Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN ĐẠI MINH
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN TRƢỜNG
TRUNG CẤP NGHỀ NAM THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2011 ÷ 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS Phạm Hồng Quang
việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an
sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với
biến đổi khí hậu”;
3
- “ Thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực y tế, việc
làm, dạy nghề và giảm nghèo…”;
- “…Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước…”.
Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khoá XI còn nhấn mạnh: “Sớm
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ; tập trung chuyển từ đào tạo chiều rộng sang chiều sâu, quan tâm đặc biệt đến
đào tạo nghề Huy động các nguồn lực xã hội cho công tác giảm nghèo, có giải pháp
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc.”
Giai đoạn 2011-2020 và các năm tiếp theo có thêm một yêu cầu mới mang
tính đặc thù đối với giáo dục nghề nghiệp là đào tạo nguồn nhân lực trước yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế khi nước ta trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Yêu cầu đối với giáo dục nghề nghiệp khắt khe hơn để
đáp ứng cho một nền kinh tế mang tính quốc tế hoá và đa văn hoá; đồng thời giáo
dục nghề nghiệp cũng đứng trước một môi trường mới mà ở đó có sự cạnh tranh
gay gắt nhưng hết sức bình đẳng giữa các trường, cơ sở dạy nghề thuộc mọi thành
phần kinh tế cả trong lẫn ngoài nước.
Năng lực hiện tại của Trường Trung cấp nghề Nam Thái Nguyên còn hạn
chế. Một trong các nguyên nhân là việc xây dựng kế hoạch chiến lược chưa được
quan tâm, trong khi các nhiệm vụ phải bắt đầu từ quy hoạch kế hoạch với tầm nhìn
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở quy hoạch phát triển Trường Trung cấp nghề Nam Thái Nguyên
giai đoạn 2011 ÷ 2020, tạo tiền đề chiến lược phát triển nhà trường, góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo nghề ở tỉnh Thái Nguyên.
3. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƢỢNG KHẢO SÁT
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Nghiên cứu quy hoạch phát triển và tổ chức quản lý trường trung cấp nghề
5
dựa trên các lĩnh vực hoạt động chủ chốt của Trường Trung cấp nghề Nam Thái
Nguyên (về quy hoạch phát triển đào tạo nghề, phát triển đội ngũ, xây dựng cơ sở
vật chất và hạ tầng kỹ thuật, v .v ).
3.2 Đối tƣợng khảo sát:
Hệ thống các yếu tố lý luận và thực tiễn của chiến lược đào tạo nghề thông
qua các biện pháp xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển nhà trường giai đoạn
2011 ÷ 2020.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nội dung giới hạn gồm: quy hoạch phát triển trường trung cấp nghề trong 10
năm tới, trên các lĩnh vực hoạt động chủ chốt của nhà trường là: quy hoạch phát
triển đào tạo nghề, phát triển các nghề trọng điểm, phát triển đội ngũ, xây dựng cơ
sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật, phát triển nguồn tài chính, phát triển tổ chức - quản
lý và kiểm định chất lượng dạy nghề,
Các vấn đề trọng tâm cần giải quyết được xác định trong từng giai đoạn.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu hệ thống hoá các vấn đề lý luận về quy hoạch phát triển nói
chung và quy hoạch phát triển đối với cơ sở đào tạo nghề nói riêng.
- Khảo sát thực tiễn phát triển của Trường TCN Nam Thái Nguyên, từ đó xác
định các nội dung quy hoạch phát triển cho nhà trường đến năm 2020.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xác định cơ sở lý luận và thực tiễn trong quy hoạch phát triển đối với Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
ĐỐI VỚI CƠ SỞ ĐÀO TẠO
7
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Kế hoạch và quy hoạch:
- Kế hoạch: Trong kinh tế học đã định nghĩa kế hoạch là bản thiết kế bước đi
cho hoạt động tương lai, để đạt được mục tiêu đã định thông qua việc sử dụng các
nguồn lực. Việc lập kế hoạch đã có lịch sử từ lâu và là một chức năng quan trọng
trong công tác quản lý cả ở tầm vĩ mô cũng như ở từng cơ sở. Giai đoạn phát triển
đầu tiên của việc lập kế hoạch là lập kế hoạch tài chính sơ đẳng. Ở giai đoạn này,
mối quan tâm đầu tiên là giải quyết các hạn hẹp về mặt tài chính thông qua việc
kiểm tra tác nghiệp chặt chẽ, lập phân bổ ngân sách hàng năm, tập trung chú ý đến
các chức năng hoạt động, tài chính v.v. Căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng và
khoảng thời gian thực hiện kế hoạch, có thể chia kế hoạch thành các loại như sau:
+ Kế hoạch ngắn hạn: nhằm thực hiện một vài nhiệm vụ cụ thể, trong một
thời gian ngắn trước mắt;
+ Kế hoạch dài hạn: để thực hiện nhiệm vụ từ 2 ÷ 5 năm;
+ Kế hoạch tầm chiến lược: thực hiện nhiệm vụ từ 5÷20 năm.
