một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Cho đến nay, tại Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, lạm
phát vẫn luôn là mối đe dọa thường xuyên đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Lạm phát làm sói mòn niềm tin của dân chúng vào các chính sách của chính
phủ, tăng khoảng cách giữa những người giàu và người nghèo trong xã hội,
lạm phát ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực quốc gia, ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô và an sinh xã hội. Vì vậy mọi nền kinh tế luôn
tìm cách để hạn chế lạm phát, cũng là để hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực do nó
mang lại. Do lạm phát có nguyên nhân sâu xa là sự tăng cao của cung tiền đối
với nền kinh tế, nên các biện pháp mang tính dài hạn đều tập trung vào việc xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả và chính sách tài
khóa bền vững.Việc sử dụng chính sách tiền tệ sao cho hợp lý cũng như việc
kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để có thể
đem lại hiệu quả tối ưu trong việc hạn chế lạm phát là mối quan tâm của hầu
hết các nền kinh tế.
Tại Việt Nam, lạm phát một số năm gần đây có những biến động vô
cùng phức tạp.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản, cốt lõi và bản chất của CSTT trên
phương diện lý thuyết, cũng như những vấn đề cơ bản về lạm phát để từ đó thấy
rõ được tác động của CSTT tới kiểm soát lạm phát.
- Nghiên cứu thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam trong thời gian
qua trong việc kiềm soát lạm phát và nguyên nhân lạm phát của Việt Nam, trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng CSTT
trong kiểm soát lạm phát.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ, lạm phát.
Bên cạnh đó là phân tích mối quan hệ của chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ để thấy được những nhân tố ảnh hưởng và tác động của hai chính sách này
11111

Trong kinh tế học vĩ mô, CSTT được coi là một công cụ quản lý kinh tế
vĩ mô do NHTW thực hiện. Bằng cách NHTW tác động đến cung ứng tiền
(money supply) làm thay đổi cung ứng tiền để tác động đến lãi suất, từ đó ảnh
hưởng đến chi tiêu của các khu vực nền kinh tế, cuối cùng CSTT có tác động
quan trọng đến GDP thực, GDP tiềm năng và lạm phát. Như vậy có thể khái
quát quá trình hoạt động của CSTT, như là một quá trình được khởi đầu từ
những hành động của NHTW làm thay đổi cung tiền của toàn bộ nền kinh tế
( hành động này chứa đựng ý muốn chủ quan của con người), và kết quả cuối
cùng của hành động đó là tác động đến GDP ( thực và tiềm năng) và lạm phát.
Thực tế cũng cho chúng ta thấy khi muốn tăng trưởng kinh tế chống suy thoái,
NHTW có thể tăng cung tiền nhằm hạ lãi suất để thúc đẩy hoạt động kinh tế.
Ngược lại, khi muốn hạn chế tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát NHTW đã tác
động giảm cung tiền làm tăng lãi suất, giảm đầu tư.
Hành động của NHTW không thể là một hành động tuỳ tiện, do vậy,
CSTT phải là cách thức hay tổng thể các biện pháp, công cụ của NHTW nhằm
góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế, thông qua việc chi
phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền và tín dụng, tức là thông qua chi phối
dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền.
Vậy cung ứng tiền ở đây bao gồm những thành phần gì?
Khái niệm tiền tệ theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền
tệ đó là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để nhận hàng hoá
hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ. Theo khái niệm đó, tiền tệ đề cập ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng, không phải chỉ là “tiền mặt” đơn thuần, mà là “
33333
cung ứng tiền”. Cấu thành của cung ứng tiền được NHTW các nước đúc kết
qua quá trình tiến hoá của tiền tệ, đến nay gồm:
- Tiền hẹp ( M1- còn gọi là tiền giao dịch, tiền có thể thanh toán ngay),
gồm: tiền mặt trong lưu thông + tiền gửi không kỳ hạn của các NHTM
Tiền rộng( M2- còn gọi là tiền “tài sản”), gồm: M1+ tiền gửi có kỳ
hạn gửi tại các NHTM + tiền gửi ngoại tệ ( không và có kỳ hạn) + số

