SKKN: Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm ở THCS - Pdf 24

Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
MỤC LỤC

Trang
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………………………… 2
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………… …2
1. Thực trạng ban đầu của vấn đề…………………………………… 2
2. Biện pháp và quá trình tổ chức tiến hành…………………………………4
2.1. Tính mới của vấn đề………………………………………………….4
2.2. Quá trình tổ chức, tiến hành………………………………………… 5
3. Các tồn tại nảy sinh và cơ sở thực tiễn của vấn đề……………………… 21
3.1. Tồn tại……………………………………………………………… 21
3.2. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn…………………………………… 21
4. Kết quả đạt được……………………………………………………… 22
5. Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm…………………………………… 24
6. Phạm vi và tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm…………………… 24
7. Những bài học kinh nghiệm …………………………………………… 25
PHẦN III. KẾT LUẬN……………………………………………………… 26
PHẦN IV: NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT…………………………………26

1
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
“Văn học là nhân học”. Thật vậy văn học có vai trò rất quan trọng trong đời
sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Là một môn học thuộc nhóm khoa
học xã hội, môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình
cảm cho học sinh. Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể
hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới
các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn.
Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành,
gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.

thấy vậy bảo bà nội hay là nội đừng đi làm thuê nữa, nội chuyển sang nấu xôi đi. Nội
suy nghĩ một hồi lâu rồi nói, đó cũng là một ý kiến hay”. Liệu khi đọc đoạn văn trên,
các đồng nghiệp của tôi có cho rằng đó là một đoạn văn biểu cảm ? Toàn bài viết của
em học sinh đó đều là những lời văn, đoạn văn tương tự như thế. Cũng với đề văn như
trên, một học sinh khác viết “Cảm nghĩ của em về bà là một người bà yêu mến con
cháu”. Các em cảm nhận và viết văn như nghĩa vụ, làm qua loa cho xong rồi đem nộp.
Kể cả học sinh khá, dù cảm nhận và hiểu được yêu cầu của đề, xác định đúng hướng
làm bài nhưng kể vẫn nhiều hơn biểu cảm. Sau đây là bảng thống kê số liệu điểm trung
bình môn văn học kì I khối 7 năm học (2011-2012):
Lớp
Học sinh
giỏi
Học sinh
khá
Học sinh
trung bình
Học sinh
yếu
Học sinh
kém
7a1, 7a5
(63 HS) 15 20 18 8 2
a. Nguyên nhân khách quan:
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp
trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh.
- Do sĩ số lớp đông nên rất khó cho giáo viên trong việc theo sát, kèm cặp từng
học sinh trong một tiết dạy.
- Vì trường nằm trên địa bàn thuộc vùng kinh tế khó khăn, hầu hết phụ huynh
đều làm thuê hoặc làm ruộng nên các em phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp,
không có thời gian học.

Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
+ Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm.
+ Cách lập ý của bài văn biểu cảm.
+ Các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm.
+ Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học.
- Nhìn chung, chương trình văn biểu cảm hơi khó đối với học sinh khối 7. Thời
gian dành cho thực hành thì lại còn ít nên kĩ năng viết văn biểu cảm của các em còn
hạn chế.
- Phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc học hành của con em, chưa tạo điều
kiện cho con em mình thói quen đọc sách, chưa dành thời gian để chia sẻ, định hướng,
bồi dưỡng tâm hồn cho con nên các em ít có cơ hội phát triển tư duy bộc lộ cảm xúc
tình cảm trong cuộc sống.
- Thời đại công nghệ thông tin phát triển, một số học sinh chỉ biết lấy những bài
sẵn có trên mạng, lười suy nghĩ, động não nên cảm xúc thể hiện trong bài không chân
thành mà chỉ là sự vay mượn, giả tạo. Trong nhiều môn học, học sinh chỉ chú trọng
những môn tự nhiên, xem nhẹ và thiếu đầu tư cho môn Ngữ văn. Vì thế, kĩ năng ứng
xử, giao tiếp còn hạn chế trong việc bày tỏ, bộc lộ cảm xúc.
- Bản thân là giáo viên, tôi cũng muốn nhân rộng những cảm xúc chân thành
của mình đối với mọi sự vật, sự việc…trong từng bài giảng về văn biểu cảm với hi
vọng là giúp các em học sinh biết cách thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình một cách
sâu sắc.
2.2. Quá trình tổ chức, thực hiện:
a. Chọn phương pháp phù hợp để giảng dạy:
Ngoài một số phương pháp tích cực trong dạy học phân môn tập làm văn như
phương pháp trực quan, hình thức vấn đáp, thảo luận Giáo viên cần sáng tạo một số
phương pháp mới như phương pháp đóng vai, sử dụng trò chơi trong học tập
5
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
b. Chuẩn bị phương tiện, các điều kiện cần thiết đặc biệt là nguồn tư liệu
phục vụ bài học:

giãi bày chia sẻ.
2. Trên cơ sở học sinh nắm vững khái niệm văn biểu cảm, giáo viên hướng dẫn
cho các em thực hành nhận biết các văn bản biểu cảm đã học trong chương trình và có
thể đưa thêm một số văn bản khác để các em có cơ hội làm quen với văn biểu cảm.
HĐ 2: Tìm hiểu đặc điểm của văn biểu cảm
1. Giáo viên đưa ra một số văn bản đã học trong chương trình ngữ văn 7
giúp học sinh phân biệt biểu cảm trực tiếp và biểu cảm gián tiếp.
a. Bài thơ: Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Hỏi: Tìm yếu tố miêu tả trong văn bản “ Bánh trôi nước”?
Trả lời: trắng, tròn, rắn nát, tấm lòng son
Hỏi: Mượn hình ảnh bánh trôi nhà thơ muốn thể hiện tình cảm gì?
Trả lời: Trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp duyên dáng và tấm lòng nghĩa
tình thủy chung của người phụ nữ trong xã hội cũ; cảm thương cho thân phận chìm
nổi của họ
b. Hay trong bài thơ Qua đèo Ngang của bà “ Huyện Thanh Quan?
Hỏi: Các yếu tố miêu tả góp phần bộc lộ tình cảm nào của nhà
thơ?
Trả lời: Cảnh Đèo Ngang được miêu tả vào thời điểm “ chiều tà,
bóng xế ” gợi nỗi buồn hiu hắt và đó cũng chính là tâm trạng của nhà thơ. Âm thanh
khắc khoải của tiếng chim cuốc, chim đa đa, chính là nỗi lòng nhớ nước thương nhà
7
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
của Bà Huyện Thanh Quan. Cảnh trời mây non nước mênh mông, bao la đối lập với
sự nhỏ bé của con người càng cực tả nỗi cô đơn trống vắng của tác giả .
=> Biểu cảm gián tiếp: Thái độ và tình cảm của người viết thể hiện một cách gián
tiếp thông qua cách nhìn nhận sự vật, cách dùng từ ngữ ví von so sánh.
c. Cho đoạn văn sau:
Tôi yêu những cánh đồng vàng rực ngày mùa, mù mù khói rạ,
thơm vị mía lùi và trắng xóa sương mù sau tết. Yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm
thẳm canh khuya. Tôi yêu ánh nắng chiều trải màu vàng tái, trên rẫy khoai mì nghiêng

Cũng có trường hợp, đề văn biểu cảm chỉ nêu chung, buộc người viết
phải tự xác định đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm.
Ví dụ: “ Cánh diều tuổi thơ ”
- Đối tượng biểu cảm là: Cánh diều tuổi thơ.
- Từ đối tượng ấy để tìm định hướng tình cảm là: Tình yêu, nỗi
nhớ dành cho một hình ảnh quen thuộc gắn bó với bao kí ức tuổi thơ, qua đó gửi gắm
những ước mơ, hoài bão.
=> Kết luận: Có thể đây chính là bước quan trọng đầu tiên quyết định cho sự thành
công của bài viết. Vì chỉ khi nào xác định đúng yêu cầu của đề bài thì người viết mới
có hướng viết bài chính xác theo yêu cầu. Ngược lại nếu xác định sai yêu cầu có nghĩa
là người viết đã đi chệch hướng hay nói cách khác là lạc đề. Và như vậy thì những
việc làm sau đó xem như vô ích, vì nó không mang lại kết quả như mong muốn.
2. Tiến hành làm bài văn biểu cảm.
a. Bước 1: Xác định yêu cầu đề và tìm ý
- Tìm ý cho bài văn biểu cảm chính là tìm cảm xúc, tìm những ý
nghĩ và tình cảm để diễn đạt thành nội dung của bài. Ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm muôn
màu muôn vẻ trong các bài văn biểu cảm đều bắt nguồn từ việc quan sát cuộc sống
xung quanh, từ những gì người viết đã sống và trải qua, đã tiếp xúc trong tác phẩm. Vì
9
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
thế, muốn tìm ý cho bài văn biểu cảm không phải cứ ngồi một chỗ mà đợi ý nghĩ, cảm
xúc đến. Sau khi có một đề bài, hãy quan sát kĩ đối tượng đề bài nêu ra để từ đó, cảm
xúc xuất hiện. Nếu không có điều kiện quan sát trực tiếp, hãy lục lọi trong trí nhớ,
trong kỉ niệm những gì mình biết về đối tượng và từ từ nhớ lại các chi tiết. Nếu cả kỉ
niệm trong kí ức cũng không có thì tìm đọc sách báo, xem phim ảnh về đối tượng để
ghi nhận các chi tiết cần thiết.
Ví dụ minh họa: Tìm ý cho đề văn “cánh diều tuổi thơ” bằng cách
đặt câu hỏi xoay quanh đối tượng.
Hỏi Trò chơi mà em yêu thích nhất trong thời thơ ấu là gì?
Hỏi Cánh diều có đặc điểm gì?

