phân tích vai trề của thị trường chứng khoán. đánh giá sự phát triển của thị trường chứng khoán việt nam 12 năm qua. bènh luận nhận định ô thị trường chứng khoán việt nam như một sềng bạc - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ TÀI 2
PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. ĐÁNH GIÁ
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 12
NĂM QUA. BÌNH LUẬN NHẬN ĐỊNH: « THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM NHƯ MỘT SÒNG BẠC »
Nhóm thực hiện: Nhóm 2
Lớp : Thị trường chứng khoán 1
Khóa : 51 Hệ : Chính quy
Hµ Néi, n¨m 2012
1
Phần 1: Cở sở lý thuyết về thị trường chứng khoán
I. Khái niệm:
Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao
đổi các loại chứng khoán.
Bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa
cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin
về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát
triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
II. Đặc điểm
1. Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị trí của thị
trường chứng khoán trong tổng thể thị trường tài chính thể hiện:
- Thị trường chứng khoán là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn
2
TT Tiền tệ
Thị trường vốn
TTCK
Thời gian đáo hạn
1 năm
Như vậy, trên TTCK giao dịch 2 loại công cụ tài chính: công cụ tài chính trên

Cổ phiếu
Trái phiếu
CK phái sinh
- Free rider: đưa ra quyết định theo tâm lý thị trường, theo tin đồn, theo động
thái của các nhà đầu tư profession.
- Vĩ nhân”: những người mua bán chứng khoán theo xu hướng ngược với xu
hướng chung của thị trường.
c. Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
- NHTM: ở Việt Nam, NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc kinh doanh
chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu cính phủ.
- Công ty chứng khoán: được lập ra để chuyên sâu vào thực hiện các nghiệp
vụ liên quan đến chứng khoán.
+ Môi giới
+ Quản lý danh mục
+ Tư vấn đầu tư
+ Tư doanh chứng khoán
+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán
d. Các cơ quan quản lý và giám sát TT
- Cơ quan quản lý Nhà nước: ở Việt Nam: quản lý cấp cao nhất: Ủy ban CK
Nhà nước
- Sở giao dịch CK
- Hiệp hội Nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
5
- Tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm (Standard & Poor, Moody, Fich…): cung
cấp các dịch vụ đánh giá năng lực trả cả gốc và lãi đúng hạn, hoặc tiềm lực
tài chính của tổ chức phát hành.
4. Đặc diểm khác của TTCK:
- Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cầm vốn và người

quản lý quỹ, với tổng vốn điều lệ là 2.100 tỷ đồng, quản lý tổng tài sản trên
100.000 tỷ đồng, trong đó có 23 quỹ đầu tư với tổng vốn điều lệ là 13.300 tỷ đồng.
Thứ ba, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư gia tăng
mạnh, đạt 1,1 triệu tài khoản, tức tăng 126% so với 793.000 tài khoản năm 2009.
Trong đó, số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài khoảng 15.000 tài khoản và
góp phần đáng kể trong giao dịch dẫn dắt thị trường.
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc
phân phối vốn một cách có hiệu quả.Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp dụng
công nghệ mới và nhạy cảm với môi trường thường xuyên thay đổi.thực tế trên thị
trường chứng khoán, tất cả các thông tin được cập nhật và được chuyển tải tới tất
cả các nhà đầu tư, nhờ đó, họ có thể phân tích và định giá cho các chứng khoán.
7
Chỉ những công ty có hiệu quả bền vững mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ
trên thị trường.
Thị trường chứng khoán tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường tài
chính, điều này buộc các ngân hang thương mại và các tổ chức tài chính phải quan
tâm tới hoạt động của chính họ và làm giảm chi phí tài chính.
Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có của
các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát
chặt chẽ của các ngân hang thương mại. Thị trường chứng khoán khuyến khích
tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Sự tồn tại của thị trường chứng
khoán cũng là yêu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây chính là
các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia
cũng như trong phạm vi quốc tế.
1. Vai trò tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp
Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, việc cạnh tranh trên thị trường ngày
càng tăng, nhu cầu về quản lý chuyên nghiệp cũng tăng theo. Bởi việc nắm giữ vốn
không đi đôi với năng lực quản lý. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc
chuyên môn hóa, tiết kiệm vốn và chất xám (chính là việc kết hợp giữa người nắm
giữ vốn nhưng không có khả năng quản lý với người quản lý tốt nhưng không có