CSTT, từ đó hình thành hệ thống mục tiêu của CSTT. Lựa chọn các mục tiêu CSTT
được coi là vấn đề quan trọng nhất và khó khăn nhất trong xây dựng và thực thi
CSTT, nó quyết định tính hiệu quả hay không hiệu quả của CSTT, bởi vì mục tiêu
CSTT quyết định cả một chiến lược CSTT.
Mục tiêu cuối cùng của CSTT
Mục tiêu cuối cùng của CSTT phải là mục tiêu trung dài hạn, vì tính tác động trễ
của tiền tệ đến sản lượng và lạm phát. Vì CSTT là một công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô, nên mục tiêu CSTT theo đuổi không ngoài mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Lý
thuyết về kinh tế học vĩ mô đã xác định mục tiêu kinh tế vĩ mô là mức sản lượng
cao và tăng trưởng nhanh, mức công ăn việc làm hữu hiệu với mức thất nghiệp tự
nguyện thấp nhất, ổn định giá cả. Trên thực tế NHTW các nước điều hành CSTT
thực chất đều theo đuổi mục tiêu trên. Tuy nhiên, CSTT không phải là duy nhất để
nền kinh tế đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô với mức tăng trưởng bền vững, công
ăn việc làm cao và lạm phát thấp, mà để đạt được điều đó phải đồng thời thực hiện
nhiều chính sách khác trong sự phối hợp đồng bọ với nhau, như chính sách tài khóa,
chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại. Do vậy, mục tiêu cuối cùng của CSTT
được NHTW các nước đặt ra một cách cụ thể hơn , đôi khi là gián tiếp để đạt được
mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Đối với các nước đã phát triển, mục tiêu cuối cùng của
CSTT thường đặt ra là ổn định giá cả ở mức thấp. Song đối với các nước đang phát
triển, những nước trong quá trình chuyển đổi mục tiêu cuối cùng của CSTT mang
tính đa mục tiêu, tùy theo mức độ phát triển của thị trường mà theo đuổi các mục
tiêu khác nhau. Chẳng hạn những nước tiếp cận nguồn vốn quốc tế kém, qua đó mà
khả năng mất cân đối đối ngoại lớn thì mục tiêu CSTT, ngoài việc kiểm soát lạm
phát, còn theo đuổi cân bằng cán cân thanh toán.
55555
Có thể khái quát hóa mục tiêu cuối cùng của CSTT là ổn định hệ thống tiền tệ, hỗ
trợ sự phát triển kinh tế bền vững, ổn định giá cả hay là để kiểm cùng được lượng
hóa cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và diễn biến tiền tệ.
+ ổn định giá cả
Đây là mục tiêu hàng đầu của CSTT và là mục tiêu dài hạn. Giờ đây NHTW một số

tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của NKT trên thị trường
quốc tế.
+ Đảm bảo công ăn việc làm.
CSTT phải quan tâm tới khả năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã hội của thất
nghiệp. Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba lý do: (i) Chỉ số thất
nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì nó phản ánh
khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội. (ii) Thất nghiệp gây nên tình trạng
stress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là mầm mống của các tệ nạn xã hội.
(iii) Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân
sách và làm căng thẳng tình trạng Ngân sách.
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0. Mỗi
quốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạt
được mục tiêu này. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp
tạm thời và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu. Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên cũng được coi là mục tiêu của CSTT.
- Mục tiêu trung gian
Khác với mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian là cái đích tương đối, bản thân
chúng không phải là cái đích cuối cùng của CSTT, nhưng để đạt được mục tiêu cuối
cùng thì thực thi CSTT trước hết phải đạt được mục tiêu trung gian. ảnh hưởng của
CSTT chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định từ 6 tháng đến 2 năm. Sẽ là
quá muộn và không hiệu quả nếu NHTW đợi các dấu hiệu về giá cả, tỷ giá, thất
nghiệp để điều chỉnh các công cụ. Để khắc ohucj hạn chế này, NHTW của tất cả
các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu
cuối cùng. Các chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.
77777
Vậy mục tiêu trung gian là gì? Đó là những biến số tiền tệ mà có thể đo lường
được, NHTW có thể kiểm soát được và phải có tác dụng dự báo được mục tiêu cuối
cùng. Điều đó có nghĩa rằng biến số tiền tệ đó có mối liên kết với mục tiêu hoạt
động và có thể tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT.
Theo cách qui định như vậy, mục tiêu trung gian có ý nghĩa quan trọng trong