- Quy hoạch: quy hoạch là kế hoạch được đặt ra với một tổ chức, có sự thống
nhất của cơ quan quản lý, thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Có nhiều loại quy hoạch, như: quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, quy
hoạch không gian - xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật, quy hoạch phát triển nghề
nghiệp… Trải qua hoạt động thực tiễn, việc lập quy hoạch được thực hiện với từng
lĩnh vực cụ thể có thời gian thực hiện giới hạn, quy hoạch xây dựng với mỗi tổ
mục tiêu được tổ chức xác định.” (ipedia/strategicplan)
Lập kế hoạch-quy hoạch phát triển có tác dụng hỗ trợ cho nhà trường/tổ chức
thích ứng được với những thay đổi của đời sống kinh tế xã hội, góp phần huy động
một cách hiệu quả các nguồn lực, xác định các lĩnh vực và lý do sử dụng các nguồn
lực cũng như các kết quả đạt được. Mọi tổ chức muốn tồn tại và phát triển trong
nền kinh tế thị trường đều cần phải xác định cho mình sứ mệnh, mục tiêu, bước đi
và lập kế hoạch–quy hoạch để thực hiện bước đi đó. Lập quy hoạch phát triển được
9
coi là: “Một hoạt động có tính hướng đích nhằm xác định một cách chính xác
chúng ta (tổ chức) muốn đến đâu và làm thế nào để đến đó” [13, Tr 114].
Trong các tài liệu, các tác giả đã nhấn mạnh tính quá trình và sự định hướng
vào đổi mới của lập quy hoạch phát triển. Lập quy hoạch phát triển không chỉ
hướng vào giải quyết các thách thức hiện tại mà còn dự báo các diễn biến có thể
xảy ra để lập kế hoạch-quy hoạch cho sự phát triển. Do vậy, lập quy hoạch phát
triển còn là lập kế hoạch cho sự thay đổi, cho quá trình có sự tham gia của nhiều
thành phần trong tổ chức.
“Quy hoạch chiến lược định nghĩa như sự phân tích có hệ thống về nhà
trường/tổ chức và môi trường của nó, qua đó đưa ra một tổ hợp các mục tiêu chiến
lược chủ chốt nhằm giúp cho nhà trường/tổ chức đạt đến tầm nhìn của mình trong
phạm vi các giá trị và tiềm năng nguồn lực sẵn có” [2, Tr 5].
“Lợi ích của kế hoạch-quy hoạch chiến lược phát triển là giúp cho một tổ
chức ý thức được những thay đổi ở môi trường bên ngoài và tạo điều kiện cho nó
đương đầu một cách có hiệu quả với những thay đổi đó; có ý thức về mục tiêu
chung; tạo điều kiện cho tổ chức đánh giá khả năng của chính mình và phối hợp
hoạt động để đạt được mục tiêu đó, tạo điều kiện để tổ chức đánh giá ý nghĩa của
đường lối hành động đã cam kết, tạo cơ hội lôi kéo mọi người trong tổ chức tham
gia vào xây dựng và triển khai những quyết định cho tương lai của tổ chức; xây
dựng những nền tảng cho việc ra quyết định. Quy hoạch phát triển còn nhằm nâng
cao kết quả hoạt động của tổ chức; xây dựng hoạt động chung của các tổ chức và
lý chung của quy hoạch phát triển cho một tổ chức và tính đến những nét đặc thù của
cơ sở đào tạo. “Tổ chức giáo dục và các tổ chức nhân lực khác được coi là hệ thống
mở, liên kết lỏng và dễ thẩm thấu. Mục tiêu của giáo dục thường không tường minh.