niềm tin đối với người bên ngoài, trình độ, kỹ năng và kinh nghiệm kinh doanh
yếu, nguồn lực hạn chế, không tập trung và tích tụ là những nguyên nhân dẫn đến
không phát triển.
9
Gia đình trị đến cổ phần hóa: 1/3 số công ty trong danh sách S&P 500 (500
công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ) và hơn 40% trong số 250
công ty lớn nhất ở Pháp và Đức là những công ty gia đình. Những con số này đủ để
nói lên sự thành công của mô hình công ty gia đình ngay trong thời đại kinh doanh
mới.
Tuy nhiên, để đạt đến vị thế đó, các công ty này phải đối mặt với rất nhiều
thách thức.Chưa tới 30% trong số đó tồn tại được qua thế hệ thứ 3. Và để thành
công lâu dài, các ông chủ công ty gia đình phải đồng thời làm được 2 mục tiêu vốn
rất khó song hành: đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất và tiếp tục giữ quyền sở
hữu công ty.
Ở châu Á, điển hình là Hàn Quốc, một số tập đoàn lớn vẫn nằm dưới sự kiểm
soát của các gia đình như Samsung của gia đình Lee, Hyundai thuộc về gia tộc
Chung, LG là của họ nhà Koo. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích phương Tây, các
công ty gia đình muốn lớn mạnh và cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì cần phải
lột xác, trong đó có việc giảm bớt vai trò của quản trị gia đình và mở rộng quyền
sở hữu cổ phần cho đối tác bên ngoài.
Tại Việt Nam, rất hiếm thấy công ty gia đình tồn tại qua thế hệ thứ 3. Sự
chuyển giao công ty theo hình thức “cha truyền con nối” cũng chỉ mới bắt đầu ở
thế hệ thứ 2, như Gốm sứ Minh Long, Nệm Liên Á. Còn lại, khi đứng trước sứ
mệnh đưa doanh nghiệp tăng trưởng, hầu hết các nhà sáng lập công ty gia đình đều
chọn hình thức chuyển đổi cổ phần để gọi vốn và tăng hiệu quả quản lý.
Công ty Minh Phúc, Giấy Sài Gòn và Gỗ Đức Thành là 3 trường hợp đã trải
qua thời kỳ chuyển đổi cổ phần với nhiều thách thức. Câu chuyện của 3 công ty
này cho thấy, việc chuyển đổi đã mang lại những hiệu quả kinh doanh rất khả quan
như tốc độ tăng trưởng được cải thiện, quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn, phần
10

mua bán nhỏ, lẻ cổ phiếu sang các thương vụ chuyển nhượng lớn, hướng tới các
doanh nghiệp ăn nên làm ra, có nền tảng quản trị lành mạnh.
Tháng 1/2012, lượng nhà đầu tư nước ngoài được cấp mã số giao dịch tăng
thêm 0,13% so với cuối năm 2011. Điều đó cho thấy, nhiều nhà đầu tư cá nhân, tổ
chức nước ngoài vẫn thể hiện tin tưởng vào sự ổn định của nền kinh tế của Việt
Nam.
4. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho Chính phủ phát hành huy
động nguồn tài chính mà không tạo áp lực lạm phát.
Chúng ta biết rằng Chính phủ đã không còn sử dụng biện pháp in tiền để tài
trợ cho chi tiêu từ năm 1998. Chính vì thế, TTCK đã trở thành một kênh huy động
vốn quan trọng của Chính phủ.
TPCP bằng ngoại tệ phát hành trong nước trong những đợt gần đây, đặc biệt
trong năm 2009 đều không thu được kết quả như mong muốn, nguyên nhân chính
là do vấn đề lãi suất không hấp dẫn. Đợt phát hành thứ nhất vào tháng 3/2009, 3
lần đấu thầu chỉ huy động được 230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu USD
được đưa ra mời thầu. Đợt 2 vào tháng 8/2009, trái phiếu ngoại tệ kỳ hạn dài số
lượng bỏ thầu rất ít. Trong đó, cả 3 phiên chỉ huy động được 100 triệu USD/100
triệu USD trái phiếu chào bán kỳ hạn 1 năm; 47 triệu USD/100 triệu USD trái
phiếu kỳ hạn 2 năm; và 10 triệu USD/50 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 3 năm. Đợt
phát hành thứ 3, và thứ 4 vào ngày 29/12/2009, kết quả chỉ huy động được 73 triệu
USD trong tổng số 200 triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu, đạt 36,5%. Tỷ lệ huy
12
động thành công có xu hướng giảm dần theo từng đợt phát hành kể từ đầu 2009 tới
nay. Tính chung cả năm 2009, khối lượng huy động đạt 530,2 triệu USD (tương
đương 9.278 tỷ đồng, theo tỷ giá ước tính 17.500 đồng/USD) trên tổng số 850 triệu
USD gọi thầu.
Đối với trái phiếu bằng nội tệ, việc huy động cũng còn nhiều hạn chế.
Tính đến hết năm 2009, có khoảng 70 đợt phát hành trái phiếu được thực hiện
bao gồm trái phiếu: kho bạc nhà nước (KBNN), ngân hàng phát triển, ngân hàng
chính sách xã hội và các trái phiếu chính quyền địa phương. Theo thống kê của

