việc quản lý rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng. Phần thứ hai sẽnêu lên thực
trạn về rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam và Trung Quốc sau đó tiến
hành xây dựng mô hình thực nghiệm cho các nhân tốảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở
hai nước Trung Quốc và Việt Nam, từ mô hình thực nghiệm trên chúng tôi sẽ tổng hợp
và phân tích kết quả của mô hình nhằm đưa ra những kết luận để trả lời những câu hỏi
về vấn đề rủi ro tín dụng ở hai quốc gia. Bên cạnh đó, dựa vào những kết quả có được,
phần cuối cùng sẽ là một số kiến nghị và đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện mô
hình quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng hiện nay.
5. Đóng góp của đề tài
Bài nghiên cứu này cung cấp một sự so sánh có chiều sẩu về hệ thống tín dụng
ngân hàng ở Việt Nam và Trung Quốc.Cả hai quốc gia thường được nghiên cứu như là
một phần của khu vực Đông Á và hiếm khi được so sánh với nhau.Bên cạnh đó, bài viết
này so sánh tất cả các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân

1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Biến vi mô
1.1.1.1. Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến rủi ro tín dụng
Đây được xem là một cách kiểm soát rủi ro cho vay dự kiến, cho phép phát hiện
ra và bảo đảm mức độ cao về tổn thất tín dụng của các khoản cho vay. Theo Hasan và
Wall (2003), những ngân hàng dự đoán mức độ cao về mất mát vốn thì nên xây dựng
những khoản dự phòng cao hơn để làm giảm biến động thu nhập. Bên cạnh đó, theo
Halling (2006), tỉ lệ chi phí dự phòng rủi ro trên thu nhập từ hoạt động kinh doanh kì
vọng đồng biến với rủi ro, nhưng do bị biến đổi trong quá trình hồi quy nên không có ý
nghĩa.
1.1.1.2. Tác động của hiệu quả sử dụng vốn đến rủi ro tín dụng
Hiệu quả sử dụng vốn được định nghĩa là thước đo đánh giá trình độ quản lý, điều
hành trong việc xếp hạng tín dụng, thẩm định tài sản thế chấp và giám sát khách hàng.
Có nhiều cách để đo lường biến này:
INEF = Chi phí hoạt động/Tổng tài sản
Hoặc INEF = Chi phí hoạt động/Thu nhập hoạt động
Berger và Deyoung (1997) đã phân tích nhiều tình huống trong đó rủi ro tín dụng
liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn, và thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa hiệu
quả sử dụng vốn và rủi ro trong những ngân hàng phá sản. Trên thực tế, mức độ hiệu
quả thấp sẽ buộc các ngân hàng đẩy mạnh lợi nhuận của mình bằng cách tham gia vào
các hợp đồng tín dụng có rủi ro cao để hưởng được tỷ suất sinh lợi cao hơn; ngược lại,
sự tăng lên trong rủi ro tín dụng sẽ khiến cho các ngân hàng gánh chịu thêm nhiều
khoản chi phí phát sinh cũng như nỗ lực để giám sát các khoản nợ xấu, từ đó đưa đến
10
mức độ hiệu quả thấp. Do đó, mối quan hệ giữa việc hiệu quả sử dụng và tỷ lệ nợ xấu
có thể đồng biến hoặc nghịch biến.
1.1.1.3. Tác động của chỉ số khả năng thanh toán đến rủi ro tín dụng
Được đo lường bằng tỉ lệ hiệu số giữa tài sản thanh khoản và vay mượn ngắn hạn
từ tổ chức tín dụng trên tổng tiền gửi. Theo nghiên cứu của Montgomery (2004), tỷ lệ
này có quan hệ đồng biến với rủi ro tín dụng nhưng không có ý nghĩa thống kê.Bên

