đánh giá kết quả điều trị thoái hóa cột sống cổ bằng phương pháp kéo giãn cột sống cổ trên máy tm 300 tại bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
ĐẶNG THỊ MINH THU
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THOÁI HOÁ CỘT SỐNG CỔ
BẰNG PHƯƠNG PHÁP KÉO GIÃN CỘT SỐNG CỔ
TRÊN MÁY TM 300 TẠI BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG
VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 60.72.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH XUÂN TRÁNG


cô giáo các bộ môn, bộ môn Nội, Khoa Sau đại học Trường Đại học Y Dược -
Đại học Thái Nguyên.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành tới PGS.TS Trịnh Xuân Tráng, người thầy luôn tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn
để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Đảng ủy, Ban Giám đốc, các Phòng, Ban,
khoa Bệnh người cao tuổi, khoa Vật lí trị liệu - Phục hồi chức năng, các bác
sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng
Thái Nguyên, nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi
trong quá trình học tập, thực hiện nghiên cứu để hoàn thành luận văn và
hoàn thành khóa học.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2010
Học viên Đặng Thị Minh Thu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

C
I


: Đốt sống lưng 1
NPQ
: Bảng dùng đánh giá mức độ đau và ảnh hưởng của đau
vùng cổ lên chức năng sinh hoạt hàng ngày (Northwich
pack Neck Pain Questionaire)
THCSC
: Thoái hoá cột sống cổ
TVĐK
: Tầm vận động khớp
VLTL - PHCN
: Vật lí trị liệu phục hồi chức năng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
MỤC LỤC

Đặt vấn đề 1
Chương 1: Tổng quan 3
1.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cột sống cổ 3
1.2. Cơ chế bệnh sinh và hậu quả của thoái hóa cột sống cổ 9
1.3. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thoái hoá cột sống cổ 12
1.4. Tình hình nghiên cứu về thoái hoá cột sống cổ 15
1.5. Các phương pháp điều trị thoái hoá cột sống cổ 18
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 25
2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu 27
2.4. Phương pháp tiến hành 27
2.5. Các kỹ thuật can thiệp sử dụng trong nghiên cứu 29
2.6. Phương pháp thu thập số liệu 32

và nhóm chứng 48
Bảng 3.9. Mức tiến bộ về tầm vận động duỗi cột sống cổ ở nhóm
kéo giãn và nhóm chứng. 49
Bảng 3.10. Mức tiến bộ về tầm vận động nghiêng trái cột sống cổ ở nhóm
kéo giãn và nhóm chứng 50
Bảng 3.11. Mức tiến bộ về tầm vận động nghiêng phải cột sống cổ
ở nhóm kéo giãn và nhóm chứng 51
Bảng 3.12. Mức tiến bộ về tầm vận động xoay trái cột sống cổ ở nhóm
kéo giãn và nhóm chứng. 52
Bảng 3.13. Mức tiến bộ về tầm vận động xoay phải cột sống cổ ở nhóm
kéo giãn và nhóm chứng 53

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Bảng 3.14. Mức cải thiện chức năng sinh hoạt ở nhóm kéo giãn và nhóm
chứng 54
Bảng 3.15. Sự thay đổi trung bình về tổng góc đo tầm vận động cột sống cổ
ở nhóm kéo giãn và nhóm chứng 55
Bảng 3.16. Đánh giá kết quả điều trị ở nhóm kéo giãn và nhóm chứng 56
Hình 2.4. Thước đo tầm vận động khớp 37
Hình 2.5. Máy kéo giãn cột sống TM 300 -3F 38
Hình 2.6. Màn hình LCD của máy TM 300 - 3F 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoái hoá thực chất là sự già đi của cơ thể con người, đây là một quá
trình tự nhiên trong chu trình sinh, lão, bệnh, tử của con người. Càng lớn tuổi,
quá trình thoái hoá diễn ra càng nhiều và càng nhanh [42]. Thoái hoá cột sống
cổ là một bệnh thường gặp ở người trung, cao tuổi. Tổn thương thoái hoá của
sụn khớp gây ra do quá trình sinh tổng hợp chất cơ bản (proteoglycan) bởi các
tế bào sụn có sự bất thường. Đặc trưng của bệnh là quá trình mất sụn khớp
của lớp tế bào dưới sụn, tổ chức xương cạnh khớp được tạo mới [7]. Ở thoái
hoá cột sống, có sự kết hợp giữa 2 loại tổn thương mang tính định khu đó là
thoái hoá đĩa đệm và thoái hoá mỏm liên sau [4], [42]. Nguyên nhân chính là
do quá trình thoái hoá và tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp
và đĩa đệm.
Biểu hiện lâm sàng của thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng và phức tạp.
Đau là một trong những triệu chứng thường xuyên và phổ biến nhất. Đau
không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, chức năng sinh hoạt của người bệnh mà
còn ảnh hưởng đến kinh tế, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Mặt khác
nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng đắn bệnh sẽ tiến triển thành từng
đợt nặng dần, có thể dẫn đến chèn ép rễ, tuỷ, gây đau hoặc tàn phế. Vì vậy,
thoái hóa cột sống cổ ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong chăm sóc
sức khoẻ cộng đồng, là mối quan tâm của nhiều chuyên ngành như nội, thần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cột sống cổ
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu
1.1.1.1. Xương cột sống
Cột sống cổ có 7 đốt, từ C
I
đến C
VII
, có đường cong ưỡn ra trước, đốt C
I

