Giải pháp giảm nghèo trên địa bàn huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ - Pdf 24

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HẠ HÒA-TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực về kinh tế
và xã hội. Nhưng do xuất phát điểm rất thấp của nền kinh tế nên cho đến nay, Việt
Nam vẫn thuộc nhóm nước nghèo trên thế giới, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam còn rất cao,
theo chuẩn nghèo mới được chính phủ ban hành trong quyết định số 170/2005/QĐ-
TTg ngày 8/7/2005, cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn
quốc [1,tr.29]. Đến năm 2009 cả nước có khoảng 2 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11%
dân số, chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ vốn đã có
3

khoảng cách khá xa nay càng giãn thêm ra; một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt
là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnh nghèo. Người nghèo ít có
khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, dễ bị tổn thương trước những rủi ro
trong cuộc sống như thiên tai, mất mùa, ốm đau. Khả năng tái nghèo còn cao, kết
quả giảm nghèo thiếu tính bền vững. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nhận
định: “ Thành tựu XĐGN chưa thật vững chắc. Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo ở một
số vùng còn lớn, tỷ lệ nghèo theo tiêu chuẩn mới còn cao. Đời sống nhân dân vùng
sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn gặp nhiều khó khăn, nhiều vùng dân tộc
thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với bình quân cả nước” [6,tr.173].
Hạ Hoà là huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ. Trong những năm qua, thực
hiện công cuộc đổi mới của Đảng, tình hình KT - XH nhiều tiến bộ đáng kể, kết cấu
hạ tầng cơ sở ở vùng nghèo của huyện được xây dựng, mở rộng nhanh chóng đã
phát huy tác dụng cải thiện đời sống nhân dân, công tác giảm nghèo của Hạ Hoà đã
đạt được những thành tựu quan trọng về KT-XH. Nhờ đạt được những kết quả trong
phát triển kinh tế nông nghiệp, đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận dân cư
đã được cải thiện. Số hộ đủ ăn, số hộ giàu tăng lên, hộ nghèo đói đã giảm, nhiều hộ
gia đình đã có tích luỹ. Bộ mặt nông thôn trên địa bàn có nhiều thay đổi, đã góp
phần giữ gìn ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên, cũng như nhiều huyện miền núi trên cả nước, tình hình đời sống
của một bộ phận không nhỏ hộ nông dân ở huyện Hạ Hoà còn gặp nhiều khó khăn,
mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Nguồn thu nhập chính của người nông

4. Những đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Hạ Hoà
tỉnh Phú Thọ, tìm ra những nguyên nhân và hạn chế, các giải pháp chủ yếu thực
hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ .
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn được chia làm 4 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo và giảm nghèo.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
5

- Chương 3: Thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú
Thọ.
- Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thực hiện giảm nghèo trên
địa bàn huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ.


khác nhau về nghèo và GN.
Đến nay nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái
niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại hội nghị
bàn về XĐGN ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do Uỷ Ban Kinh tế Xã hội
Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc -
Thái Lan, tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “ Nghèo
là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ
bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển KT- XH,
phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa
nhận”[3,tr.11].
7

Đây là khái niệm khá đầy đủ về nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí
sử dụng. Định nghĩa đó đề cập được nội dung cơ bản của vấn đề nghèo đó là nhu
cầu cơ bản của con người. Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu
để duy trì sự tồn tại sinh học của con người. Theo ý đó, Nghèo là tình trạng nghèo
khổ cùng cực, là trạng thái con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng để duy
trì sự sống bình thường và không đủ để lao động, tái sản xuất sức lao động.
Để đánh giá đúng mức độ nghèo người ta chia nghèo thành hai loại: nghèo
tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà
ở, y tế, giáo dục…). Những nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt theo từng
quốc gia và được mở rộng dần trong quá trình phát triển.
Nghèo tuyệt đối phản ánh mức tối thiểu của sự nghèo khổ về dinh dưỡng và
phúc lợi xã hội. Trên thực tế, bộ phận dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng
nghèo và thiếu đói. Đó là bộ phận dân cư chỉ đảm bảo được mức lương bữa no, bữa
đói trong ba tháng trở xuống, sống cầu bơ, cầu bất. Đây là những người đói ở mức
nghiêm trọng. Theo một quy định của Ngân hàng thế giới: Nhu cầu dinh dưỡng của
các nước Đông Nam Á phải đạt 2100 kcalo/người/ngày.

khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Chương trình mục tiêu quốc gia
về GN giai đoạn 2001 - 2010 của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm: nghèo, hộ
nghèo, vùng nghèo…
1.1.2. Khái niệm về nghèo ở Việt Nam
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do Hội nghị chống nghèo khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương do Uỷ Ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình
Dương Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan, tháng 9/1993.
khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hoá, thuộc phạm trù văn hoá tinh thần.
Hộ nghèo là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.
Xã nghèo là xã có tỷ lệ nghèo cao (có tỷ lệ nghèo từ 25% trở lên), không có
hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm y tế
9

trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Vùng nghèo là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm
trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao.
Như vậy, nghèo là biểu hiện của cuộc sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh
thần của mỗi con người trong cùng một cộng đồng, một dân tộc.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá nghèo
Để đánh giá được mức độ nghèo cần phải đưa ra các tiêu chí xác định mức
độ nghèo. Tuy nhiên, những tiêu chí xác định không cố định mà luôn có sự biến
động và khác nhau không những giữa các nước mà ngay trong cùng một nước, và
cũng khác nhau qua những giai đoạn lịch sử.
* Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của các tổ chức trên thế giới
Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo
của các quốc gia dựa vào mức thu nhập bình quân tính theo đầu người trong một
năm và mức kcalo tối thiểu cần thiết cho một người sống trong ngày với hai cách
tính:
- Phương pháp Atlas là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Theo

tác động của nhiều yếu tố khác như yếu tố chính trị, xã hội. Vì vậy, cơ quan phát
triển con người của Liên Hợp Quốc còn đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) để
kiểm soát đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người. HDI đo thành tựu trung
bình của một quốc gia trên 3 phương diện của sự phát triển con người, đó là:
- Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh;
- Tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục;
- Thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP).
HDI được tính bằng công thức sau:
I
A
+ I
E
+ I
N
HDI =
3
Trong đó: I
A
: Chỉ số đo tuổi thọ;
I
E
:

Chỉ số đo tri thức;
I
N
: Chỉ số đo mức sống;
Theo đánh giá của WB, tuy đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới
11


thị
miền núi,
hải đảo
đồng bằng,
trung du
miền núi,
hải đảo
đồng bằng,
trung du
1993
<15
<20
55.000
70.000
1995
<15
<20
<25
55.000
70.000
90.000
1997
<15
<20
<25
55.000
70.000
90.000
2000
-

Các nhân tố về tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình
hình thành và tồn tại của nghèo trong mỗi vùng, mỗi quốc gia thường bao gồm các
nhân tố như: vị trí địa lý, đất đai, địa hình, khí hậu thời tiết.
- Vị trí địa lý: Những nơi xa xôi, hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn… là
một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nghèo cao. Bởi những vùng, địa
phương có vị trí không thuận lợi dễ bị rơi vào thế cô lập với bên ngoài, khó tiếp cận
với các nguồn lực để phát triển như khoa học - công nghệ, tín dụng, thị
trường…Tuy nhiên, đây không phải là nhân tố quyết định mà nó còn phụ thuộc vào
các chính sách, vào nhận thức của từng quốc gia và có thể khắc phục được.
- Đất đai: Đất canh tác ít, cằn cỗi, khó canh tác, năng suất cây trồng, vật nuôi
đều thấp là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông nghiệp gặp nhiều khó khăn,
nhất là đối với những vùng thuần nông. Thiếu đất sản xuất sẽ ảnh hưởng đến khả
năng đảm bảo lương thực cho người nghèo và khả năng đa dạng hoá sản xuất để
hướng tới những cây trồng có giá trị kinh tế cao, dẫn đến thu nhập của người nông
dân thấp kéo theo việc tích luỹ và tái sản xuất mở rộng bị hạn chế, bởi vậy người
nghèo lại tiếp tục nghèo.
- Địa hình: Những vùng có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông suối và
núi đá, đất dốc, hoặc những nơi đất bị xói mòn, dễ bị khô hạn sẽ làm cho việc tổ
13

