skkn -đề tài rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm - Pdf 24

Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
PHÒNG GD - ĐT THOẠI SƠN
TRƯỜNG THCS ĐỊNH MỸ
  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: RÈN LUYỆN HỌC SINH KĨ NĂNG LÀM
VĂN BIỂU CẢM
Người thực hiện: PHẠM THỊ MAI KHANH
Chức vụ: Giáo viên
Tổ: Ngữ Văn
MỤC LỤC
1
Năm học: 2013 - 2014
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm

Trang
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………………………… 2
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………… …2
1. Thực trạng ban đầu của vấn đề…………………………………… 2
2. Biện pháp và quá trình tổ chức tiến hành…………………………………4
2.1. Tính mới của vấn đề………………………………………………….4
2.2. Quá trình tổ chức, tiến hành………………………………………… 5
3. Các tồn tại nảy sinh và cơ sở thực tiễn của vấn đề……………………… 21
3.1. Tồn tại……………………………………………………………… 21
3.2. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn…………………………………… 21
4. Kết quả đạt được……………………………………………………… 22
5. Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm…………………………………… 24
6. Phạm vi và tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm…………………… 24
7. Những bài học kinh nghiệm …………………………………………… 25
PHẦN III. KẾT LUẬN……………………………………………………… 26
PHẦN IV: NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT…………………………………26

kiến kinh nghiệm này.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
1. Thực trạng ban đầu của vấn đề :
Qua một năm giảng dạy chương trình ngữ văn lớp 7, tôi nhận thấy kĩ năng
nhận diện các phương thức biểu đạt trong văn bản, kĩ năng viết, cách vận dụng
phương thức tự sự, miêu tả để bộc lộ cảm xúc trong bài tập làm văn của một bộ
phận học sinh còn yếu . Năm học 2011 – 2012, khi cho học sinh viết bài tập làm
văn số 2 với đề bài “Loài cây em yêu”. Dù mới học và hình thành kĩ năng tạo
lập văn bản biểu cảm xong nhưng nhiều học sinh không phân biệt được văn
miêu tả và văn biểu cảm nên bài viết không phải viết về thái độ và tình cảm của
mình đối với một loài cây cụ thể mà tả về loài cây đó. Hoặc tiết viết bài tập làm
văn số 3 đề yêu cầu “Cảm nghĩ của em về hình ảnh người bà thân yêu của
mình”. Học sinh viết “Bà nội hay thức khuya dậy sớm để làm việc mà tối nội
3
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
chưa làm . Bà thường đi làm thuê để kiếm tiền nuôi chúng em. Em thấy vậy bảo
bà nội hay là nội đừng đi làm thuê nữa, nội chuyển sang nấu xôi đi. Nội suy
nghĩ một hồi lâu rồi nói, đó cũng là một ý kiến hay”. Liệu khi đọc đoạn văn trên,
các đồng nghiệp của tôi có cho rằng đó là một đoạn văn biểu cảm ? Toàn bài
viết của em học sinh đó đều là những lời văn, đoạn văn tương tự như thế. Cũng
với đề văn như trên, một học sinh khác viết “Cảm nghĩ của em về bà là một
người bà yêu mến con cháu”. Các em cảm nhận và viết văn như nghĩa vụ, làm
qua loa cho xong rồi đem nộp. Kể cả học sinh khá, dù cảm nhận và hiểu được
yêu cầu của đề, xác định đúng hướng làm bài nhưng kể vẫn nhiều hơn biểu cảm.
Sau đây là bảng thống kê số liệu điểm trung bình môn văn học kì I khối 7 năm
học (2011-2012):
Lớp
Học sinh
giỏi
Học sinh