Do vậy, hệ tư duy mềm dẻo cần được sử dụng trong lập kế hoạch giáo dục. Mô hình
duy lý có thể được sử dụng trong lập kế hoạch phân bổ ngân sách, quy hoạch xây
dựng cơ sở vật chất, phân tích giá thành, dự báo tuyển sinh. Những vấn đề liên quan
đến mục tiêu, nhu cầu, tính công bằng cần có quan hệ với cách tiếp cận tư duy hệ
11
thống mềm, lý giải trên cơ sở tương tác. Mô hình tương tác trong lập kế hoạch (quy
hoạch) giáo dục-đào tạo cho phép giải thích nhiều mặt của hiện tượng và tìm ra khả
năng hoà giải” [17, Tr 127-138].
Lập quy hoạch phát triển đào tạo là thiết kế sự đổi mới tiến hành trên cơ sở
xác định sứ mạng, các mục tiêu dài hạn và chiến lược đạt các mục tiêu đó với
nguồn lực để đạt các mục tiêu mà cơ sở đào tạo (hay tổ chức) đã đặt ra. Mục đích
kiến tạo tương lai sẽ đạt được thông qua việc huy động toàn bộ nguồn lực để xây
dựng ưu thế cạnh tranh, áp dụng khung quy hoạch phát triển, quy trình lập quy
hoạch linh hoạt, sáng tạo và hệ thống trợ giúp về giá trị. Đây chính là giai đoạn lập
quy hoạch chiến lược phát triển của tổ chức.
Lập quy hoạch phát triển đào tạo là một quá trình thực hiện trên cơ sở xác
định sứ mạng và tầm nhìn với các mục tiêu phát triển đào tạo cùng các giải pháp
khả thi thông qua việc áp dụng cách thức kết hợp nguồn lực và các hoạt động để
đạt mục tiêu đề ra.
Quy hoạch phát triển đào tạo còn cần phải được dựa trên một hệ quan điểm:
“Thể hiện tư tưởng chỉ đạo cho các bước xây dựng chiến lược tiếp theo, là tiêu
chuẩn xác định tính đúng đắn của mỗi quyết định cụ thể. Hệ quan điểm chiến lược
được xây dựng dựa trên vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực mà chiến lược đang
được soạn thảo, dựa vào những quy luật khách quan đang vận động trong lĩnh vực
đó cũng như trong phạm vi toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội. Hệ quan điểm chiến
lược có thể bao gồm những quan điểm tổng quát, những quan điểm về mục tiêu
động dạy nghề; phát triển dạy nghề, tạo điều kiện cơ hội việc làm cho người lao
động, các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số, người
thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa,
người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh
tác… nhằm tạo cơ hội cho họ được học nghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập
thân, lập nghiệp.
* Đối với hệ thống các trƣờng và cơ sở dạy nghề:
13
- Vạch ra bước đi tương lai đối với mỗi nhà trường (cơ sở dạy nghề) thể
hiện trên toàn bộ những nội dung nội tại là: phát triển đào tạo nghề, phát triển
các nghề trọng điểm, phát triển đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ
thuật, phát triển nguồn tài chính, phát triển tổ chức - quản lý và kiểm định
chất lượng dạy nghề, ;
- Tạo cho mọi thành viên trong tổ chức hiểu rõ “bước đi tương lai”, qua đó
tạo động lực thúc đẩy họ phấn đấu hướng tới mục tiêu chung; đặc biệt quan trọng
đối với người đứng đầu cơ sở đào tạo nghề trong nhiệm vụ quản lý, tổ chức thực
hiện, điều hành…mọi hoạt động của tổ chức, “chèo lái con thuyền cập bến” với tầm
nhìn và sứ mạng đã đề ra;
- Là cơ sở để mỗi nhà trường (cơ sở dạy nghề) phối hợp thống nhất thực
hiện tốt các nội dung mà chính bản quy hoạch phát triển đặt ra, sẽ tạo vị thế cho
nhà trường (cơ sở DN) chức trong sự phát triển chung của đất nước.