nhận mục tiêu tổng tiền là thời gian chiến tranh và sự sụp đổ của hệ thống Bretton
Wood. Sự chấp nhận mục tiêu tổng tiền tệ đã làm tổng tiền tệ đóng vai trò như một
cột chỉ đường đối với CSTT, giúp NHTW thực thi các công cụ chính sách phù hợp
với chính sách chống lạm phát, làm tín hiệu cho dân chúng về ý định của NHTW về
khía cạnh lạm phát và cung cấp cơ sở cho dân chúng hiểu về hành động chính sách
của NHTW, mục đích nữa là giúp kỷ luật tài khóa, mà đăc biệt liên quan đến thâm
hụt ngân sách đối với việc mở rộng tiền tệ.
Tuy nhiên, việc sử dụng mục tiêu trung gian là tổng tiền cũng có những khó khăn
nhất định khi mối quan hệ giữa tổng tiền và mục tiêu cuối cùng của CSTT có sự bất
ổn định, vòng quay tiền tệ biến động không theo một chiều hướng sẽ khó khăn cho
việc dự báo, đặc biệt đối với những nước đang trong quá trình tự do hóa tài chính và
ổn định hóa kinh tế vĩ mô (chuyển từ môi trường khinh tế lạm phát cao sang môi
trường lạm phát thấp) là rất khó khăn, vì tự do hóa tài chính thường dẫn đến một sự
tăng lên lâu dài về cầu tiền theo nghĩa rộng, bởi vậy vòng quay tiền tệ
M
nghiadanh GDP
=V
giảm xuống, và việc tăng tiền rộng có thể không phải là
nguyên nhân gây ra lạm phát trong tương lai. Nếu không dự báođược biến động của
vòng quay tiền tệ, việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tiền sẽ có những bất lợi gây
ra sự biến động thường xuyên trong lãi suất và sản lượng thực tế trong ngắn hạn.
Thêm vào đó, sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào khối lượng và năng suất của các
nhân tố sản xuất, những nhân tố này cũng rất khó để tính toán và dự báo, đặc biệt
đối với những nước nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu mạnh mẽ
hay như nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoach hóa tập trung sang cơ chế thị trường.
Đối với những nước này, mức chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm
năng rất khó tính toán, bởi vì nền kinh tế ngầm giữa các nước này khá lớn.Đây là
vấn đề đặt ra cho các nhà lập chính sách, khi mà các nhân tố khó có thể dự báo, thì
cần có những linh hoạt trong việc đặt mục tiêu CSTT cho phù hợp, có thể sự phù
hợp đó ơhair chịu sự kém minh bạch trong chính sách. Ví dụ mục tiêu đặt ra là một

nền kinh tế. Khi NHTW lựa chọn mục tiêu trung gian là lãi suất thị trường thì
không thể đồng thời chọn tổng tiền là mục tiêu trung gian. Do vậy, khi đó NHTW
1010101010
phải chấp thuận sự dao động tăng hoặc giảm tổng tiền để duy trì mức lãi suất theo
mục tiêu. Và điều đó có thể dẫn đến những tác động của CSTT đến lạm phát.
Tóm lại mục tiêu trung gian là tổng tiền, hoặc tỷ giá hối đoái hoặc lãi suất thị trường
đã được áp dụng trong nhiều thập kỷ qua, qua đó cho thấy mỗi một mục tiêu được
lựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế và thị trường tài chính trong từng giai
đoạn phát triển, gắn liền với mục tiêu và giải pháp đảm bảo sự ổn định vĩ mô. Như
vậy, để lựa chọn được mục tiêu trung gian thích hợp, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng
về các diễn biến kinh tế, tiền tệ hiện tại và dự báo trong tương lai, và xác định rõ
định hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động có vai trò quan trọng đối với việc điều hành CSTT. Đây là điểm
khởi đầu trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ, là biến số chủ yếu để NHTW thực thi
CSTT. Ngoài ra mục tiêu hoạt động còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng công
cụ CSTT và đến những thay đổi trên bảng cân đối tiền tệ của NHTW.
Mục tiêu hoạt động là những mục đích sách lược mà NHTW nhằm đạt tới trong
ngắn han, đó là những biến tiền tệ mà NHTW có thể tác động hay kiểm soát một
cách trực tiếp bằng các công cụ CSTT nhằm thay đổi mục tiêu trung gian, qua đó
tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT. Theo Miskin, tiêu chuẩn để lựa chọn
mục tiêu hoạt động, đó là những chỉ tiêu tiền tệ có thể dự báo dược mục tiêu trung
gian và chịu tác động trực tiếp của công cụ CSTT.
Với cách hiểu mục tiêu hoạt động như vậy và trên cơ sở tổng kết thực tiễn, mục tiêu
hoạt động được chia thành 2 loại là mục tiêu hoạt động giá cả hay lãI suất ngắn han
và mục tiêu hoạt động là khối lượng, cụ thể như sau:
(i) Mục tiêu hoạt động là giá cả tiền tệ: nghĩa là NHTW kiểm soát lãi suất ngắn hạn
trên thị trường liên ngân hàng. NHTW thông qua các công cụ CSTT có thể kiểm
soát trực tiếp lãi suất này. Việc quy định lãi suất trần và lãi suất sàn của NHTW trên
thị trường liên ngân hàng nhằm tạo ra hành lang dao động cho lãi suất ngắn hạn trên