4
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
- Một số học sinh vì lười học, chán học nên không bao giờ đọc sách, kể cả
văn bản trong sách giáo khoa, không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học văn.
2. Biện pháp và quá trình tổ chức tiến hành:
2.1. Tính mới của vấn đề:
- Văn biểu cảm là loại văn thể hiện nội tâm, tâm trạng của người viết. Vì
vậy đòi hỏi học sinh cần phải có cảm xúc, có những rung động mạnh mẽ xuất
phát từ trái tim, từ tình cảm chân thành đối với đối tượng cần biểu cảm. Ngồi
trước trang giấy, nếu tâm hồn trống rỗng không cảm xúc, đầu óc mông lung
không rõ ý nghĩ gì thì người viết không thể có được một bài văn biểu cảm có
hồn. Lúc đó, bài văn hoặc khô khan, nhạt nhẽo, ngắn ngủi hoặc giả tạo, vay tình
mượn ý. Người giáo viên, khi dạy văn trung học cơ sở nói chung, dạy văn biểu
cảm nói riêng, ngoài nắm kiến thức, phương pháp lên lớp còn cần có một tâm
hồn, một trái tim sống cùng tác giả, tác phẩm.
- Để dạy và học tốt văn biểu cảm ở trung học cơ sở người dạy và người
học cần nắm vững hệ thống sáu bài học và luyện tập về văn biểu cảm (trong số
14 tiết học văn biểu cảm ở lớp 7 – học kì I ) gồm:
+ Tìm hiểu chung về văn biểu cảm.
+ Đặc điểm của văn biểu cảm.
+ Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm.
+ Cách lập ý của bài văn biểu cảm.
+ Các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm.
+ Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học.
- Nhìn chung, chương trình văn biểu cảm hơi khó đối với học sinh khối 7.
Thời gian dành cho thực hành thì lại còn ít nên kĩ năng viết văn biểu cảm của
các em còn hạn chế.
- Phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc học hành của con em, chưa tạo
điều kiện cho con em mình thói quen đọc sách, chưa dành thời gian để chia sẻ,
định hướng, bồi dưỡng tâm hồn cho con nên các em ít có cơ hội phát triển tư

1. Để học sinh nhớ khái niệm một cách có cơ sở, giáo viên đưa ra các ví dụ
(ngoài các ví dụ SGK ) phân tích, hướng dẫn để các em hiểu phương thức biểu
cảm trong ví dụ đó:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bài ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
( Tiếng gà trưa)
Hỏi: Đoạn thơ thể hiện tình cảm nào của tác giả Xuân Quỳnh ?
6
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
Trả lời: Đó là tình yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu bà, yêu kỉ niệm
tuổi thơ.
=> Giáo viên khái quát: Văn biểu cảm (còn gọi là văn trữ tình) là kiểu văn
bản có nội dung biểu đạt tư tưởng, tình cảm bộc lộ cảm xúc của người viết,
thường là những ấn tượng thầm kín, sâu sắc về con người, về sự vật, về những kỉ
niệm, những hồi ức khó quên trong cuộc đời mỗi con người. Vì vậy, văn biểu
cảm có khả năng khơi gợi những cảm xúc chân thành ở người đọc, tạo sự đồng
cảm giữa người đọc và người viết. Như vậy văn biểu cảm ra đời là để đáp ứng
nhu cầu tinh thần của con người khi vui, khi buồn, khi hạnh phúc hay khổ đau
bao giờ con người cũng muốn được thổ lộ, giãi bày chia sẻ.
2. Trên cơ sở học sinh nắm vững khái niệm văn biểu cảm, giáo viên
hướng dẫn cho các em thực hành nhận biết các văn bản biểu cảm đã học trong
chương trình và có thể đưa thêm một số văn bản khác để các em có cơ hội làm
quen với văn biểu cảm.
HĐ 2: Tìm hiểu đặc điểm của văn biểu cảm
1. Giáo viên đưa ra một số văn bản đã học trong chương trình ngữ
văn 7 giúp học sinh phân biệt biểu cảm trực tiếp và biểu cảm gián tiếp.