1.3 ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở NƢỚC TA
1.3.1 Quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc trong
phát triển giáo dục - đào tạo:
- Những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục được xác định dựa trên các
văn bản chủ yếu như hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 -
Điều 35, 36); Luật Giáo dục (2005); Các Nghị quyết của Đảng về định hướng phát
triển đào tạo; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011 ÷ 2020; Chiến lược phát
+ Trình độ kiến thức, kỹ năng làm việc của nhân lực Việt Nam phải tiếp cận
trình độ các nước tiên tiến ở khu vực, và trên thế giới.
+ Chuyển nhanh hệ thống đào tạo nhân lực sang hoạt động theo cơ chế đào tạo
theo nhu cầu của xã hội và thị trường LĐ, nhất là các ngành trọng điểm.
+ Đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể
thao. Hỗ trợ bồi dưỡng phát triển nhân tài và thực hiện công bằng xã hội trong phát
triển nhân lực, hỗ trợ phát triển các nhóm nhân lực đặc thù-yếu thế, nhất là đối với
15
những đối tượng chính sách xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, các nhóm dân cư dễ
bị tổn thương (người tàn tật, người nghèo, cận nghèo, nông dân cần chuyển đổi
việc làm …).
+ Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực.
- Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011 ÷ 2020 chỉ rõ:
+ Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và
ứng dụng khoa học, công nghệ… Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng,
đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện
liên kết giữa Nhà nước với các doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào
tạo để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội;
+ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và
hội nhập quốc tế… Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục-đào tạo ở tất cả các
bậc học, cấp học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa
nhà trường với gia đình và xã hội;
+ Phát triển mạnh, nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp.
Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và thực hiện quy hoạch mạng lưới trường đại học,
cao đẳng và dạy nghề trong cả nước…;
+ Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả
các cấp, bậc học… Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy
việc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ”.
1.4 QUY TRÌNH XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO
Quy hoạch phát triển đào tạo nhằm mục đích trả lời bốn câu hỏi cơ bản:
Nhà trường/tổ chức đang đứng ở đâu?
Nhà trường/tổ chức muốn đi đến đâu trong tương lai?
Làm thế nào để đến đó?
17
Làm thế nào để biết được chúng ta đang đi đúng hướng?
1.4.1 Bƣớc 1 - Phân tích SWOT:
Trong quy trình xây dựng quy hoạch phát triển đào tạo có nhiều phương
pháp được sử dụng, trong đó “SWOT” được sử dụng nhiều hơn khi phân tích tình
hình của một đơn vị giáo dục-đào tạo. Phân tích SWOT là để xác định điểm
mạnh, điểm yếu (yếu tố bên trong), cơ hội và thách thức (yếu tố bên ngoài) của
đối tượng nghiên cứu; để từ đó xây dựng khung SWOT và lựa chọn phương án kế
hoạch.
Để phân tích SWOT cần tiến hành thu thập thông tin, số liệu (xác định loại
số liệu, nguồn thu nhập…); lập cơ sở dữ liệu về các thông tin cơ bản của kinh tế -
xã hội; từ đó tiến hành phân tích, đánh giá. Phân tích SWOT cần bảo đảm tính thực
tế, tính khách quan của các điểm mạnh, điểm yếu; đồng thời phải cụ thể, tránh
chung chung; quá trình phân tích nên ngắn gọn, đơn giản, tránh phức tạp và phân
tích thừa.
Bảng 1.1 Phân tích SWOT:
Điểm mạnh
Điểm yếu
Cơ hội
Phương án 1: Phát huy điểm
mạnh để tận dụng cơ hội
Phương án 2: Tận dụng cơ
Phương pháp SWOT được sử dụng trong phân tích môi trường bên trong và
bên ngoài của hệ thống. Mục đích của việc phân tích này phối hợp các mặt mạnh,
mặt yếu với các nguy cơ và cơ hội thích hợp của tổ chức. SWOT là cụm từ ghép lại
các thuật ngữ bằng tiếng Anh:
Strengths: Những điểm mạnh là những ưu thế (là các nguồn lực có giá trị )
hiện đang được tổ chức hoặc các đối tượng liên đới sở hữu.
Weaknesses: Những khó khăn, trở ngại của nội bộ tổ chức hoặc các đối
tượng liên đới.
Opportunities: Những điều kiện ưu đãi hoặc có lợi để qua đó tạo thực lợi cho
tổ chức khai thác các hướng hoạt động (phát triển) mới.