trường tiền tệ chưa phát triển, kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh giữa các NH là
thấp, nhất là trong điều kiện tiên quyết là giữa hệ số tạo tiền và hàm cầu tiền phải có
sự liên hệ chặt chẽ với nhau, và gắn với nó là mục tiêu trung gian là tổng tiền (tổng
phương tiện thanh toán hoặc tổng tín dụng nền kinh tế). Sở dĩ mục tiêu khối lượng
1212121212
có hiệu quả trong điều kiện như vậy là do, khi đó chỉ có sự thay đổi khối lượng tiền
mới tạo ra sức đẩy tiền tệ trong cơ chế chuyển dẫn tiền tệ trong môI trường thị
trường tiền tệ kém phát triển.
Sự khác nhau cơ bản giữa mục tiêu giá cả tiền tệ và mục tiêu khối lượng như
thế sẽ dẫn đến sự khó khăn trong lựa chọn mục tiêu khi mối quan hệ giữa hệ số tạo
tiền và cầu tiền tệ bất ổn định và mối quan hệ giữa lãI suất ngắn hạn với lạm phát là
chưa rõ ràng.
Mặc dù đã có những điều kiện tương đối rõ cho việc áp dụng các mục tiêu hoạt
động nêu trên, việc lựa chọn mục tiêu nào còn phụ thuộc vào mục tiêu trung gian
được lựa chọn, nghĩa là phụ thuộc vào cơ chế truyền dẫn tiền tệ hiện hành.
1.1.1.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn sử dụng các công cụ CSTT trong điều hành
CSTT của các NHTW trên thế giới, IMF đã tổng kết và phân chia các công cụ
CSTT thành 2 loại chủ yều: Là công cụ tiền tệ trực tiếp và công cụ tiền tệ gián
tiếp.
- Các công cụ tiền tệ trực tiếp: các công cụ tiền tệ được gọi là công cụ
tiiền tệ trực tiếp là cách thức mà NHTW trực tiếp sử dụng để giới hạn mục tiêu
giá cả ( hoặc mục tiêu khối lượng) thông qua các qui định, và thường nhằm
vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối của ngân hàng thương mại, được gọi là công
cụ tiền tệ trực tiếp. Các công cụ này, thường được áp dụng trong điều kiện thị
trường tiền tệ chưa phát triển, khả năng sử dụng các điều kiện thị trường để
điều tiết tiền tệ của NHTW còn hạn chế, như kiểm soát trực tiếp lãi suất của
nền kinh tế thông qua việc qui định tỷ lãi suất ( cho vay hoặc tiền gửi) cụ thể ,
hoặc biên độ dao động, hoặc qui định trần trên, sàn dưới cho các NHTM cho
vay, hoặc huy động vốn đối với nền kinh tế; Công cụ hạn mức tín dụng; qui