- Ngôn từ , hình ảnh giàu sức biểu cảm.
Hỏi: Theo em, ý nghĩa của bài thơ là gì ? Bài thơ để lại cho em ấn tượng sâu
đậm nhất như thế nào ?
Trả lời: - Bài thơ giúp người đọc cảm nhận tâm hồn say đắm với thiên nhiên và
tấm lòng lo cho đất nước của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.
Hỏi: Em liên tưởng tới tác phẩm nào nói về tình yêu thiên nhiên hoặc nỗi lòng
lo nước của Bác? Hãy chỉ ra một số dẫn chứng minh hoạ?
Trả lời : - Trong bài “ Đêm nay Bác không ngủ ” – Minh Huệ viết:
“ Đêm nay Bác không ngủ
Vì một lẽ thường tình
Bác là Hồ Chí Minh
11
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
- Hoặc các em có thể khái quát: Thơ Bác tràn ngập ánh trăng, trăng trong thơ
Người đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận, hoà hợp với con người. Trong bài thơ
“Rằm tháng giêng ” Bác viết:
“ Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền ”
- Giáo viên bổ sung: Một số bài thơ của Bác nói về cảnh thiên nhiên, đặc biệt
là về ánh trăng : “ Đi thuyền trên sông Đáy ”, “ Ngắm trăng ”, một số bài “ Vô đề”

=> Đây là một bước không kém phần quan trọng trong quá trình làm bài. Chỉ khi
người viết tìm được những ý hay thì mới có thể triển khai bài viết hay. Nên biết sáng
tạo, có những suy nghĩ tạo nên những ý văn mới, không nên sưu tầm những ý đã có
sẵn của người khác.
b. Bước 2: Xây dựng bố cục.
* Đôt-tôi-ép-xki, nhà văn Nga của thế kỉ XX ước ao: Nếu tìm được một bản bố
cục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên băng. Còn Ix-pen, một nhà văn Thụy
Điển đã để hẳn một năm lao động xây dựng bố cục cho bản trường ca và ông đã hoàn
thành bản trường ca đó trong đúng ba tháng. Thật vậy, để làm một dàn ý tốt không

+ Không thể nào quên được con đường làng dẫn đến ngôi trường học thân yêu.
+ Dòng sông đã ấp ủ bao kỉ niệm của tuổi thơ tôi.
+ Người dân quê tôi sống rất tình nghĩa, trong đấu tranh họ rất kiên cường,
anh dũng
- Kết bài: Tình cảm đối với quê hương
13
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
* Dàn ý của bài văn biểu cảm về tác phầm văn học
- Mở bài :
+ Giới thiệu tác phẩm (thể loại, đề tài, tác giả …)
+ Giới thiệu hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm.
+ Nêu cảm nhận chung về tác phẩm.
- Thân bài: Nêu những cảm xúc suy nghĩ do tác giả gợi lên. Có nhiều trình tự
nêu cảm xúc có thể vận dụng:
+ Trình tự 1: Nhận xét khái quát về giá trị của tác phẩm (cả giá trị nội dung và
giá trị nghệ thuật ). Trên cơ sở đó, chọn một số chi tiết, hình ảnh đặc sắc để nêu cảm
nghĩ. Trình tự này thường sử dụng ở những bài văn biểu cảm về tác phẩm tự sự .
+ Trình tự 2: Nêu cảm nghĩ thứ tự các phần, các ý hoặc theo mạch cảm xúc của
tác phẩm. Ở mỗi phần, cảm nghĩ phải tập trung cho cả nội dung lẫn nghệ thuật. Trình
tự này thường sử dụng ở những bài văn biểu cảm về tác phẩm trữ tình.
- Kết bài: Khẳng định lại ấn tượng chung về tác phẩm.
* Để cảm nghĩ về tác phẩm văn học thêm sâu sắc, có thể liên hệ tới hoàn cảnh
ra đời của tác phẩm, liên hệ, sánh với những tác phẩm khác cùng chủ đề (có thể cùng
tác giả hoặc khác tác giả ). Trong quá trình nêu cảm nghĩ, phải bám sát các chi tiết,
hình ảnh, có dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu tránh tình trạng nêu cảm nghĩ chung chung.
Cảm nghĩ phải sâu sắc, chân thành. Tránh tình trạng bắt chước một cách sống sượng,
sáo mòn, giả tạo.
=> Trong thực tế rất nhiều học sinh không thực hiện tốt bước này, có lẽ không
biết làm hoặc lười. Thế nên, khi đọc và xác định xong đề các em bắt tay vào viết ngay
nên dẫn đến tình trạng bài viết trình bày không mạch lạc, lôgic, nhiều bài trình bày