(đốt đội) không có thân đốt, đốt C
VII
có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ, lồi ngay
dưới da nhất là khi ta cúi cổ, nên được dùng để làm mốc xác định các đốt
sống cổ [8], [31]. Đặc điểm của xương cột sống:
- Thân đốt sống: đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, mặt

4
4
- Đốt sống cổ 1 (đốt đội): tiếp khớp ở mặt trên với hai lồi cầu xương
chẩm, không có gai và thân đốt. Mặt trước của cung trước có mỏm trước cho
dây chằng bám, mặt sau của cung trước có diện khớp tiếp khớp với mỏm răng
của đốt C
II
. Lỗ đốt sống rộng, có dây chằng ngang chia lỗ thành hai phần
không đều nhau (phần trước nhỏ có mỏm răng, phần sau rộng có tuỷ cổ). Mặt
khối bên của đốt trục - đội khuynh hướng xuống dưới, cho phép gấp duỗi
trong mặt phẳng trước - sau và hạn chế chuyển động xoay bên. Mặt dưới của
đốt C
I
cong lõm, tiếp giáp với lồi cầu trên của đốt trục, cho phép quay quanh
trục của dạng răng.
- Đốt sống cổ 2 (đốt trục): không có thân đốt trung tâm, có hai khối bên
chứa cạnh trên và cạnh dưới. Các mỏm bên được tiếp nối bởi cung trước và
cung sau (cung trước hình thành một thân, phía trên thân tạo thành mỏm răng,
phần thân khớp với thân trung tâm của đốt C
III
). Khối bên khớp với thân bên
của đốt đội trên, mặt dưới khớp với đốt C
III
. Giữa các đốt C
I
và C
II
không có
đĩa đệm gian đốt sống mà chủ yếu là các bao sợi collagen.
- Các đốt sống cổ từ C

sống, khớp vô danh, khớp gian đốt sống, khớp bên trong thân đốt sống, khớp
Luschka), chỉ duy nhất ở cột sống cổ mới có. Mỗi thân đốt sống có 2 mấu bán
nguyệt ở góc trên ngoài, hợp với 2 góc dưới ngoài của thân đốt trên để tạo nên
2 khớp bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt. Khớp này có liên quan đến cử động
quay cổ, không có tổ chức
sụn ở diện khớp, không có
dịch khớp nên nó là khớp giả,
nó rất yếu và rất dễ bị tổn
thương và bị thoái hóa. Mấu
bán nguyệt bình thường có
hình gai hoa hồng dễ nhận
biết trên phim X quang tư thế
thẳng. Khi khớp bán nguyệt
bị thoái hóa dễ chèn ép vào
động mạch đốt sống thân nền.
H×nh 1.1. C¸c ®èt sèng cæ trªn ghÐp l¹i [21]
- Lỗ tiếp hợp (còn gọi là lỗ ghép): thành trong của lỗ tiếp hợp hình
thành bởi phía ngoài là thân đốt sống và khớp Luschka. Khớp mấu lồi đốt
sống hình thành bởi diện khớp mấu lồi đốt sống trên và diện khớp mấu lồi đốt
sống dưới, khớp được bao bọc bởi bao khớp ở phía ngoài. Dây thần kinh hỗn
hợp chạy dọc theo lỗ tiếp hợp và tách ra thành 2 phần cảm giác và vận động
riêng biệt. Phần vận động còn gọi là rễ trước tiếp xúc với khớp Luschka, rễ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
6
sau nằm ở phía bên trong mỏm khớp và bao khớp. Rễ thần kinh bình thường
chỉ chiếm khoảng 1/4 - 1/5 lỗ tiếp hợp.
1.1.1.2. Đĩa đệm
Đĩa đệm là bộ phận chính cùng với các dây chằng đảm bảo sự liên kết