CSTT chủ yếu ở những nước phát triển. Từ nghiệp vụ thị trường mở truyền
thống ( mua bán hẳn chứng khoán chính phủ) cho đến nay nghiệp vụ này
nghiệp vụ này đã phát triển dưới nhiều hình thức, như nghiệp vụ mua – bán có
kỳ hạn giấy tờ có giá (Repo); nghiệp vụ mua – bán có kỳ hạn ngoại tệ (gọi là
nghiệp vụ Swap); bán tín phiếu của NHTW trên thị trường sơ cấp.
Nghiệp vụ tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở nêu trên, có thể nói
là những công cụ tiền tệ gián tiếp chủ yếu được áp dụng trong điều hành CSTT
1414141414
của NHTW các nước. Bên cạnh đó còn một số công cụ khác được áp dụng
trong những điều kiện nhất định và chỉ có một vài nước áp dụng, như nghiệp vụ
tiền gửi của khu vực công – là sự phân bổ lại tiền gửi chính phủ giữa NHTW
với các NHTM để bù đắp sự thiếu hụt ngắn hạn vốn khả dụng của các NHTM.
Sử dụng công cụ này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa NHTW và kho bạc
( Canada, malaysia, Germany áp dụng đến cuối năm 1993)v.v.
Như vậy có thể nói, để điều hành CSTT NHTW đã sử dụng rất nhiều các
công cụ tiền tệ, mỗi công cụ đều có những vai trò nhất định trong việc tác động
đến cung, cầu vốn trên thị trường. Tùy theo các điều kiện của thị trường tiền tệ,
mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, mục tiêu và khuôn khổ CSTT của
NHTW mà mỗi công cụ khi áp dụng có thể mang lại những hiệu quả tối đa.
1.1.2- Cơ sở lý luận về lạm phát
1.1.2.1. Lạm phát là gì
 Trong giới kinh tế học về tiền tệ, quá trình phát triển của các khái niệm về
lạm phát đã được thể hiện qua dòng lịch sử phát triển của các trường phái
tiền tệ học.
Theo Paul Samuelson, lạm phát là biểu thị của một sự tăng lên trong mức giá chung.
Điều này có nghĩa là cứ khi mức giá chung tăng lên là có lạm phát. Chẳng hạn như
hàng tháng, khi cơ quan thống kê công bố mức giá cả tháng này tăng bao nhiêu %
so với tháng trước thì theo Paul Samuelson tháng đó có lạm phát.
Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế, đi đầu là Milton Friedman. đều cho rằng lạm phát
không chỉ đơn thuần là sự tăng lên của mức giá chung như Samuelson khẳng định

1
, nền kinh tế có lạm phát.
1616161616
Tổng cầu phản ánh nhu cầu có khả năng thanh toán về hàng hóa dịch vụ của xã hội.
Nó bao gồm nhu cầu hàng hóa, dịch vụ của các hộ gia đình, nhu cầu hàng hóa đầu tư
của các doanh nghiệp, nhu cầu hàng hóa dịch vụ của Chính phủ và nhu cầu hàng hóa
xuất khẩu ròng của thị trường nước ngoài. Khi nhu cầu có khả năng thanh toán của
các chủ thể này tăng lên, tiền chi tiêu nhiều hơn, giá cả tăng lên. Các lý do cụ thể là:
• Chi tiêu chính phủ tăng lên: Khi chi tiêu chính phủ tăng lên, tổng cầu có thể
tăng lên trực tiếp thông qua các khoản đầu tư vào các lĩnh vực thuộc phạm vi
Chính phủ quản lý hoặc có thể gián tiếp thông qua các khoản chi phúc lợi xã
hội, trợ cấp thất nghiệp tăng lên và kết quả là giá cả hàng hóa tăng lên. Trong
trường hợp nhu cầu chi tiêu vượt quá khả năng thu ngân sách và được bù đắp
bằng vốn phát hành hoặc vay ngân hàng thương mại rất dễ dẫn đến trường
hợp lạm phát cao và kéo dài.
• Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên có thể do mức thu nhập thực tế
tăng lên, do lãi suất giảm xuống, do điều kiện vay tiêu ding thuận lợi…đều có
tác dụng đẩy tổng cầu lên và gây áp lực đối với lạm phát.
• Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên xuất phát từ dự đoán về triển
vọng phát triển kinh tế, về khả năng mở rộng thị trường, do lãi suất đầu tư
giảm, do điều kiện vay vốn đầu tư dễ dàng hơn…về mặt ngắn hạn nó làm cho
mức giá cả tăng lên.
• Các yếu tố liên quan đến nhu cầu của nước ngoài như tỷ giá, giá cả hàng hóa
nước ngoài so với hàng hóa cùng loại được sản xuất trong nước và thu nhập
bình quân của thị trường nước ngoài có những ảnh hưởng quan trọng đến nhu
cầu hàng hóa xuất khẩu và do đó ảnh hưởng đến tổng cầu cũng như mức giá
cả nội địa.
Như vậy, sự tăng lên của nhu cầu trong nước và nước ngoài sẽ làm tăng nhu cầu
có khả năng thanh toán của xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá cả.
Việc thực hiện CSTT mở rộng quá mức bằng việc tăng mạnh MS, giảm lãi suất