“lồng” và trùm lên cổ thụ. Cành, lá, hoa cắt ánh trăng thành những mảng trắng đen
lẫn lộn. Bóng trăng, bóng cây lại in xuống mặt đất tạo nên những bông hoa trăng
15
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
tuyệt đẹp. Cảnh rừng có tầng cao, tầng thấp, có màu sáng và tối, trắng và đen, loang
loáng ánh bạc. Sắc màu bề ngoài mát lạnh. Mọi vật im phăng phắc. Ấy thế mà bên
trong, thiên nhiên lại vận động ấm áp vô chừng! Trăng lẩn vào cây, cây lẩn vào hoa,
bóng hoa, bóng cây, bóng trăng chồng chéo lên nhau, ôm ấp, quấn quýt lấy nhau,
trong âm điệu hai lần lặp lại từ “lồng” làm cho mọi vật thật ấm áp, nồng đượm biết
bao! Thế là hòa nhịp với âm thanh của suối cũng có hình ảnh của ánh trăng, cổ thụ và
khóm hoa đã tạo nên một bức tranh thủy mặc đẹp và đầy chất thơ: cảnh khuya trong
sáng, lung linh huyền ảo, nên thơ nên họa nên nhạc.
Đoạn kết bài: Bài thơ phản ánh một tâm hồn thanh cao, một phong
thái ung dung tự tại của một nhà thơ chiến sĩ suốt đời hy sinh cho độc lập tự do của
đất nước và hạnh phúc của nhân dân. “Cảnh khuya” là một bài tứ tuyệt kiệt tác
“mênh mông, bát ngát tình.”
=> Có lẽ đây là bước quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của bài
viết. Vì nếu không các em sẽ lặp lại các thao tác đưa dàn bài vào mà không diễn đạt
các ý thành câu thành đoạn. Đây là bước chiếm thời gian nhiều nhất trong quá trình
làm bài. Do đó, giáo viên cần hướng dẫn các em cụ thể cách viết từng phần, từng đoạn
theo hệ thống ý đã tìm được.
d. Bước 4: Đọc và sửa bài
Đa số học sinh khi làm bài không biết cách phân phối thời gian hợp lí nên viết
xong là nộp bài, một số thì hoàn thành bài rất sớm (khoảng 60 phút), một số thì hết
thời gian nhưng vẫn chưa làm xong bài. Do đó, khâu sửa bài sau khi viết không được
coi trọng. Giáo viên cần nhắc nhở các em đọc và chỉnh sửa lại bài trước khi nộp.
HĐ 4: Cách lập ý của bài văn biểu cảm
Giáo viên đưa ra một số phương pháp lập ý cơ bản, phân tích để học sinh
tiếp cận, hiểu và vận dụng trong quá trình làm bài.
1. Liên hệ hiện tại với tương lai: Là hình thức dùng trí tưởng tượng để

(Cô Tô- Nguyễn
Tuân)