Con số này còn quá ít so với con số hàng trăm nghìn DN thực tế đang hoạt động.
Mặt khác, các DN niêm yết chủ yếu là những DN nhỏ và vừa, chưa phải là những
DN lớn có sức chi phối nền kinh tế
Về mức vốn hóa của thị trường, năm 2007 đạt khoảng 40% GDP.Song đến
thời điểm hiện tại, TTCK đang suy giảm từng ngày, thì mức vốn hoá thị trường
cũng giảm đi tương ứng. Trong khi đó, theo kế hoạch Chính phủ đặt ra, tới năm
2010, tỷ lệ vốn hóa TTCK phải chiếm 50% GDP và con số này phải tăng đến 70%
vào năm 2020. Khi đó, quy mô thị trường mới đủ lớn để có thể đưa TTCK thực sự
trở thành hàn thử biểu của nền kinh tế theo đúng nghĩa của nó.
14
b. Giá chứng khoán phản ánh tương đối chính xác giá trị thực của DN
niêm yết
Một thực tế hiện nay là phần lớn con số tính toán về giá trị thực của cổ phiếu
đều chỉ sử dụng một cách máy móc những số liệu ghi trên báo cáo tài chính của
các DN niêm yết; chưa thể hiện được đầy đủ giá trị nội tại của DN mà nó phản
ánh. Ngoài ra, sự kém minh bạch còn phổ biến, kèm theo đó là những yếu tố thuộc
về tài sản vô hình của công ty (trình độ quản lý, uy tín sản phẩm, nhãn hiệu thương
mại, chất lượng sản phẩm ) chưa phản ánh hết trong báo cáo tài chính.
Mặt khác, sự thiếu kiến thức và tâm lý đám đông của NĐT đã và đang tác
động mạnh mẽ tới TTCK. Rõ ràng, tâm lý NĐT chứ không phải phương pháp xác
định hay hoạt động kinh doanh của DN quyết định giá chứng khoán.
c. Phản ánh tương đối chính xác sự biến động của nền kinh tế
Ngày 8/11/2006, VN-Index xuất phát với mức 525,99 điểm, chỉ 4 tháng sau
(ngày 12/3/2007) VN-Index đã leo lên tới đỉnh 1.170,67 điểm, để rồi hiện tại VN-
Index đã quay trở lại và thậm chí phá mốc 400 điểm. Tất nhiên, lên xuống là
chuyện bình thường của thị trường, nhưng lên xuống với biên độ lớn trong thời
gian ngắn là bất thường.Và điều này có phản ánh chính xác sự biến động của nền
kinh tế hay không?
Câu trả lời là không!
Ngoài ra, nếu nền kinh tế Việt Nam chủ yếu có 4 kênh đầu tư: TTCK, thị