III
tạo nên)
cho các nhánh vận động cơ dưới móng. Dây hoành do C
IV
và nhánh nhỏ của
C
III
, C
V
tạo nên, tới vận động cho cơ hoành.
+ Nhánh C
V
chi phối vận động cơ delta, cơ tròn nhỏ (qua dây mũ) và
cho các cơ trên gai, dưới gai (qua dây thần kinh trên bả).
+ Nhánh C
VI
chi phối cận động cơ nhị đầu, cơ cánh tay trước.
+ Nhánh C
VII
chi phối vận động cơ tam đầu.
+ Nhánh C
VIII
chi phối vận động cơ gấp ngón tay.
- Cảm giác:
+ Nhánh C
I
, C
II
, C
III

chi phối phản xạ gân xương cơ tam đầu.
- Thần kinh chi phối cảm giác cột sống cổ và màng tủy: một nhánh rễ
thần kinh cổ xuất phát từ hạch cạnh sống (gọi là nhánh màng tuỷ). Nhánh này
được bổ sung các thành phần giao cảm từ các hạch giao cảm cạnh sống, quay
trở lại chui qua lỗ gian đốt vào trong ống sống (được gọi là nhánh thần kinh
quặt ngượt Luschka) chi phối cho các thành phần trong ống sống. Khi thần
kinh này bị kích thích sẽ gây đau.
- Chuỗi hạch giao cảm cổ sau: gồm hạch giao cảm cổ trên, cổ giữa và
hạch sao (do hạch cổ dưới kết hợp với hạch ngực trên tạo thành). Các hạch
này nằm ở mặt trước đốt sống và sau bó mạch thần kinh cổ. Hạch giao cảm cổ
trên nằm ngang thân đốt C
II
và C
III
, hạch cổ giữa ngang C
VI
và hạch sao nằm
giữa mỏm ngang C
VII
và phần cổ của xương sườn I, sau động mạch dưới đòn.
Các hạch giao cảm cổ sau phân bố thần kinh thực vật cho vùng đầu mặt cổ,
hai tay, một nhánh cho tim và các cơ quan nội tạng khác [8].

Hình 1.3. Bề mặt của đốt sống cổ, tủy sống, cc rễ thần kinh, thần kinh sống [21]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
9
1.1.1.5. Các cơ ở cổ
Được chia thành 2 vùng chính các cơ ở vùng cổ trước bên và các cơ ở

Quá trình THCSC tiến triển theo tuổi (thoái hóa sinh học) liên quan đến
yếu tố vi chấn thương và các yếu tố khác: rối loạn chuyển hóa, nội tiết, dị
dạng cột sống, thừa cân thúc đẩy thêm (thoái hóa bệnh lí), làm quá trình
thoái hóa tiến triển nhanh và biến đổi về hình thái đa dạng hơn. Quá trình
thoái hóa này có thể khởi phát từ bất kỳ khớp nào trong các khớp của đơn vị
chức năng của cột sống. Thoái hóa thường bắt đầu từ biến đổi thân đốt đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
10
biến dạng thân đốt. Khoang gian đốt còn giữ được chiều cao của nó khá lâu
sau đó mới dần dần đóng vôi dây chằng đĩa đệm.
Theo thời gian các tế bào sụn sẽ già đi, khả năng tổng hợp các chất để
tạo nên Mucopolysaccarid và sợi Collagen bị giảm sút và rối loạn. Sụn sẽ mất
dần tính đàn hồi và chịu lực giảm. Mặt khác tế bào sụn của người trưởng
thành lại không có khả năng sinh sản và tái tạo, tư thế đứng thẳng sẽ làm cho
quá trình thoái hóa tăng dần theo tuổi và diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời.
Khớp mỏm móc đốt sống thoái hóa do tổn thương nguyên phát vi thể
gây tổn thương tế bào sụn của mặt khớp, bao hoạt dịch và xương, dẫn đến mất
tính đàn hồi của khớp.
Người cao tuổi phần lớn đều bị thoái hóa đĩa đệm và cột sống vì đĩa
đệm rất nghèo mạch máu nuôi dưỡng và không có khả năng tái tạo [4], [31].
1.2.2. Cơ chế gây đau trong thoái hóa cột sống cổ
Luschka đã phát hiện một nhánh của rễ thần kinh cổ xuất phát từ hạch
cạnh sống. Nhánh này được bổ sung những sợi giao cảm thuộc chuỗi hạch
giao cảm cạnh cột sống cổ quay trở lại chui qua lỗ gian đốt sống vào trong
ống sống. Các dây thần kinh này chi phối cho bao khớp gian đốt sống, cốt
mạc đốt sống, dây chằng dọc sau, các màng của tủy sống và mạch máu. Khi
dây này bị kích thích sẽ gây ra triệu chứng đau.
Khớp mỏm móc đốt sống cũng được phủ bằng sụn và cũng có một bao