a). Tuy nhiên các lý do này chỉ dẫn đến lạm phát về mặt ngắn hạn do cơ chế tự điều
chỉnh của thị trường. Nếu tổng cầu không thay đổi, mức sản xuất sẽ quay về mức sản
lượng tiềm năng và giá cả quay về vị trí ban đầu của nó (hình b).
1818181818

1.1.2.2.3. Lạm phát tiền tệ
Loại lạm phát này xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc độ
tăng trưởng thực sự của nền kinh tế. Đơn giản hơn là tiền trong lưu thông tăng nhanh
hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế. Loại lạm phát
này thường xảy ra tại các nước đang phát triển khi các nước này theo đuổi cơ chế áp
chế tài chính hoặc trong trường hợp quốc gia đang theo đuổi CSTT mở rộng. Trong
đó áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng trung ương tài trợ cho thâm hụt NSCP
bằng cách in tiền, quá nhiều tiền trong lưu thông vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sẽ
dẫn đến lạm phát. CSTT mở rộng sẽ kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền
kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung thì
cũng dẫn đến lạm phát.
1.1.3. Các giải pháp để kiểm soát lạm phát
1.1.3.1. Giá của chính sách chống lạm phát
Những tác động của lạm phát đối với việc phân phối lại thu nhập, sản lượng, sự phân
bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế thường xảy ra đối với loại lạm phát cao và không
dự đoán trước được. Mặc dù những ảnh hưởng của loại lạm phát này là hiển nhiên,
các nhà làm chính sách vẫn phải đặt câu hỏi: nên làm cho nên fkinh tế thích ứng với
lạm phát hay cố gắng thủ tiêu lạm phát bằng các biện pháp cứng rắn. Câu trả lời thực
Sản lượng
Mức
giá
P
2
+2
P


Việc đưa ra các giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phân tích
đúng nguyên nhân gây ra lạm phát, bao gồm nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân
trực tiếp. Nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các
lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên. Tuy nhiên
nguồn gốc tạo ra các lý do làm dịch chuyển đường tổng cầu và đường tổng cung lại
rất khác nhau ở các cuộc lạm phát khác nhau. Để giải quyết nguyên nhân sâu xa này
cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn. Thông thường để tác động
vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong
muốn, Chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp nhằm làm giảm sự
gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí.
Lạm phát
Thất nghiệp
SPC
1
SPC
0
2121212121
- Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu
Các giải pháp này nhằm hạn chế sự gia tăng qua mức của tổng cầu. Trước hết
là thực hiện một chính sách tiền tệ khan hiếm. Nguyên nhân cơ bản của lạm phát cầu
kéo là sự gia tăng của tiền cung ứng, sự hạn chế cung ứng tiền sẽ có hiệu quả ngay
đến sự giảm sút của nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội. Một chính sách tiền
tệ khan hiếm được bắt đầu bằng việc kiểm soát và hạn chế cung ứng tiền trung ương,
từ đó mà hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại.
Lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường tăng lên sau đó sẽ làm hạn chế nhu cầu tiêu
dùng và đầu tư, giảm áp lực đối với hàng hóa và dịch vụ cung ứng. Cùng với việc
kiểm soát gắt gao chất lượng tín dụng cung ứng nhằm hạn chế khối lượng tín dụng,
đồng thời đảm bảo hiệu quả của kênh cung ứng tiền cũng như chất lượng tiền tệ.
Kiểm soát chi tiêu NSNN từ trung ương tới địa phương nhằm đảm bảo tiết