công tác kế hoạch hoá phát hành trái phiếu chưa tốt, cơ chế phát hành trái phiếu
còn nhiều bất cập, chưa có các tổ chức tạo lập thị trường TPCP đúng nghĩa để đảm
bảo thành công cho các đợt phát hành cũng như tạo tính thanh khoản cho thị
trường thứ cấp. Thiếu đường cong lợi suất chuẩn và tổ chức định mức tín nhiệm.
Tuy nhiên, theo nhận định, sau 10 năm phát triển, thị trường CK Việt Nam đã
có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam, góp phần tăng trường
kinh tế, gia tăng thu nhập cho người dân.
Phần 2: Sự phát triển của TTCK trong 12 năm qua.
I. Sự ra đời và những bước đi đầu tiên
1.1. Sự ra đời
Ngày 11-7-1998, Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng
khoán và TTCK, chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập trung tâm giao dịch
chứng khoán tại TP HCM và Hà Nội.
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được
thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTG ngày 11-7-1998 và chính thức đi
vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000.
Ngày 8/3/2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã
chính thức chào đời. Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao
dịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các
DN nhỏ và vừa với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng).
17
1.2. Phiên giao dịch đầu tiên
Ngày 28/7//2000, phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên của TTCK Việt Nam
mở cửa với mốc khởi điểm là 100 và một "mô hình đơn giản đến mức khó tin:
2+2+1+1, tức chỉ 2 cổ phiếu (REE của công ty cổ phần Cơ Điện lạnh và SAM của
Công ty CP Cáp và Vật liệu viễn thông), 2 công ty chứng khoán, 1 trung tâm giao
dịch chứng khoán kiêm chức năng trung tâm lưu ký, 1 ngân hàng chỉ định thanh
toán và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
II. Giai đoạn 2000- 2005: những bước đi đầu tiên

hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 sàn: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung
tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC.
19
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số CTNY/ĐKGD 5 5 20 22 26 32
Mức vốn hóa TTCP 0,28 0,34 0,48 0,39 0,64 1,21
Số lượng CTCK 3 8 9 11 13 14
Số tài khoản KH 2.908 8.774 13.520 15.735 21.616 31.316
Điểm lại những con số nổi bật của thị trường chứng khoán VN trong năm
2006:
- Vào giữa năm 2006, kênh truyền thông CNN đã nhận định chỉ số VN-
Index của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam lên gần 600 điểm
vào đầu tháng 4 là chỉ số tăng trưởng nhanh thứ hai trên thế giới chỉ sau
Zimbabwe. Đến cuối năm 2006 chỉ số VN-Index tiếp tục tăng hơn 30%
và đạt mức 751,77 điểm (tăng 144,8% so với cuối năm 2005), chỉ số
HASTCIndex tăng 152,4%, chính thức ghi dấu Việt Nam trở thành
TTCK tăng trưởng nhanh nhất thế giới năm 2006.
- Mức 809,86 điểm mà VN-Index đạt được ngày 20-12 khiến tất cả các nhà
đầu tư trong và ngoài nước phải thừa nhận tỷ suất lợi nhuận cực cao của
TTCK Việt Nam. Đây là chỉ số VN-Index đạt mức cao nhất kể từ khi
TTCK chính thức hoạt động 28-7-2000. Tính chung, so với đầu năm, chỉ
số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới
170%. Đây là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa
nhận là quá ấn tượng. Điều này cũng khiến hàng loạt quỹ đầu tư nước
ngoài đã và đang gấp rút tìm kiếm cơ hội đầu tư tại thị trường mới nổi
nhưng cực kỳ hấp dẫn này.
- Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến.
Tổng giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu toàn TTCK theo số liệu mới
công bố của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đạt trên 240.000 tỷ đồng (15
tỷ USD), chiếm khoảng 25% GDP cả nước.Trong đó giá trị thị trường cổ