chức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ gặp nhiều khó khăn, chi phí sản xuất cao, hiệu
quả sản xuất thấp.
- Về khí hậu thời tiết: Đây cũng là nhân tố có tác động rất lớn đến quá trình
sản xuất, đến sự hình thành nghèo của vùng hay của một quốc gia, một khu vực.
Thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp như nắng lắm, mưa nhiều, biên độ nóng, lạnh
quá lớn hoặc xảy ra động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán…thì sẽ làm tổn thất về
người, tài sản, huỷ hoại môi trường sinh thái…Khi đó tình trạng nghèo là khó tránh
khỏi. Dó đó, trong các giải pháp giảm nghèo cũng phải tính đến các yếu tố này.
1.2.2. Nhóm nhân tố về kinh tế
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan ban đầu cho phát triển

một nguồn lực hạn chế lại phải cân đối cho một lượng dân cư lớn hơn thì sẽ khó
khăn cho việc huy động nguồn lực để hỗ trợ trực tiếp cho các mục tiêu GN…
- Về lao động: Chất lượng lao động (trình độ tay nghề, sức khoẻ, thái độ lao
động của người lao động…) là một nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế nói
chung, đến tình trạng nghèo nói riêng bởi vì chất lượng lao động sẽ tác động trực
tiếp đến tăng năng suất và tăng thu nhập cho người lao động.
- Về giáo dục: Chất lượng lao động gắn với việc nâng cao trình độ dân trí và
chiến lược phát triển giáo dục. Hầu hết những người nghèo, vùng nghèo ở Việt Nam
là những nơi có trình độ dân trí thấp. Cùng với tác động của thu nhập thấp nên việc
đầu tư cho con cái học hành của các hộ gia đình nghèo và vùng nghèo ít được quan
tâm hơn, ít được đào tạo nghề nên ít có cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao.
Kết quả tỷ lệ đi học trong độ tuổi ở các vùng này thấp và như vậy nguy cơ nghèo về
tri thức dẫn đến nghèo về mọi mặt sẽ gia tăng.
- Về y tế: Người nghèo có thu nhập thấp nên ít có điều kiện chăm lo sức khoẻ,
bệnh tật phát sinh nên sức lao động suy giảm và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu
nhập và chi tiêu của họ. Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: một là, mất đi thu nhập
từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho khám chữa bệnh. Họ phải vay mượn,
cầm cố tài sản để có tiền chi phí, dẫn đến người nghèo càng ít có cơ hội thoát khỏi
nghèo.

15

1.3. Sự cần thiết phải giảm nghèo
- Giảm nghèo tạo điều kiện cho phát triển KT-XH
Thực tế cho thấy người nghèo không có khả năng nuôi dạy con cái khoẻ
mạnh; không có khả năng cho con em học hành để có tay nghề tốt, do đó dẫn đến
hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học; không có khả năng hưởng thụ văn hoá; không
có khả năng khám chữa bệnh…, về lâu dài sẽ làm giảm năng lực sản xuất của gia
đình và mất cơ hội tăng thu nhập cho họ.
Đặc biệt hộ nghèo còn không có khả năng tích luỹ cho đầu tư mở rộng sản

hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều các nguồn lực và của cải làm ra, bất chấp chất
lượng, hiệu quả của sản xuất kinh doanh và sự đóng góp của mỗi người cho sự phát
triển chung của cộng đồng. Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:
“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu
phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo
điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”
[5, tr.113].
GN góp phần thực hiện công bằng xã hội thể hiện trên các mặt: Mở rộng cơ
hội lựa chọn cho cá nhân, nhất là nhóm người nghèo; tạo cơ hội cho sự phát triển
đồng đều giữa các vùng, giảm khoảng cách và sự chênh lệch quá đáng về mức sống
giữa nông thôn và thành thị, các nhóm dân cư.
1.4. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nƣớc trên thế giới, trong nƣớc và một số
huyện trong tỉnh Phú Thọ. Bài học kinh nghiệm cho huyện Hạ Hoà giảm nghèo.
1.4.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có dân số đông nhất thế giới (chiếm 25%), thành
công của Trung Quốc trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo không chỉ có tăng
trưởng kinh tế mà còn do những biện pháp giải quyết việc làm ở nông thôn (cho 800
triệu người), mở rộng hệ thống dạy nghề, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm
nhẹ điều kiện việc làm, cải thiện điều kiện sống cho nông dân (mô hình xí nghiệp
Hương Trấn).
17

Kinh nghiệm của Trung Quốc là cải cách đi đôi với phát triển công nghiệp
nông thôn (Quy mô sản xuất vừa và nhỏ, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ chế biến,
xuất khẩu) nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo kinh tế thuần nông “ly nông bất ly
hương”. Tuy là một nước đông dân nhất thế giới nhưng Trung Quốc lại có tỷ lệ
người nghèo khổ thấp nhất (năm 1991 còn 87 triệu người sống dưới mức nghèo
khổ, 27 triệu người là bần cùng)

này, Chính phủ quyết định giành 80% kinh phí dự án cho các chủ xây dựng (trước
đây khoảng 19%), tài chính cho các dự án còn được bổ sung bằng nguồn vốn phát
hành công trái (4 tỷ Pêxô). Kết quả đạt được của dự án tuy mới giải quyết được một
phần nhỏ trong tổng số ước tính một triệu người không có nhà ở trên toàn quốc,
nhưng việc bố trí nơi ở cố định cho người nghèo ở Manila cũng là một cố gắng lớn
của Philippin trong điều kiện nguồn ngân sách hạn hẹp hiện nay. Ngoài những dự
án cấp nhà ở, Chính phủ Philippin còn quan tâm tạo việc làm cho người nghèo ở
thành thị. Hơn một năm qua ở Philippin lạm phát bớt căng thẳng, lãi suất giảm, đời
sống nhân dân được cải thiện, số lượng người mua bảo hiểm tăng chứng tỏ bắt đầu
có sự tích luỹ và đầu tư về lâu dài, Những thành công trong công cuộc GN ở
Philippin chưa nhiều, song với cam kết đẩy mạnh kinh tế nhằm xoá tận gốc đói
nghèo, Chính phủ sẽ có biện pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong
những năm tới.
Từ những kinh nghiệm trong công cuộc GN của các nước trong khu vực cho
thấy Chính phủ phải có sự can thiệp đồng bộ để tăng trưởng kinh tế gắn liền với
công bằng xã hội, đó chính là xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hoá, giáo dục
gắn liền với các nguồn lực như đất đai, lao động, tạo việc làm và giải quyết việc làm
cho người lao động.
Việt Nam là một nước có tỷ lệ nghèo cao, do vậy kinh nghiệm của các nước
láng giềng trong công tác GN là bài học bổ ích cho chúng ta để có thể giảm nhanh
nghèo như các nước trong khu vực. Nếu chúng ta vẫn duy trì được tốc độ phát triển
kinh tế cao như mấy năm gần đây và đảm bảo được sự phân chia đồng đều giữa các
nhóm KT- XH thì việc giảm nghèo sẽ đạt được kết quả khả quan.