tài sản có quan hệ nghịch biến với rủi ro, có nghĩa là đòn bẩy càng cao thì rủi ro phá sản
giảm.
1.1.1.7. Tác động của tỉ lệ thu nhập ngoài lãi – Thu nhập ngoài lãi trên
tổng thu nhập đến rủi ro tín dụng
Theo Louzis và cộng sự (2012), tỉ lệ này phản ánh thực các ngân hàng phụ thuộc
vào các loại thu nhập thay thế khác hơn là thu nhập lãi, và do đó, dựa vào các nguồn đa
dạng của doanh thu, mối quan hệ nghịch biến giữa nợ xấu và thu nhập ngoài lãi được
kỳ vọng.
Cũng từ nghiên cứu của Logan (2001), tỉ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập
quan hệ đồng biến với rủi ro phá sản. Sự phụ thuộc vào thu nhập lãi thuần làm tăng rủi
ro ngân hàng tại năm đang xét, tuy nhiên những năm trước đó thì không có ý nghĩa
thống kê. Theo Halling (2006), tỉ lệ lợi nhuận từ hoạt động chính trên tổng tài sản cũng
đồng biến với rủi ro ngân hàng. Trong khi đó kết quả của Jordan (2011) thì tỉ lệ thu
nhập ngoài lãi trên thu nhập từ lãi của năm trước quan hệ đồng biến với rủi ro ngân
12
hàng, có nghĩa là việc đa dạng hóa thu nhập mà giảm thu nhập từ lãi có thể tăng nguy
cơ phá sản ngân hàng do không giữ được thị phần và khách hàng truyền thống
1.1.2. Biến vĩ mô
1.1.2.1. Tác động của lạm phát đến rủi ro tín dụng
Lạm phát có thể có tác động hỗn hợp đến nợ xấu. Fofack (2005) cho thấy tỷ lệ
lạm phát góp phần làm tăng số nợ xấu ở những nước Châu Phi cận Sahara. Tỷ lệ lạm
phát cao dẫn tới sự suy giảm nhanh chóng vốn sở hữu của các ngân hàng thương mại và
mức độ nợ xấu lớn hơn.Chase et al. (2005) cũng tìm thấy mối tương quan đáng kể giữa
lạm phát và nợ xấu.Tuy nhiên, Dash và Kabra (2010) đã không tìm thấy bằng chứng về
mối quan hệ này.
Lạm phát cao có thể làm cho nợ xấu tăng dễ dàng hơn vì : thứ nhất, có thể giảm
giá trị thực của các khoản vay nợ, và thứ hai, có mối quan hệ nghịch với tỉ lệ thất
nghiệp – theo nghiên cứu của Castro, 2013 về đường cong Phillips . Bên cạnh đó, nợ
xấu làm giảm khả năng trả nợ của người đi vay bằng cách giảm thu nhập thực tế của họ.
Ở những nước mà lãi suất cho vay thay đổi, lạm phát có tác động bất lợi đến khả năng

suất.trong nền kinh tế thị trường. Khi đồng nội tệ mất giá khối lượng nội tệ cung ứng
ngoài thị trường lớn đòi hỏi phải điều chỉnh tăng lãi suất, trong trường hợp này làm
tăng chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ.Từ đó làm cho lãi suất cho vay
tăng, điều này sẽ tác động xấu đến sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến sự
suy giảm khả năng trả nợ của họ.
Sự gia tăng trong tỉ giá hối đoái có những tác động hỗn hợp. Những nghiên cứu
thực nghiệm của Castro (2013 ), Nkusu (2011 ) cho thấy biến số này dùng để kiểm soát
khả năng cạnh tranh bên ngoài. Theo Fofack (2005), sự đánh giá cao của biến này có
thể làm suy yếu tính cạnh tranh của những công ty theo định hướng xuất khẩu và làm
14
cho họ không thể trả nợ. Hơn thế nữa, sự đánh giá cao đồng nội tệ làm cho hàng hóa và
dịch vụ đắt hơn.Tuy nhiên, sự gia tăng trong tỉ giá hối đoái có thể cải thiện khả năng
của người đi vay đồng ngoại tệ để trả nợ (Nkusu, 2011). Do đó, mối quan hệ giữa tỉ giá
hối đoái và nợ xấu có thể là đồng biến hoặc nghịch biến.
Lí thuyết nền tảng về rủi ro tín dụng trong hệ thống NH (theo yêu cầu của bạn,
bạn đánh giá dùm tui, chứ tui thấy tác động của từng yếu tố đến rủi ro tín dụng là đủ
ròi)
1.1.3. Rủi ro tín dụng
1.1.3.1. Khái niệm
Rủi ro tín dụng có thể được hiểu là mối đe doạ, bị tổn thương một phần nguồn
vốn của ngân hàng hoặc không đạt được thu nhập hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ
sung để thực hiện các nghiệp vụ nhất định.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt
động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Hoạt động ngân hàng không thể tránh khỏi rủi ro, quá trình mở rộng kinh doanh
càng đi liền với mở rộng phạm vi rủi ro. Hoạt động ngân hàng còn bao gồm nhiều
nghiệp vụ, mỗi nghiệp vụ gắn liền với rủi ro khác nhau, do đó luôn đòi hỏi phải sử
dụng các biện pháp bảo vệ và các biện pháp khác để giảm bớt các thiệt hại, mất mát có
thể xảy ra.