17
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm Hỏi: Chỉ ra các yếu tố miêu tả trong đoạn văn ?
Trả lời: trong trẻo sáng sủa xanh mượt, trong sáng, nước biển lại lam biếc
đậm đà, cát lại vàng giòn càng thêm nặng mẻ cá giã đôi.
Hỏi: Đoạn văn thể hiện tình cảm nào của tác giả? Tác giả trình bày cảm xúc
bằng cách nào?
Trả lời: Trong đoạn văn này ta thấy cảm xúc đã hòa quyện vào cảnh vật:
Nguyễn Tuân đã phát hiện ra vẻ đẹp tinh khôi và hấp dẫn của Cô Tô sau cơn bão.
Qua cách tái hiện lại cảnh vật, người đọc thấy Nguyễn Tuân yêu da diết và nặng lòng
với Cô Tô, một mảnh hồn của đất nước trên vùng vịnh Bắc Bộ đến mức nào! Đó là
cách biểu cảm gián tiếp.
18
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
=> Từ đó giáo viên giúp học sinh phân biệt được miêu tả với biểu cảm: Trong
miêu tả, đối tượng miêu tả là con người, phong cảnh, đồ vật. Con người cũng bộc lộ tư
tưởng cảm xúc nhưng đó không phải là nội dung chủ yếu của phương thức biểu đạt ấy.
Ngược lại trong văn biểu cảm, người ta cũng miêu tả cảnh vật, đồ vật, con người song
chủ yếu là để bộc lộ tư tưởng tình cảm. Chính vì vậy người ta không miêu tả một đồ
vật, cảnh vật con người ở mức cụ thể hoàn chỉnh mà chỉ chọn những chi tiết, thuộc
tính, sự vật nào có khả năng gợi cảm để bộc lộ cảm xúc tư tưởng mà thôi.
b. Cho bài thơ:

ơi! Phượng buồn, tôi cũng buồn vì phải xa thầy cô, bạn bè và xa cả phượng vĩ thân
yêu nữa. Tôi mong mùa thu sớm quay về để được phượng dang rộng vòng tay đón
chào chúng tôi, để tôi được ngồi dưới cái ô rộng, thưởng thức làn gió mát và nghe
tiếng chim hót trong những giờ ra chơi.
- Trong đoạn văn học sinh cần chỉ ra yếu tố miêu tả trong đoạn văn.
- Thể hiện tình yêu và sự gắn bó với cây phượng.
=>Giáo viên khái quát: Như vậy, thái độ và tình cảm của người viết thể hiện thông
qua cách nhìn nhận sự vật, cách dùng từ ngữ ví von so sánh. Tự sự, miêu tả giúp gợi ra
đối tượng biểu cảm cụ thể hơn. Tự sự miêu tả muốn hay, người viết không chỉ có tài
quan sát và thể hiện bằng các từ ngữ hình ảnh, bằng lối so sánh, ví von độc đáo… mà
còn phải có cái tình. Cái tình ấy có thể là tấm lòng say đắm, là thái độ tình cảm trân
trọng mến yêu đối với cái đẹp, cái trong sáng, cao thượng…nhưng cũng có thể là sự
căm ghét, khinh bỉ đối với cái ác cái xấu cái lố lăng kệch cỡm ở đời. Không có cái tình
mọi sự miêu tả, dù ngôn ngữ có sắc sảo phong phú đến bao nhiêu cũng không để lại
cho người đọc bất kì sự cảm nhận nào. Bài văn ấy sẽ chỉ là cái xác không hồn, không
gây được xúc động.
HĐ 6: Chấm và trả bài cho học sinh
20
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
Khi chấm bài làm văn biểu cảm của học sinh, GV nên coi trọng tính cá
biệt, sự độc đáo trong suy nghĩ, rung động có trong nội dung hơn là độ dài của bài.
Nếu bài văn biểu cảm của các em chỉ cần có được một, hai cảm nhận hoặc một, hai nội
dung có sắc thái tình cảm riêng, các thầy cô giáo nên trân trọng, biểu dương và tỏ thái
độ đánh giá cao qua cách cho điểm.
3. Các tồn tại nảy sinh và cơ sở thực tiễn của vấnđề
3.1. Tồn tại
- Phần lớn học sinh đều lười đọc sách nên các em không có vốn từ để diễn đạt.
Những học sinh khá giỏi thì chưa chú trọng nhiều đối với môn ngữ văn.
- Thiết bị, phương tiên dạy học chưa đồng bộ, máy chiếu chỉ có 1 cái đã ảnh
hưởng đến việc đưa những thông tin có liên quan đến học sinh.