tác giả?
Trả lời: - Tình yêu quê hương thể hiện tình yêu những cảnh vật của quê hương.
- Các từ ngữ trực tiếp thể hiện cảm xúc: yêu, trăn
trở.
=> Biểu cảm trực tiếp: Trong một văn bản, người viết công khai thổ lộ tình cảm,
tư tưởng của mình trước sự vật sự việc, con người… khi đó họ đang biểu cảm
một cách trực tiếp. Cách biểu cảm này thường xuyên được dùng trong các tác
phẩm trữ tình nhất là thơ.
2. Dù là biểu cảm trực tiếp hay gián tiếp giáo viên cần hết sức chú ý tới
các yếu tố: Sự việc và con người trong văn biểu cảm. Không thể quá nghiêng về
yếu tố sự vật hoặc chỉ chú trọng tới yếu tố con người. Trong 2 yếu tố này, yếu tố
con người được chú ý hơn, bởi lẽ con người mới là nhân vật chính tạo nên
những cảm xúc, những tình cảm trong một bài văn biểu cảm. Văn biểu cảm có
quan hệ với văn tự sự, miêu tả. Chỉ có điều, trong văn biểu cảm, người viết
không nhằm tả, mà thông qua kể, tả để bộc lộ cảm xúc, thái độ, tình cảm với sự
việc, với con người. Kết hợp hài hoà giữa các phương thức tả, kể, biểu cảm sẽ
tạo điều kiện cho sự hình thành tạo lập văn bản đạt hiệu quả cao.
HĐ 3: Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm
1. Trước khi hướng dẫn học sinh phương pháp tiến hành làm bài văn biểu
cảm cần cho các em hiểu được một số điểm cơ bản về đề văn biểu cảm: đề văn
biểu cảm thường ngắn gọn, rõ ràng, nêu ra đối tượng biểu cảm và định hướng
tình cảm. Có trường hợp, đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm được tách
bạch rạch ròi.
Ví dụ : “ Cảm nghĩ về dòng sông quê hương ”
- Đối tượng biểu cảm là: dòng sông quê hương.
8
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
- Định hướng tình cảm là: cảm nghĩ.
Cũng có trường hợp, đề văn biểu cảm chỉ nêu chung, buộc
người viết phải tự xác định đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm.

Hỏi Mỗi khi cánh diều bị hư thì tâm trạng em ra sao?
9
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
- Đối với văn biểu cảm về tác phẩm văn học, cảm xúc và suy nghĩ về tác
phẩm văn học được nảy sinh từ bản thân tác phẩm. Tìm ý trong trường hợp này
chính là đọc kĩ, đọc đi đọc lại nhiều lần tác phẩm, ngẫm nghĩ tìm ra vẻ đẹp, tìm
ra triết lí của nội dung, tìm ra cái mới, cái độc đáo của các yếu tố hình thức nghệ
thuật. Để giúp các em định hướng cảm xúc của mình về một tác phẩm văn học,
giáo viên có thể nêu một số câu hỏi, học sinh phát hiện tạo cơ sở lập ý cho bài
văn biểu cảm về tác phẩm văn học.
Em hãy đọc bài thơ “ Cảnh khuya ” và cho biết:
Hỏi: Bài thơ là sáng tác của ai? Được viết trong hoàn cảnh
nào?
Trả lời : - Tác giả Hồ Chí Minh.
- Hoàn cảnh sáng tác: tại Việt Bắc những năm đầu cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp.
Hỏi: Bài thơ viết về cảnh vật gì? Nhà thơ thể hiện cảm xúc và tình cảm
gì? Những câu thơ nào cho em biết điều đó?
Học sinh phát hiện.
- Cảnh đêm trăng ở núi rừng Việt Bắc thật yên tĩnh, trong trẻo, tràn đầy
sức sống.
- Cảm xúc tràn ngập trong Bác đó là: Sự say đắm thiên nhiên hoà hợp
với thiên nhiên nhưng cũng là tâm trạng lo âu của vị lãnh tự yêu nước, lo cho
đất nước.
- Những câu thơ diễn tả tâm trạng đó là :
“ Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà ”
Hỏi: Xác định phương hướng biểu đạt trong tác phẩm?
Trả lời: Kết hợp hai phương thức: Miêu tả với biểu cảm.
Hỏi: Thể loại? Nghệ thuật?