19

1.4.2. Kinh nghiệm giảm nghèo một số tỉnh thành trong nước
* Kinh nghiệm của Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh biên giới phía Bắc, có 8 huyện và 1 thành phố với 25 dân
tộc anh em và dân số trên 600.000 người, trong đó đồng bào các dân tộc ít người

Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập từ tháng 1 năm 1997, khi đó Vĩnh Phúc còn
là một tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người mới xấp xỉ 140USD/1người/năm,
sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa phát
triển nên việc bố trí ngân sách cho mục tiêu GN là rất khó khăn, phụ thuộc lớn vào
ngân sách trung ương. Giai đoạn này tỷ lệ nghèo đói của tỉnh còn khá cao, cụ thể,
năm 1998, toàn tỉnh có 225.228 hộ, thì có 28.666 hộ nghèo đói, chiếm 12,7% tổng
số hộ, số hộ nghèo là 22.007, chiếm 9,75 tổng số hộ [8,tr.47]. Tuy nhiên, với sự nỗ
lực của người nghèo, hộ nghèo và của các ban, ngành, các cấp, các tổ chức đoàn
thể, số hộ nghèo, xã nghèo của tỉnh đã giảm đi rõ rệt.
Giai đoạn 1998 - 2000 toàn tỉnh giảm được 7.313 hộ nghèo đói, tương đương
với 3,5%, cơ bản không còn hộ đói kinh niên, xoá được 02 xã nghèo. Cuối năm
2000 tỷ lệ nghèo đói chung toàn tỉnh còn 9,2%, nhưng theo chuẩn nghèo giai đoạn
2001 - 2005 tỷ lệ đó tăng lên 12,26%.
Giai đoạn 2001 - 2005, sau 1 năm nâng chuẩn nghèo, cuối năm 2001 tỷ lệ đói
nghèo toàn tỉnh giảm từ 12,26% xuống còn 10,91%, cuối năm 2004 tỷ lệ này giảm
xuống còn 6,6%, cuối năm 2005 tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 5,6%; giảm 8/10
xã nghèo của tỉnh, xoá cơ bản nhà tranh tre, dột nát cho hộ nghèo và hộ chính sách
người có công với cách mạng.
Giai đoạn 2006 - 2010, sau khi nâng chuẩn nghèo mới tỷ lệ đói nghèo của tỉnh
tăng lên rất cao, cuối năm 2005, toàn tỉnh có tới 18,04% hộ đói nghèo. Nhưng sau 1
năm thực hiện chương trình GN, Vĩnh Phúc đã đạt được tỷ lệ giảm nghèo cao nhất
từ khi tái lập tỉnh đến nay, toàn tỉnh đã giảm được 7.332 hộ, tương đương với
3,14% [8,tr.67].
Trong 5 năm (2001 - 2005) tổng kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia GN của tỉnh là 752.915 triệu đồng, trong đó ngân sách Trung ương là
21

214.995 triệu đồng, ngân sách tỉnh là 234.498 triệu đồng, vốn huy động từ cộng
đồng là 158.529 triệu đồng [8,tr.63].
1.4.3. Kinh nghiệm giảm nghèo trong tỉnh Phú Thọ