4. Kết quả đạt được
a. Đối với bản thân
Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình
vững vàng hơn, tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng người. Ai đó đã từng nói
“Nghiệp văn là nghiệp khổ” nhưng tôi chẳng thấy khổ chút nào mà ngược lại, tôi thấy
mình sung sướng hạnh phúc vì được cống hiến, góp sức mình làm đẹp cho đời.
Trong quá trình giảng dạy các tiết tập làm văn không chỉ cung cấp lí thuyết
mà tôi còn rèn được cho các em kĩ năng thực hành biểu cảm thông qua các bước tìm ý
và lập dàn ý. Tôi còn cung cấp cho các em những vốn từ cần thiết để giúp các em vượt
qua khó khăn khi làm văn biểu cảm. Mặt khác, tôi luôn chú ý tích hợp với phần Tiếng
Việt và văn bản giúp các em viết đúng câu, biết sử dụng những biện pháp tu từ vào
văn biểu cảm.
Giúp học sinh biết vận dụng thêm yếu tố tự sự, miêu tả vào sẽ làm cho bài văn
có sức hấp dẫn, lôi cuốn và tác động mạnh đến tư tưởng tình cảm người đọc. Khi nắm
vững được kĩ năng kết hợp tự sự, miêu tả vào văn biểu cảm sẽ giúp cho học sinh nhận
biết được đặc trưng của từng loại văn bản, từ đó các em hạn chế được lỗi lạc đề khi
viết văn. Không chỉ vậy còn rèn cho các em kĩ năng miêu tả và tự sự.
22
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
b. Đối với học sinh
Đối với các em học sinh, các em bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng
của môn văn. Đa số học sinh đề nắm được cách làm bài văn biểu cảm, biết bộc lộ cảm
xúc của mình đúng cách, đúng nơi, đúng lúc. Trên lớp, thông thường sau khi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ý sau đó cho học sinh về nhà lập dàn ý của đề bài văn
đó vào vở bài tập hoặc giấy, tiết sau tôi thu bài về nhà chấm. Có khi tôi lại cho học
sinh hoạt động nhóm, trình bày dàn ý trên giấy A0. Sử dụng phương pháp này các em
có thể bàn bạc, trao đổi, nhận xét về những ý văn của mỗi bạn nêu ra. Kết hợp nhiều
cách thì trong quá trình chấm bài, tôi thấy kết quả thật khả quan, bài viết của các em
có bố cục 3 phần (có thể chưa hay) nhưng các ý được diễn đạt theo trình tự, tôi cũng
dễ hơn trong việc chấm bài của các em.

trung bình
Học sinh
yếu
Học sinh
kém
7a4-7a5
(60 HS) 20 27 10 3 0

Kết quả tuy chưa cao so với mong muốn của giáo viên, nhưng rõ ràng các em
đã có sự chuyển biến trong học tập. Các em đã nhận thức được việc chủ động trong
học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên sẽ giúp các em có kiến thức tốt trong những
bài làm sắp tới. Chính những chuyển biến trong suy nghĩ này mà giờ học Ngữ văn ở
đầu học kì II các em học tích cực hơn. Giờ học cũng nhẹ nhàng và thú vị hơn.
6. Phạm vi và tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm
Nghiên cứu và đầu tư soạn giảng cho các bài tập làm văn trong chương trình
ngữ văn 7 (văn biểu cảm) có thêm nguồn tư liệu phong phú hơn. Tìm hiểu nguyên
nhân vì sao học sinh còn yếu trong kĩ năng làm văn biểu cảm? Từ đó giúp các em làm
văn biểu cảm tốt hơn. Đồng thời biết vận dụng yếu tố biểu cảm vào các kiểu văn bản
khác. Từ những tình cảm thể hiện trong bài viết sẽ rèn cho các em biết cách ứng xử,
giao tiếp có văn hóa, lịch sự trong thực tế.
Việc ứng dụng sáng kiến này, giáo viên không thể thực hiện trong thời gian
ngắn mà hoàn tất được. Ngay từ đầu giáo viên cần chuẩn bị tâm lí cho học sinh để các
em tham gia buổi học tốt hơn. Việc này đòi hỏi giáo viên phải có sự nổ lục, tình
thương yêu và sự nhiệt tình trong giảng dạy, khuyến khích kịp thời những học sinh có
tích cực phấn đấu. Điều đó tạo cho học sinh sự đồng cảm, thích thú khi học văn.
7. Những bài học kinh nghiệm
24
Rèn luyện học sinh kĩ năng làm văn biểu cảm
Đối với giáo viên: Phải phát huy ở học sinh tính chủ động trong toàn bộ quá trình
phát hiện, tìm hiểu và áp dụng vào bài viết dưới sự tổ chức và hướng dẫn của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status