và ông đã hoàn thành bản trường ca đó trong đúng ba tháng. Thật vậy, để làm
một dàn ý tốt không phải dễ. Muốn có một dàn ý tốt thì ngoài việc nghiên cứu kĩ
đề để lĩnh hội yêu cầu của đề còn phải có thói quen bố trí cho khoa học. Có
nhiều học sinh cho rằng: Thời gian làm bài rất hạn chế, chỉ có 90 phút nếu còn
phải lập dàn ý thì lãng phí mất khoảng thời gian quí báu! Sự thật không phải như
vậy. Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn. Đó là những hệ thống suy nghĩ, tìm
tòi, nhận xét, đánh giá của học sinh dựa trên yêu cầu cụ thể của đề bài. Lập dàn
ý trước khi viết bài có những cái lợi sau:
- Nhìn được một cách bao quát toàn cục nội dung chủ yếu mà bài làm cần
đạt được, đồng thời thấy được những chi tiết nào cần so sánh, liên tưởng.
11
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
- Tránh bỏ sót những ý quan trọng hoặc tránh thừa ý và giúp cho việc diễn
đạt các ý theo trình tự hợp lí hạn chế trường hợp diễn đạt lủng củng.
- Khi có dàn ý người viết chủ động phân chia thời gian hợp lí. Tránh tình
trạng làm bài mất cân đối.
* Cấu trúc dàn ý của bài văn biểu cảm
- Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng cần biểu cảm, tình cảm của người
viết dành cho đối tượng.
- Thân bài: Trình bày cụ thể cảm xúc
+ Nêu những đặc điểm của đối tượng gợi cảm xúc cho người viết
+ Mối quan hệ giữa người viết với đối tượng
- Kết bài: Tình cảm của người viết dành cho đối tượng
* Ví dụ minh họa:
Lập dàn ý cho đề văn sau: Phát biểu cảm nghĩ về quê hương, nơi em
đang sinh sống.
- Mở bài:
+ Giới thiệu khái quát về quê hương ( ở đâu? Có điểm gì đặc biệt?
+ Tình cảm: yêu quí, tự hào
- Thân bài:

cảm nghĩ chung chung. Cảm nghĩ phải sâu sắc, chân thành. Tránh tình trạng bắt
chước một cách sống sượng, sáo mòn, giả tạo.
=> Trong thực tế rất nhiều học sinh không thực hiện tốt bước này, có lẽ
không biết làm hoặc lười. Thế nên, khi đọc và xác định xong đề các em bắt tay
vào viết ngay nên dẫn đến tình trạng bài viết trình bày không mạch lạc, lôgic,
nhiều bài trình bày lung tung do các em nhớ lúc nào làm ngay lúc đó mà không
theo trình tự. Chính vì vậy mà kết quả làm bài không cao.
c. Bước 3: Viết bài
- Đây là bước hết sức quan trọng. Trên cơ sở dàn bài đã xây dựng, người
viết triển khai thành bài văn hoàn chỉnh. Cần lưu ý cho học sinh là trong quá
trình diễn đạt phải biết kết hợp với các phương thức biểu đạt khác như miêu tả
tự sự, nghị luận,… đồng thời phải biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc
như: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ, nói quá…Câu văn phải có sự biến hoá
linh hoạt. Lời văn giàu cảm xúc với vốn từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm.
Trong diễn đạt cũng cần phải chia đoạn trong phần thân bài. Các câu trong đoạn
phải liên kết nhau cả về hình thức và nội dung. Các đoạn phải có sự chuyển ý,
các đoạn liên kết với nhau tập trung làm nổi rõ lên cảm xúc chính, tình cảm
chính.
- Hướng dẫn học sinh viết một vài đoạn văn
13
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
Đề: Cảm nghĩ về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh
Đoạn mở bài: Cảnh khuya là một trong những bài thơ trữ
tình đặc sắc, một đóa hoa nghệ thuật tuyệt đẹp của Bác Hồ kính yêu. Năm 1947,
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng
ác liệt, tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã viết một chùm thơ chữ Hán và tiếng
Việt. Cảnh khuya nằm trong chùm thơ ấy.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