hậu quả sau:
- Sự hẹp khoang đĩa đệm làm hạn chế phạm vi bình thường của các đơn
vị chức năng cột sống cổ. Do sự khác biệt về cấu trúc giải phẫu, các biến đổi
về thoái hóa thường xảy ra ở các đốt sống cổ thấp.
- Nếu có chấn thương cơ học tác động kết hợp (chấn thương cơ học bên
ngoài, các biến đổi tư thế sai lệch, sự viêm ) kích thích mạnh trên các thụ
cảm thể đau ở bề mặt bao khớp, các dây chằng, các cơ ở cổ, các thành phần
trong lỗ gian đốt sống càng làm tăng sự đau và hạn chế chuyển động.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
12
- Thoái hóa cột sống cổ cũng là nguyên nhân biến đổi trong chiều rộng
và chiều sâu của lỗ gian đốt sống như là sự hẹp lỗ, làm hạn hẹp khoang chứa
rễ thần kinh và bao màng khớp. Như vậy bệnh rễ thần kinh có thể xảy ra từ
thoái hóa cột sống cổ (trích dẫn từ [39]), [42]).
1.3. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thoi ho cột sống cổ
1.3.1. Định nghĩa
Thoái hóa cột sống cổ là bệnh
cột sống mạn tính, đau và biến dạng,
không có biểu hiện viêm. Tổn
thương cơ bản của bệnh là tình trạng
thoái hoá của sụn khớp và đĩa đệm
(ở cột sống cổ), phối hợp với những
thay đổi ở phần xương dưới sụn và
màng hoạt dịch [4].
Hình 1.4. Hình ảnh cắt ngang của thoi hóa
cột sống cổ [42]
1.3.2. Triệu chứng lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của thoái hoá cột sống cổ rất đa dạng, biểu hiện ở

cơn, co cứng gáy, hạn chế vận động cột sống cổ ), hội chứng cơ bậc thang
(co cứng các cơ ở cổ, đau như kim châm dọc mặt trong cánh tay lan đến ngón
4, 5), viêm quanh khớp vai - cánh tay, hội chứng vai bàn tay hoặc các hội
chứng nội tạng khác
* Hội chứng chèn ép tuỷ cổ:
Đây là biểu hiện lâm sàng nặng nhất của THCSC, do các gai xương
mọc ở phía sau thân đốt chèn ép vào phần trước tủy, bệnh nhân có dấu hiệu
liệt cứng nửa người hoặc tứ chi tăng dần [4], [27], [31].
1.3.3. Cận lâm sàng:
Chụp X quang quy ước là xét nghiệm đầu tiên khi lâm sàng có biểu
hiện của THCSC, X quang chụp ở tư thế thẳng, nghiêng, chếch 3/4 phải, trái.
- Phim thẳng: thấy rõ từ C
III
đến đốt sống ngực đầu tiên, bờ bên đốt C
V

và C
VI
có hình chồng lên của sụn giáp trạng, các sụn này đôi khi có vôi hóa. Ở
C
III
có hình xương móng chồng lên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
14
- Phim nghiêng: thấy rõ từ C
I
đến C
VI