để xây dựng một hệ thống các mức thu nhập, hoặc thỏa thuận tiền lương được thực
hiện ngay tại cơ sở kinh doanh giữa giới chủ và đại diện công đoàn. Chính sách kiểm
soát giá cả phải được tiến hành đồng thời với cơ chế tiền lương thực tế, tránh rơi vào
vòng xoáy lạm phát lương-giá-tiền…
- Nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hóa
Giải pháp tình thế và tác động tức thời đến cân đối tiền hàng là nhập khẩu
hàng hóa, nhất là các hàng hóa đang khan hiếm góp phần làm giảm áp lực đối với
giá cả. Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng những nguy cơ tiềm năng,: làm cạn kiệt
nguồn dự trữ quốc tế, tạo thói quen dùng hàng ngoại và dặc biệt làm suy giảm sức
sản xuất trong nước.
Tăng khả năng sản xuất hàng hóa trong nước được coi là giải pháp chiến lược
cơ bản nhất tạo cơ sở ổn định tiền tệ một cách vững chắc. Thực chất đây là giải pháp
nhằm tăng mức sản lượng tiềm năng của xã hội. Đây là chiến lược dài hạn, tập trung
vào việc khai thác triệt để năng lực sản xuất của xã hội, nâng cao trình độ của lực
lượng lao động, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây truyền sản xuất và quan trọng nhất
là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả.
1.2. Kinh nghiệm sử dụng CSTT nhằm kiểm soát lạm phát của một số nước
trên thế giới.
2323232323
1.2.1. Trung Quốc
Tại Trung Quốc đến tháng 2/2008 đã lên tới 8,3%, tăng so với mức 7,1%
trong tháng 1/2008., cao nhất trong 11 năm qua, trong khi mục tiêu được đề re trong
năm 2008 là kiềm chế giá tiêu ding dưới 4,8%. NguyÊn nhân chính là giá lương
thực, thực phẩm tăng tới 23,3% so với mức 18,2% đến hết tháng 1/2008.
Để chống lạm phát, chính phủ chủ trương ưu tiên thực hiện chính sách tài
chính ổn định, minh bạch và siết chặt chính sách tiền tệ trong năm 2008, hạn chế
cung ứng tiền. Chính phủ cũng ưu tiên các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống
nhân dân, cho phép đồng nhân dân tệ biến động linh hoạt hơn. Thực ra Ngân hàng
Nhân dân Trung Quốc(Trung Ương) đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt ngay từ
năm 2007 với các biện pháp nới lỏng quy định giao dịch ngoại tệ, tăng tỷ lệ dự trữ

quan tài chính sẽ điều chỉnh phù hợp chính sách tiền tệ: tăng lãi suất 2 lần
Chính sách tài khóa: miễn giảm một số dòng thuế tiêu thụ và nhập
khẩu, tiến hành hỗ trợ trên 1 tỷ USD cho nông dân vay vốn ưu đãi nhằm tăng mức
cung lương thực thực phẩm, giảm 50% mức phí giao thông vận tải trên các tuyến
đường cao tốc trong một số giờ. Miễn giảm thuế, tăng cường trợ cấp cho những gia
đình có thu nhập thấp, mở rộng phạm vi hỗ trợ cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp
thông qua các quỹ hỗ trợ tài chính cho giáo dục, hỗ trợ phúc lợi, miễn giảm thuế.
Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp tạo thêm cơ hội việc làm cho những
người nghèo trong xã hội, sử dụng ngân sách chính phủ giúp giảm bớt áp lực của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Biện pháp khác: Ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi bán phá
giá không chính đáng, trọng điểm là những hành động lũng đoạn giá cả, tăng cường
giám sát các hành vi tăng giá cao các sản phẩm hàng hóa như dầu mỏ, lương thực,
phòng ngừa những giao dịch không minh bạch thông qua lợi dụng thị trường và địa
vị chính trị.
1.2.3. Ân Độ
Trong báo cáo đánh giá kinh tế của chính phủ ấn độ vừa qua, Bộ tài chính cho
rằng:” Lạm phát vẫn còn cao trong năm tài chính nhưng đang giảm dần. Chỉ số lạm
phát bán buôn(WPI- gồm 435 mặt hàng) đã tăng từ tháng 9/2009 và vẫn tiếp tục ở
mức cao, sau khi lên đỉnh điểm là 11% trong tháng 4/2010. Tính theo chỉ số tích tụ
trong năm tài chín hiện hành thì lạm phát tăng 4,3% trong tháng 10/2010 so với
5.9% cùng kỳ năm 2009, chứng tỏ sức ép lạm phát trong nửa năm tài chính hiện
2525252525

Trích đoạn Thực trạng lạm phát tại Việt Nam( từ năm 2005 đến nay)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status