viết xong là nộp bài, một số thì hoàn thành bài rất sớm (khoảng 60 phút), một số
thì hết thời gian nhưng vẫn chưa làm xong bài. Do đó, khâu sửa bài sau khi viết
không được coi trọng. Giáo viên cần nhắc nhở các em đọc và chỉnh sửa lại bài
trước khi nộp.
HĐ 4: Cách lập ý của bài văn biểu cảm
Giáo viên đưa ra một số phương pháp lập ý cơ bản, phân tích để
học sinh tiếp cận, hiểu và vận dụng trong quá trình làm bài.
1. Liên hệ hiện tại với tương lai: Là hình thức dùng trí tưởng tượng
để liên tưởng tới tương lai, mượn hình ảnh tương lai để khơi gợi cảm xúc về đối
tượng biểu cảm trong hiện tại. Cách biểu cảm này tạo nên mối liên hệ gắn kết rất
tự nhiên và nhuần nhuyễn giữa hiện tại với tương lai.
2. Hồi tưởng quá khứ và suy nghĩ về hiện tại: Là hình thức liên
tưởng tới kí ức trong quá khứ, gợi sống dậy những kỷ niệm để từ đó suy nghĩ về
hiện tại. Đây cũng là hình thức lấy quá khứ soi cho hiện tại khiến cho cảm xúc
của con người trở nên sâu lắng hơn. Cách biểu cảm này sẽ tạo nên mối liên hệ
gắn kết rất nhuần nhuyễn và tự nhiên giữa quá khứ và hiện tại.
3. Tưởng tượng tình huống hứa hẹn, mong ước: Là hình thức liên
tưởng phong phú, từ những hình ảnh thực đang hiện hữu để đặt ra các tình
huống và gửi gắm vào đó những suy nghĩ, cảm xúc về đối tượng biểu cảm cũng
như những ước mơ, hi vọng. Cách biểu cảm này đòi hỏi người viết văn biểu cảm
phải có trí tượng phong phú.
4. Quan sát, suy ngẫm: Là hình thức liên tưởng dựa trên sự quan sát
những hình ảnh hiện hữu trước mắt để có những suy ngẫm về đối tượng biểu
cảm. Cách lập ý này thường tạo nên những cảm xúc chân thực, sâu sắc.
HĐ 5: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cách kết hợp các yếu tố tự sự,
miêu tả vào văn biểu cảm:
Trước khi làm thêm bài tập, giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại:
Thế nào là tự sự, thế nào là miêu tả? Trong phần luyện tập, ngoài những bài tập
trong sách giáo khoa, cần cho học sinh làm thêm một số bài tập khác, cụ thể như
sau:

16
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
cũng bộc lộ tư tưởng cảm xúc nhưng đó không phải là nội dung chủ yếu của
phương thức biểu đạt ấy. Ngược lại trong văn biểu cảm, người ta cũng miêu tả
cảnh vật, đồ vật, con người song chủ yếu là để bộc lộ tư tưởng tình cảm. Chính
vì vậy người ta không miêu tả một đồ vật, cảnh vật con người ở mức cụ thể hoàn
chỉnh mà chỉ chọn những chi tiết, thuộc tính, sự vật nào có khả năng gợi cảm để
bộc lộ cảm xúc tư tưởng mà thôi.
b. Cho bài thơ:
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi ?
Hỏi: Bài thơ kể về ai và kể về việc gì?
Trả lời: - Kể về quãng đời xa quê để đi làm quan của nhà thơ, kể những
thay đổi về ngoại hình của tác giả
Hỏi: Yếu tố tự sự trong bài thơ có vai trò như thế nào?
Trả lời: Thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, thường trực trong lòng
của tác giả.
=> Trong văn biểu cảm cũng có thể có những câu chuyện, nhân vật nghĩa là
các yếu tố tự sự. Tuy nhiên, các yếu tố tự sự này không phát triển thành những
mâu thuẫn phức tạp vì chúng chỉ là phương tiện để biểu lộ tình cảm của tác giả.
c. Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn: Từ những câu văn phát
triển thành đoạn văn biểu cảm. (Cảm nghĩ về cây phượng)
- Hoa phượng nở, báo hiệu mùa hè đã đến.
- Hè về, hoa phượng buồn vì chẳng có ai để làm bạn.
- Học trò không ai biết được nỗi buồn của phượng.
- Phượng buồn, tôi cũng buồn.
- Tôi mong mùa thu sớm quay về.
Phát triển thành đoạn văn: Phượng như chiếc đồng hồ quý giá mà thiên

hoặc một, hai nội dung có sắc thái tình cảm riêng, các thầy cô giáo nên trân
trọng, biểu dương và tỏ thái độ đánh giá cao qua cách cho điểm.
3. Các tồn tại nảy sinh và cơ sở thực tiễn của vấnđề
3.1. Tồn tại
- Phần lớn học sinh đều lười đọc sách nên các em không có vốn từ để diễn
đạt. Những học sinh khá giỏi thì chưa chú trọng nhiều đối với môn ngữ văn.
- Thiết bị, phương tiên dạy học chưa đồng bộ, máy chiếu chỉ có 1 cái đã
ảnh hưởng đến việc đưa những thông tin có liên quan đến học sinh.
- Chưa có thời gian nhiều dành cho việc thực hành viết đoạn văn.
- Chưa tổ chức được cho các em có những buổi thực tế để thấy được những
cảnh đẹp thiên nhiên, thấy được những sự việc, hiện tượng khác trong cuộc
sống để các em có thể tự cảm nhận và bày tỏ thái độ của mình.
18
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
3.2. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề:
Trẻ em rất giàu khả năng sáng tạo vì trí tưởng tượng của các em hồn
nhiên, ngộ nghĩnh, không bị ràng buộc bởi những luật lệ định kiến Khả năng
sáng tạo của trẻ em là khả năng lĩnh hội tri thức của loài người đã tích lũy. Khi
nắm vững tri thức thì sáng tạo bắt đầu đó là một quá trình hoạt động vận hành
các thao tác tư duy để tạo ra một sản phẩm có tính mới mẻ với các em. Những
sản phẩm này ngắn gọn, đơn giản hơn, thể hiện những sắc thái biểu cảm khác
nhau. Như vậy mọi trẻ em đều có khả năng sáng tạo ở những mức độ khác nhau
trong lĩnh vực khác nhau, bởi bản chất tư duy là sáng tạo, khơi dậy và đánh thức
tiềm năng trí tuệ, tình cảm của học sinh là điều trăn trở của nhiều giáo viên là
trách nhiệm của mọi người thầy là tính nhân văn của nghề giáo. Đặc biệt với học
sinh lớp 7, các em đã được tích lũy kiến thức từ những năm học ở bậc Tiểu học,
cùng với những vốn sống trong cuộc đời, Các em có nhu cầu bộc lộ cảm xúc.
Nhưng thể hiện cảm xúc như thế nào? Diễn đạt làm sao? Đó cũng chính là
những câu hỏi đặt ra với những giáo viên dạy văn biểu cảm.
Là người trực tiếp giảng dạy văn biểu cảm, tôi luôn băn khoăn, trăn trở