Threats: Những nguy cơ có thể xảy đến làm phương hại đến khả năng tồn tại
và thành công trong tương lai của tổ chức.
Phân tích môi trường bên trong của hệ thống được tập trung vào đánh giá các
mặt: Chủ trương, chiến lược hiện có; mục tiêu, chương trình, quy trình Phân
tích môi trường bên ngoài của tổ chức tập trung chủ yếu vào phân tích các yếu tố
tác động trực tiếp, lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức như chế độ chính
sách, xu hướng phát triển, nhu cầu xã hội. Các liên đới, các đối thủ cạnh tranh, các
đặc thù vùng miền, khu vực.
Phương án tối ưu sẽ được xây dựng trên cơ sở phát huy điểm mạnh, khắc
phục điểm yếu của hệ thống, tận dụng cơ hội, hạn chế tác động của các đe doạ từ
bên ngoài. Có thể thực hiện quá trình phân tích bằng cách sử dụng ma trận
SWOT để xem xét dự kiến các phương án; phối hợp giữa các mặt S/O, S/T, W/O,
W/T nhằm thu được nhiều kiểu phối hợp để qua đó hình thành các phương án
thực thi.
giáo dục - đào tạo, tuyển sinh; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục,
chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giáo viên; tổ chức quản lý cơ sở giáo
dục; nguồn lực, cơ sở vật chất. Việc phân tích này sẽ giúp cho việc tìm ra các
điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống.
Đánh giá bên trong
của tổ chức
Điểm yếu?
- Phát triển không phù hợp?
- Thiết bị lạc hậu?
- Lập kế hoạch quy hoạch
không khả thi?
- Tuyển sinh khó?
Điểm mạnh?
- Nguồn tài chính?
- Nguồn nhân lực tốt?
- Uy tín cao?
- Quản lý tốt? 20
Ví dụ về tầm nhìn: “trở thành một đơn vị hàng đầu trên lĩnh vực cung cấp
đánh giá, lựa chọn kế hoạch. Mục tiêu được thiết lập từ việc chuyển các vấn đề và
cơ hội thành phát biểu cô đọng. Ví dụ: cải tiến năng lực lãnh đạo trong điều hành,
quản lý; giảm nghèo tăng thu nhập
Làm thế nào để xác định mục tiêu?
- Xác định các vấn đề chủ chốt: trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của tổ chức
nêu ra tất cả các vấn đề cần phải giải quyết trong kỳ kế hoạch, từ đó lựa chọn các
vấn đề chủ chốt phải tập trung chỉ đạo.
- Đánh giá các vấn đề: phân biệt rõ nguyên nhân, hậu quả, tác động….
- Viết lại mục tiêu một cách ngắn gọn, xúc tích…
- Sắp xếp lại các mục tiêu, phân biệt rõ ràng giữa mục tiêu và biện pháp; lập
thứ tự ưu tiên cho các mục tiêu đã xác định.
Yêu cầu SMART của mục tiêu:
- S(Specific): Mục tiêu phải có tính cụ thể, rõ ràng, mạch lạc.
- M (Measurable): Mục tiêu phải đo lường được.
- A (Attainable): Mục tiêu phải có tính khả thi.
- R (Realistic): Có khung thời gian nhất định (đạt được trong bao nhiêu lâu,
bảng thời gian cụ thể cho từng chặng thực hiện mục tiêu).
Cách tiếp cận “cây vấn đề” và “cây mục tiêu” để xác định mục tiêu:
- Thứ nhất là xây dựng “cây vấn đề”. Ví dụ: khi xây dựng kế hoạch chiến
lược phát triển giáo viên vấn đề đặt ra là kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm yếu. Nhìn
vào cây vấn đề ta thấy: 3 tầng dưới là biểu hiện và nguyên nhân của vấn đề kỹ
năng, nghiệp vụ sư phạm đội ngũ giáo viên còn yếu. Tầng trên cùng chính là các
hậu quả đem lại từ vấn đề đó.
Các nội dung trong cây vấn đề (biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả) ta xác định
được từ phân tích, đánh giá thực trạng. Việc tập hợp lại theo nhóm như vậy trong
cây vấn đề giúp chúng ta có thể nắm bắt được mục tiêu cho tương lai, cùng với
những nội dung cần giải quyết để đạt được.