rừng và chăn nuôi gia súc gia cầm Đến nay, diện tích lúa lai, lúa chất lượng cao
chiếm 50-70% diện tích gieo trồng của toàn huyện. Trong năm 2011, Cẩm Khê gieo
trồng được gần 15.000ha trong đó diện tích trồng lúa hơn 7.600ha, tổng sản lượng
lương thực có hạt hơn 51.000 tấn, năng suất lúa đạt cao nhất từ trước tới nay, bình
quân đạt 54,1 tạ/ha. Huyện đã nhân rộng được hàng trăm mô hình cánh đồng, khu
đồi rừng có thu nhập cao. Điển hình như mô hình: Cá rô phi đơn tính, chép lai 3
máu, tôm càng xanh, trồng nấm, khoai tây, đậu tương, ngô lai, lúa lai Những năm
gần đây, Cẩm Khê đã đẩy mạnh phát triển thủy sản một ngành kinh tế trọng điểm
mũi nhọn của huyện với nhiều chính sách .Năm 2011, Cẩm Khê duy trì 5 lớp trung
cấp nghề, mở 22 lớp sơ cấp nghề cho 842 lao động, góp phần tạo việc làm mới cho
2.203 người. Từ việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, đa dạng hóa các ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp, chú trọng các chương trình kinh tế trọng điểm, mũi nhọn, Cẩm
Khê đã giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống còn 44,9%, tăng mức thu nhập bình quân
đạt gần 10,13 triệu đồng/ người/ năm. Để có nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, huyện
Cẩm Khê đã lồng ghép nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế, nhất là huy
động nguồn lực đầu tư xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi,
giáo dục và y tế; tập trung triển khai hiệu quả nhiều dự án lớn trên địa bàn huyện
như: Dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Cẩm Khê còn thực hiện khá tốt các
chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội theo đúng quy định. Năm 2011, cấp
trên 41.000 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ tiền
điện cho gần 31.000 lượt hộ nghèo với số tiền trên 3 tỷ đồng; chi trả trợ cấp khó
khăn cho 2.572 cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương hưu có mức
lương thấp, người có công, hộ nghèo có đời sống khó khăn với số tiền trên 503 tỷ
đồng. Các hoạt động thăm hỏi, tặng quà cho đối tượng chính sách, học sinh nghèo,
tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn được tổ chức thường xuyên,
góp phần động viên, hỗ trợ kịp thời cho hộ nghèo vươn lên. Đến cuối năm 2011,
toàn huyện đã đóng góp vốn, công lao động xây dựng xóa xong 1.090 ngôi nhà tạm
23

cho hộ nghèo. Triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp trên, Cẩm Khê đã tạo

đầu tư, hỗ trợ của chương trình phải gắn chặt với việc hướng dẫn, kiểm tra để đảm
bảo cho các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và đạt kết quả KT-XH
- Thiết lập được cơ chế lồng ghép các chương trình phát triển KT-XH với
giảm nghèo, mọi sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng phải hướng tới nâng cao
năng lực nội tại của hộ nghèo để họ tự vươn lên, tự giải quyết lấy việc làm, thu
nhập trong tương lai một cách bền vững.
25

CHƢƠNG 2:
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Một là, Nguyên nhân chủ yếu nào gây ra nghèo đói ở Hạ Hoà
Hai là, Những chính sách giảm nghèo nào đã được triển khai ở huyện Hạ Hoà?
Hiệu quả của chính sách đó như thế nào?
Ba là, Giải pháp giảm nghèo nào đã được Hạ Hoà vận dụng?
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu.
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu chung
Đây là phương pháp tổng quát bao gồm quan điểm duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để thấy rõ các hiện tượng KT-XH trong trạng thái vận động và có các
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nó cho phép phân tích, đánh giá một cách khách
quan các vấn đề nghiên cứu như cơ cấu kinh tế của địa phương, cơ sở vật chất kỹ
thuật có ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ cấu kinh tế đó, phong tục tập quán liên
quan trực tiếp và gián tiếp đến giảm nghèo.
2.2.2. Phương pháp phân tích, thống kê
2.2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra
* Chọn điểm nghiên cứu: Chúng tôi chọn địa bàn huyện Hạ Hoà làm điểm
nghiên cứu của đề tài vì huyện Hạ Hoà là huyện có điều kiện sản xuất rất khó khăn,
phần lớn là sản xuất nông nghiệp, là huyện có nhiều hộ nghèo nhất của tỉnh Phú
Thọ.
* Chọn mẫu điều tra: Do địa bàn huyện Hạ Hoà được chia thành 3 vùng rõ rệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status