được phân loại thành hai nhóm: yếu tố vĩ mô và yếu tô vi mô.
16
Trong đó, cách tiếp cận theo hướng kiểm tra sự tác động của các biến vĩ mô đến
rủi ro tín dụng chiếm đa số. Shu (2002), Zribi và Boujelbene (2011) và Vogiazas và
Nikolaidou (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ số lạm phát đến rủi ro tín dụng ở
HongKong, Tunisia, Rumani, kết quả tìm được cho thấy 2 yếu tố này tỉ lệ nghịch với
nhau. Tuy nhiên, một vài nhà nghiên cứu khác lại tìm thấy những kết quả ngược
lại.Tiêu biểu như Gunsel (2008) và Rinaldi và Sanchis-Arellano (2006) lại cho ra kết
quả tỉ lệ thuận.
Castren và cộng sự (2008) tìm hiểu mối quan hệ giữa nợ xấu với tăng trưởng kinh
tế, tỷ giá hối đoái, giá xăng dầu ở các nước EU. Otani, Shiratsuka & Yamada (2009)
thuộc Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã thiết kế một mô hình vĩ mô bao gồm các biến
GDP thực, CPI, tỷ giá danh nghĩa, lãi suất và tổng dư nợ. Jakubik & Schmieder (2008)
đã nhận thấy ảnh hưởng của tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực, tỷ lệ
lạm phát, chênh lệch lãi suất, tốc độ tăng trưởng GDP thực, chênh lệch sản lượng, tỷ số
nợ trên GDP, tỷ số lãi phải trả trên thu nhập khả dụng với các khoản nợ xấu ở Cộng hòa
Czech.
Rinaldi và Sanchis-Arellano (2006) phân tích sự bền vững của nợ hộ gia đình ở
các nước châu Âu( như Bỉ, Pháp, Phần Lan, Ireland, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha)
và cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng thu nhập sẵn có, thất nghiệp và các điều kiện
lưu thông tiền tệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến rủi ro tín dụng ngân hàng. Berge và
Boyne(2007) chỉ ra rằng các khoản vay rất nhạy cảm với lãi suất thực và tỉ lệ thất
nghiệp trong hệ thống ngân hàng Bắc Âu giai đoạn 1993-2005.
Funda Yurdakul (2013) nhận định rằng rủi ro tín dụng của ngân hàng chịu ảnh
hưởng của tình trạng kinh tế, rủi ro tín dụng NH giảm trong giai đoạn kinh tế tăng
trưởng, khi mà có sự cải thiện các chỉ báo vĩ mô, trong khi rủi ro tín dụng sẽ tăng trong
giai đoạn khủng hoảng và suy thoái. Nghiên cứu này cũng ủng hộ quan điểm đó.Theo
ông, một môi trườngkinh tế mạnh như Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không chịu bất kì vấn đề nào về
rủi ro tín dụng ngân hàng.
17