22
Thứ hai là xây dựng “cây mục tiêu”. Xuất phát từ cây vấn đề để xây dựng
Nội dung CTr đào
tạo GV chưa tốt
Kỹ năng nghiệp
vụ sƣ phạm yếu
Phương pháp đào
tạo GVchưa hợp lý
Chất lượng giáo
dục không cao
Phối hợp các
PPDH không tốt
Ngại sử dụng
TBDH và CN tiên
tiến
Thiếu cập nhật
thông tin
23 Sơ đồ 1.4 Cây mục tiêu tăng cường kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm cho GV:
nhật thông tin
Đưa khả năng học
ngoại ngữ vào tiêu
chuẩn GV
Kh/khích tự
học, ĐTBD
lẫn nhau
Đào tạo,
BDTX
Tổ chức
thi nghề
nghiệp
Nâng cao khả năng
tự đọc, tự học của
giáo viên
24
hoạch, những người bị ảnh hưởng, các tổ chức cấp vốn, các cơ quan thực hiện của
nhà nước,… Bảo đảm sự tham gia là điều kiện cần thiết để đạt được sự phát triển
bền vững. Cần bảo đảm cả 4 mức độ tham gia: Vì trách nhiệm, vì sự minh bạch,
bảo đảm bình đẳng để tham vấn và tự quản lý.
Lập kế hoạch có sự tham gia là thu hút và bảo đảm sự tham gia thực sự của
các đối tượng có liên quan để họ đóng góp trí tuệ vào xây dựng kế hoạch. Qua
tham gia xây dựng kế hoạch, tao ra sự nhận thức, sự đồng thuận; từ đó mà thực
hiện thành công kế hoạch đã xây dựng.
Các hình thức tham gia gồm: Hội nghị bàn tròn, thảo luận nhóm, nghiên cứu
chuyên đề, hộp thư ý kiến, đối thoại trực tiếp…
Các yêu cầu về cải tiến công tác lập quy hoạch hiện nay:
Hiện nay công tác lập quy hoạch vẫn còn một số hạn chế: thiếu hướng dẫn,
chỉ dẫn chi tiết và còn thiếu phương pháp luận cho việc xây dựng kế hoạch quy
Thiếu sự tham gia của
các bên liên quan
Bảo đảm sự tham gia
của các bên liên quan
KẾT LUẬN CHƢƠNG I
1- Quy hoạch phát triển được hiểu là một công cụ quản lý của cơ quan nhà
nước (tổ chức) nhằm bảo đảm cho sự phát triển theo mong muốn và mang lại hiệu
quả cao nhất cho tổ chức và nền kinh tế. Bản chất của nó là sự phản ánh nội tại và
hoạch định hướng đi đối với tổ chức (nhà trường) trong một khoảng thời gian nhất
định; các định hướng đó đặc biệt chú trọng vào tương lai, vào việc xác định không
chỉ các mục tiêu mà cả các chiến lược cần thiết để đạt được các mục tiêu đó trên cơ
sở các nguồn lực sẵn có thể định ra một kế hoạch tổng thể, phương hướng dài hạn
và phân bổ nguồn lực nhằm giúp cho bản thân tổ chức (nhà trường) đạt tới các mục
tiêu đề ra.
Đặc điểm nổi bật của “quy hoạch phát triển” là sự tường minh toàn bộ các
nội dung thuộc 2 yếu tố quan trọng nhất là xác định sứ mạng, mục tiêu và chiến
lược đạt đến mục tiêu đã định. Nó giúp cho tổ chức (nhà trường) xác định rõ
phương hướng cho tương lai, các ưu tiên trên cơ sở phân tích chiến lược, quyết
định hợp lý để đạt được mục đích. “Quy hoạch phát triển” là phương cách tiến tới
mục tiêu dài hạn, chiến lược đạt các mục tiêu đó với các nguồn lực mà cơ sở đào
tạo (hay tổ chức) đã đặt ra. “Quy hoạch phát triển” có tác dụng hướng đích nhằm
xác định một cách chính xác chúng ta muốn đến đâu và làm thế nào để đến đó.
Ý nghĩa quan trọng của “quy hoạch phát triển”: Nó là một phương pháp của
tư duy khoa học, một hệ thống tư duy phương pháp luận của con người, là kế sách