miêu tả và tự sự.
b. Đối với học sinh
Đối với các em học sinh, các em bước đầu đã ý thức được tầm quan
trọng của môn văn. Đa số học sinh đề nắm được cách làm bài văn biểu cảm, biết
bộc lộ cảm xúc của mình đúng cách, đúng nơi, đúng lúc. Trên lớp, thông thường
sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ý sau đó cho học sinh về nhà lập
dàn ý của đề bài văn đó vào vở bài tập hoặc giấy, tiết sau tôi thu bài về nhà
chấm. Có khi tôi lại cho học sinh hoạt động nhóm, trình bày dàn ý trên giấy A0.
Sử dụng phương pháp này các em có thể bàn bạc, trao đổi, nhận xét về những ý
văn của mỗi bạn nêu ra. Kết hợp nhiều cách thì trong quá trình chấm bài, tôi
thấy kết quả thật khả quan, bài viết của các em có bố cục 3 phần (có thể chưa
hay) nhưng các ý được diễn đạt theo trình tự, tôi cũng dễ hơn trong việc chấm
bài của các em.
Những học sinh cá biệt cũng có những chuyến biến tốt về đạo đức, các
em thấy gần gũi với bạn bè, thầy cô hơn và đặc biệt là các em thấy thích thú khi
được suy nghĩ, nói ra những cảm xúc của bản thân. Từ các bài văn biểu cảm
giúp các em rèn luyện cho tâm hồn mình trở nên chứa chan những tình cảm yêu,
ghét, buồn, thương, hờn giận, nhớ nhung . . . dạt dào những suy nghĩ đẹp đẽ cao
thượng về tình bạn, tình yêu thương cha mẹ thầy cô, yêu quê hương đất nước . . .
Đó là cái gốc to, là những chùm rễ sâu cung cấp chất bổ dưỡng cho cây văn biểu
cảm luôn xanh tươi, nở hoa, kết trái
c. Đối với tổ chuyên môn
Tôi đem kết quả đạt được trình bày với những giáo viên trong tổ, tập
thể tổ đều ủng hộ và cùng nhau giúp tôi làm tốt hơn nữa.
Thường xuyên dự giờ, đặc biệt là các tiết thao giảng để học hỏi kinh
nghiệm và nâng cao kĩ năng giảng dạy.
d. Đối với đơn vị
Nâng cao chất lượng giảng dạy trong học sinh toàn tường, góp phần
hạn chế học sinh cá biệt, giúp trường ổn định nề nếp hơn.
5. Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm

trình ngữ văn 7 (văn biểu cảm) có thêm nguồn tư liệu phong phú hơn. Tìm hiểu
nguyên nhân vì sao học sinh còn yếu trong kĩ năng làm văn biểu cảm? Từ đó
giúp các em làm văn biểu cảm tốt hơn. Đồng thời biết vận dụng yếu tố biểu cảm
vào các kiểu văn bản khác. Từ những tình cảm thể hiện trong bài viết sẽ rèn cho
các em biết cách ứng xử, giao tiếp có văn hóa, lịch sự trong thực tế.
Việc ứng dụng sáng kiến này, giáo viên không thể thực hiện trong thời
gian ngắn mà hoàn tất được. Ngay từ đầu giáo viên cần chuẩn bị tâm lí cho học
sinh để các em tham gia buổi học tốt hơn. Việc này đòi hỏi giáo viên phải có sự
nổ lục, tình thương yêu và sự nhiệt tình trong giảng dạy, khuyến khích kịp thời
những học sinh có tích cực phấn đấu. Điều đó tạo cho học sinh sự đồng cảm,
thích thú khi học văn.
7. Những bài học kinh nghiệm
Đối với giáo viên: Phải phát huy ở học sinh tính chủ động trong toàn bộ
quá trình phát hiện, tìm hiểu và áp dụng vào bài viết dưới sự tổ chức và hướng
dẫn của mình. Do đó dạy cho học sinh là hình thành năng lực tư duy, năng lực
hành động. Muốn thế giáo viên cần hướng dẫn và khuyến khích học sinh đọc
sách, bắt đầu từ việc đọc các văn bản trong sách giáo khoa. Thực tế cho thấy học
sinh rất lười đọc sách dẫn đến đọc yếu, gây khó khăn cho việc cảm thụ văn bản.
Chính vì thế, giáo viên cần khơi nguồn và nuôi dưỡng thói quen đọc sách của
21
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
học sinh bằng cách: trong mỗi tiết dạy giáo viên lấy dẫn chứng, ví dụ, trích các
câu nói, đoạn thơ, đoạn văn hay từ các sách tham khảo, sách nâng cao, các tác
phẩm văn học và cho các em trực tiếp nhìn thấy. Khi giáo viên làm được như
thế, không cần phải “Khua chiêng gõ mõ”, tự các em sẽ tìm đến với sách, làm
bạn với sách. Từ vốn kiến thức tự có, các em có thể sáng tạo thêm những ý văn
mới, của riêng mình.
Một học sinh muốn học tốt văn biểu cảm ngoài kĩ năng diễn đạt trôi chảy,
hấp dẫn, điều quan trọng là phải có cảm xúc chân thật khi viết, những cảm xúc
ấy xuất phát từ suy ngẫm, trải nghiệm của chính mình, phải lao tâm khổ luyện.

Người giáo viên phải tự học, trau dồi chuyên môn thường xuyên tăng vốn
kiến thức cho bản thân. Giáo viên không ngừng cải tiến những phương pháp
giảng dạy luôn luôn tạo sự hứng thú trong học sinh. Người giáo viên cần nhẹ
nhàng giúp các em tìm hiểu đề, khơi gợi cảm cho các em. Đối với những cảm
nhận hay, giáo viên cần tuyên dương và khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi,
suy nghĩ để có được những cảm nhận đặc sắc khác. Ngược lại nếu có những cảm
nhận, suy nghĩ “lệch hướng” giáo viên cũng không nên nóng nảy, vội vàng mà
phải cần bình tĩnh tế nhị tìm hiểu và hướng các em tập trung vào bài để có có
những cảm nhận đúng đắn hơn. Có như thế mới tạo được tâm lí thoải mái cho
các em trong quá trình học văn và đặc biệt hơn các em sẽ có những ứng xử đạo
đức tốt đẹp hơn.
3. Đối với tổ chuyên môn
- Cần phân công tốt việc phân công giáo viên, trong hội họp thường xuyên bàn
vào nội dung, phương pháp, những bài khó để tìm phương pháp dạy cho phù
hợp.
23
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
- Tạo mọi điều kiện, đôn đốc, giúp đỡ giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và
đào tạo nên một lực lượng giáo viên tâm huyết với nghề.
4. Đối với đơn vị và phòng giáo dục:
- Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn văn trong từng năm đặc
biệt phân môn Tập làm văn để giáo viên có dịp trao đổi học hỏi thêm kinh
nghiệm được bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy
học môn văn.
- Có kế hoạch và chế độ đãi ngộ hợp lí đối với giáo viên giảng dạy phụ đạo
thêm cho học sinh yếu kém môn văn.
- Đầu tư thêm trang thiết bị, dụng cụ trực quan, đặc biệt là đầu tư công nghệ
thông tin để hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy văn.
Trên đây là những bài học mà bản thân tôi rất tâm huyết và cùng tổ
chuyên môn có cùng thực hiện và có hiệu quả nhưng tôi cũng rất mong nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status