tố quyết định tiềm năng đã được kết hợp trong các mô hình thử nghiệm.Họ sử dụng
cách tiếp cận dữ liệu bảng động trong giai đoạn 2005-2011 để kiểm tra những yếu tố
quyết định việc cho vay không hiệu quả trong cả hai hệ thống ngân hàng ở hai nền kinh
tế, cụ thể là kinh tế thị trường, đại diện Pháp, và nền kinh tế dựa trên ngân hàng, đại
diện Đức. Họ nhận thấy rằng tất cả những biến số vĩ mô, đặc biệt là tốc độ phát triển
GDP, lãi suất, tỉ lệ thất nghiệp, và tỉ giá hối đoái có tác động mạng mẽ lên cả 2 nền kinh
tế. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là tỉ lệ lạm phát ở Pháp. Song, cả hai hệ thống ngân
hàng chỉ có chung hai yếu tố quyết định rủi ro tín dụng trong nội bộ ngân hàng, chính là
quy mô và lợi nhuận. Ngoài những yếu tố quyết định chung, việc cho vay không hiệu
quả còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như: rủi ro của ngân hàng Pháp được quyết
định bởi điều khoản rủi ro tín dụng và sự kém hiệu quả, trong khi đó yếu tố quyết định
việc cho vay không hiệu quả của những ngân hàng Đức phụ thuộc vào tác động đòn
bẩy của các ngân hàng. Do đó, phân tích này nhấn mạnh rằng rủi ro tín dụng trong nền
kinh tế thị trường cao hơn trong nền kinh tế dựa trên ngân hàng, và rủi ro cao hơn này
được hình thành bởi một số lượng lớn các yếu tố ngân hàng cụ thể của Pháp so với
Đức.
Dưới đây là bảng tổng hợp những nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng
đến rủi ro tín dụng của ngân hang được thực hiện ở nhiều nước khác nhau trên thế giới
cùng với phương pháp nghiên cứu và kết quả của chúng :
Bảng 1: Tổng hợp những bài nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến hệ
thống ngân hàng
Bài nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả
Vĩ mô
Castro (2013).
Macroeconomic
determinants of the
credit risk in the
banking system: The
Hy Lạp, Ai Len,
Tây Ban Nha và

2009
Phương pháp cấu
trúc và phương
pháp rút gọn
Cùng 1 bộ biến vĩ mô
cho thấy những kết
quả khác nhau giữa 2
quốc gia. GDP, lãi
suất ngắn hạn, tổng nợ
để giải thích rủi ro vỡ
nợ ở 2 nước. Nền kinh
tế Mỹ dễ bị tổn thương
bởi các cú sốc bất lợi
về vĩ mô hơn là Úc
Rinaldi and Sanchis-
Arellano (2006).
Household debt
sustainability: what
explains household
non-performing loans?
An Empirical Analysis.
ECB Working Paper
Bỉ, Pháp, Phần
Lan, Ai Len và
Tây Ban Nha
Phân tích kiểm
tra bằng đồ thị
Thu nhập khả dụng,
thất nghiệp và tình
trạng tiền tệ ảnh

(2007).
Multi-country study of
bank credit risk
determinants. Int. J.
Bank. Finance 5 (1),
135–152
Các nền kinh tế
phát triển (Úc,
Pháp, Mỹ) so
sánh với các nền
kinh tế mới nổi
(Ấn Độ, Hàn
Quốc, Malaysia,
Phương pháp dữ
liệu chéo
Vốn pháp định là quan
trọng với hệ thống
ngân hàng nhờ việc
chắc chắn được phạm
vi của sản phẩm, chất
lượng quản trị có tính
quyết định trong việc
20
Mexico, Thái
Lan) trong giai
đoạn 1996 –
2002
quản trị các khoản vay
của ngân hàng ở các
nền kinh tế mới nổi,