- Mờ, hẹp khe khớp đốt sống: khi đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị
chiều cao khoang gian đốt sẽ giảm, khe không đồng đều, bờ không đều. Bình
thường khoảng cách giữa các thân đốt sống bằng 1/4 - 1/6 chiều cao thân đốt
sống [13], [31].
Trên phim X quang quy ước, đĩa đệm là phần không cản quang nên
không nhìn thấy trực tiếp đĩa đệm, chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua
những hay đổi của khoang gian đốt sống và các đốt sống kế cận. Vì vậy, đây
là hình ảnh của THCSC giai đoạn muộn [4].
* Chụp cắt lớp vi tính: có thể phát hiện hầu hết các chi tiết của đốt
sống, hẹp lỗ gian đốt sống, các tổ chức gây hẹp, mức độ hẹp.
* Chụp cộng hưởng từ động mạch đốt sống: cho biết chính xác vị trí,
hình dạng của các biến đổi bệnh lý do quá trình THCSC gây ra, hình ảnh
động mạch đốt sống bị đè đẩy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
15
1.4. Tình hình nghiên cứu về thoi ho cột sống cổ
1.4.1. Trên thế giới
Thoái hóa cột sống cổ thường gặp ở người trung, cao tuổi. Đây là một
trong những bệnh rất phổ biến không kể nghề nghiệp, giới tính. Theo
Dellerud thoái hóa cột sống cổ thường gặp ở các nước phương Tây ảnh hưởng
tới 80% dân số trong thời gian của đời người. Ngày nay, trong thời đại công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hoạt động của con người đòi hỏi cường độ lao động
ngày càng cao và phức tạp hơn nên các bệnh lí về thoái hóa cột sống cổ có
chiều hướng ngày càng gia tăng (trích dẫn từ [25]).
Thoái hóa cột sống cổ là bệnh thường gặp trong đó đau là triệu chứng
chủ yếu, thường xuyên và nổi bật nhất.
Theo Schmorl và Junghann, khoảng 90% nam giới trên 50 tuổi và nữ
giới trên 60 tuổi có biểu hiện trên X quang thoái hóa cột sống cổ [25].

do tắc nghẽn có thoái hoá chiếm 16,83% [34].
Trần Ngọc Ân đã tổng kết tại khoa cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai
Hà Nội trong 10 năm thấy các bệnh về thoái hoá chiếm 10,41%, trong đó 2/3
thoái hoá cột sống. Vị trí của thoái hóa các khớp là: thoái hóa cột sống thắt
lưng 31%, thoái hóa cột sống cổ 14%, nhiều đoạn cột sống 7%, gối 13%,
háng 8%, ngón tay 6%, các khớp khác 20% [4].
Năm 2003, Phan Kim Toàn và Hà Hoàng Kiệm nghiên cứu triệu chứng
lâm sàng, hình ảnh X quang và kết quả điều trị THCSC bằng phương pháp
kéo giãn, tác giả thấy rằng: tỉ lệ nữ nhiều hơn nam (tỉ lệ nữ: nam là 3:2), lứa
tuổi hay gặp là 30 - 50 (75%), hội chứng rễ thần kinh cổ 80%, đau cạnh cột
sống và tại cột sống là 87,5%, hình ảnh X quang mọc gai xương, mỏ xương là
67,5%, tổn thương ở đoạn cổ dưới là 87,5% [44].
Năm 2003, Trần Tử Phú Anh tiến hành so sánh điều trị đau cổ vai có
THCSC bằng các phương pháp vật lý trị liệu và bằng phương pháp dùng
thuốc, tác giả thấy rằng: tỉ lệ nam và nữ là tương đương nhau; nghề nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
17
cán bộ chiếm tỉ lệ cao nhất (59,4%); bệnh nhân không ảnh hưởng chức năng
sau 2 tuần điều trị bằng thuốc là 18,8%, vật lí trị liệu đơn thuần là 31,1%;
không hạn chế tầm vận động khớp là 81,2% [3].
Năm 2004, Lưu Thị Hiệp khảo sát điều trị THCSC bằng phương pháp
châm cứu kết hợp kéo giãn cột sống cổ, thấy rằng: không còn triệu chứng đau
ở nhóm kéo giãn và châm cứu là 69,3%; nhóm dùng thuốc là 67,0% [24].
Năm 2006, Trần Nguyễn Phương [39]: đánh giá điều trị bệnh nhân
THCSC bằng phương pháp kéo giãn cột sống cổ trên máy Eltrac 471 cho kết
quả: nghề nghiệp cán bộ chiếm tỉ lệ cao nhất là 42,1%; tỉ lệ bệnh nhân đến
muộn trên 3 tháng là 46,6%; hội chứng giao cảm cổ là 12,3%; dấu hiệu X
quang hẹp khe khớp là 54,3%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status