- Chứng khoán trở thành kênh đầu tư hấp dẫn nhất: Ngay đầu năm,
TTCK đã khởi đầu một cơn sốt kéo dài hơn 2 tháng làm nhiều người lo
ngại cho nguy cơ “bong bóng” do việc tăng giá quá nhanh của thị trường
và nhiều nhà đầu tư lao vào mua cổ phiếu theo phong trào. Nhiều người
dân đã chuyển từ các kênh đầu tư phổ biến trước đây như gửi tiết kiệm,
mua ngoại tệ, nhà đất… sang đầu tư cổ phiếu. Chứng khoán trở thành
kênh đầu tư mới và hấp dẫn nhất trong năm 2006 bất chấp điều này làm
cản trở sự hồi phục của thị trường địa ốc
- Cắt giảm ưu đãi thuế, các doanh nghiệp đua nhau lên sàn: Theo Công
văn số 10997/CV-BTC của Bộ Tài chính ngày 8-9-2006, các doanh
nghiệp lên niêm yết và đăng ký giao dịch trên TTCK sau ngày 31-12-
2006 không được hưởng ưu đãi miễn giảm 50% thuế thu nhập doanh
nghiệp trong 2 năm liên tiếp kể từ ngày lên sàn như trước đây, tạo ra cuộc
đua thứ hai trên TTCK là đua lên sàn. Chỉ trong tháng 12 có đến 51
chứng khoán mới niêm yết tại TTGDCK TPHCM và 69 cổ phiếu khác
tranh nhau giao dịch tại TTGDCK Hà Nội, nâng tổng số cổ phiếu và
chứng chỉ quỹ giao dịch trên cả 2 thị trường lên con số 195 đơn vị với
quy mô vốn hơn 25.000 tỷ đồng mệnh giá.
- TTCK tăng nóng sau ngày VN gia nhập WTO: Nhiều nhà phân tích
đánh giá cao triển vọng của nền kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
Bên cạnh các cơ hội thì vẫn còn phải chịu nhiều thách thức, nhưng TTCK
không cảm nhận vậy, các nhà đầu tư chỉ nhìn thấy một “biển” cơ hội phía
trước và giá cổ phiếu cứ vùn vụt tăng từng ngày kể từ đầu tháng 11, thời
điểm Việt Nam ký kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới.
22
- Tổng thống Mỹ G.W.Bush đã đến thăm Trung tâm Giao dịch chứng
khoán (TTGDCK) TPHCM và gặp gỡ quan chức của các doanh nghiệp
lớn tại Việt Nam. Việc Tổng thống Mỹ đích thân gõ chiêng mở cửa phiên
giao dịch đã kích thích sức mua mạnh mẽ trên thị trường. Lần đầu tiên
giá trị giao dịch khớp lệnh của sàn chứng khoán TPHCM vượt ngưỡng 21

bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Tại sàn HCM, bình quân mỗi
phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN cũng đạt con số 300 tỷ đồng.
4.2. 5 tháng tiếp theo từ 4/2007 đến dầu tháng 9/2007
Do nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nước
cũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểm
soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quá
nóng của thị trường. Phản ứng trước điều này, TTCK đã có những đợt điều chỉnh
rõ rệt.
Giai đoạn điều chỉnh này ghi nhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE và
HASTC, tất cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng. VNIndex chỉ
trong vòng 1 tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007), giảm
tới 22,6% so với mức đỉnh vào tháng 3. HASTC – Index trở về mốc 321,44 điểm
(24/04/2007), giảm 30% so với mức đỉnh.
Thị trường đã mất điểm quá nhanh trong 1 thời gian ngắn khiến giá giao dịch
của các cổ phiếu đã trở về gần mức giá thiết lập vào đầu năm.
24
Trong giai đoạn này, thị trường cũng có một đợt hồi phục vào giai đoạn cuối
Tháng 5/2007 khi VNIndex quay trở về mốc 1.107,52 điểm (23/05/2007). Nhưng
do tác động tâm lý quá mạnh của các chính sách kiềm chế thị trường trước đó như
Chỉ thị 03, Luật thuế Thu nhập cá nhân …thị trường nhanh chóng trở lại trạng thái
mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnh. Giai đoạn đầu Tháng 8, thị trường xác lập
mức đáy 883,9 điểm của VNIndex (6/8/2007) và 247,37 điểm của Hastc - Index
(23/08/2007).
Vào giai đoạn thị trường xuống sâu nhất (khoảng đầu Tháng 8), sàn HCM có
những phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu được khớp lệnh (ngày
30/07/2007 chỉ có 3.296.340CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn
600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh 603.100
CP).
Giai đoạn này, các NĐTNN cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng giao dịch của khối
này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh. Giá trị giao dịch bình quân của khối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status