business and consumer
loan portfolios. J.
Bank. Finance 36 (4),
1012–1027
Ngành ngân
hàng Hy Lạp
giai đoạn 2003 –
2009
Phương pháp dữ
liệu bảng động
Các vấn đề về nợ hầu
hết được giải thích bởi
các biến vĩ mô (Tốc
độ tăng GDP thực, tỷ
lệ thất nghiệp, lãi suất,
nợ công). Cũng được
giải thích bởi 1 số biến
vi mô như là các chỉ
báo về kết quả kinh
doanh và hiệu suất
Zribi and Boujelbène
(2011)
The factors influencing
bank credit risk: the
case of Tunisia. J.
Account. Tax. 3 (4),
70–78.
10 NHTM
Tunisi từ 1995
đến 2008

vĩ mô, đặc biệt là tốc
độ phát triển GDP, lãi
suất, tỉ lệ thất nghiệp,
và tỉ giá hối đoái có
tác động mạng mẽ lên
cả 2 nền kinh tế. Phân
tích này nhấn mạnh
rằng rủi ro tín dụng
trong nền kinh tế thị
trường cao hơn trong
nền kinh tế dựa trên
ngân hàng, và rủi ro
cao hơn này được hình
thành bởi một số
lượng lớn các yếu tố
vi mô của Pháp so với
Đức.
Tiếp theo sẽ là bảng thể hiện các biến được sử dụng trong các bài nghiên cứu
trên, từ đó so sánh với các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu của chúng tôi :
Bảng 2: So sánh các biến sử dụng trong các bài nghiên cứu trước đây với các
biến sử dụng trong bài
Bài nghiên cứu Biến
Biến được sử dụng trong
bài
Castro (2013).
Macroeconomic
determinants of the credit
risk in the banking system:
The case of the GIPSI.
Econ. Model. 31,

Household debt
sustainability: what
explains household non-
performing loans? An
Empirical Analysis. ECB
Working Paper
Nợ của hộ gia đình
Thu nhập khả dụng
Tỷ lệ tổng tài sản tài chính
của HGĐ trên thu nhập khả
dụng
Lãi suất cho vay thực
Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ lạm phát
Podpiera and Weill (2008).
Bad luck or bad
management? Emerging
banking market
experience. J. Financ. Stab.
4, 135–148
Hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn
Ahmad and Ariff (2007).
Multi-country study of
Hiệu quả quản trị
Dự phòng rủi ro Dự phòng rủi ro
23
bank credit risk
determinants. Int. J. Bank.

Tăng trưởng GDP
Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ nợ công
Vi mô
ROE
Tỷ suất khả năng hoàn trả
Qui mô
Thu nhập ngoài lãi
Tỷ lệ và quy mô đòn bẩy tài
chính
Mức độ vốn Nhà nước
Tăng trưởng GDP
Tỷ lệ thất nghiệp
ROE
Qui mô
Thu nhập ngoài lãi
24
Zribi and Boujelbène
(2011)
The factors influencing
bank credit risk: the case
of Tunisia. J. Account.
Tax. 3 (4), 70–78.
Vĩ mô
Lạm phát
Tốc độ tăng GDP
Lãi suất
Tỷ giá
Vi mô
Tỷ suất khả năng sinh lời

Tỷ giá
NPLs
Dự phòng rủi ro tín dụng
Suất đòn bẩy
Tỉ lệ khả năng thanh toán
25
Thu nhập ngoài lãi
Quy mô
Lợi nhuận ngân hàng
Thu nhập ngoài lãi
Quy mô
Như vậy, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng các biến vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, tỉ lệ
tăng trưởng GDP, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, các biến vi mô như hiệu
quả sử dụng vốn, dự phòng rủi ro tín dụng, đòn bẩy, chỉ số khả năng thanh toán, thu
nhập ngoài lãi và quy mô ngân hàng để xác định ảnh hưởng của chính các biến đó với
rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng. Về kết quả tác động của từng biến có thể cho
ảnh hưởng khác nhau ở các quốc gia khác nhau do sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã
hội… Bài nghiên cứu của chúng tôi đã chọn lọc sử dụng những biến phổ biến, được các
nhà nghiên cứu sử dụng nhiều nhất trong các bài nghiên cứu về lĩnh vực rủi ro tín dụng
ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status