đỏnh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng trờn mỏy lithoclast tại bệnh viện thanh nhàn - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu là bệnh thường gặp, chiếm khoảng 30-40% bệnh lý đường
tiết niệu, trong đó sỏi niệu quản đứng hàng thứ hai sau sỏi thận chiếm
25-30%. [Error: Reference source not found], [Error: Reference source not
found], [Error: Reference source not found], [Error: Reference source not
found]
Sỏi niệu quản 80% từ trên thận di chuyển xuống [Error: Reference
source not found], sỏi có thể một hay nhiều viên ở các vị trí khác nhau.Trong
quá trình di chuyển xuống, sỏi có thể vào bàng quang rồi tự đái ra ngoài,
nhưng thường sỏi bị dừng lại ở những đoạn hẹp của niệu quản, gây cơn đau
quặn thận bít tắc đường niệu phía trên vị trí sỏi nằm, gây tổn thương thận
nhanh chóng, nếu không điều trị kịp thời, giải phóng sự bít tắc dẫn tới viêm
nhiễm ứ nước, ứ mủ thận, Suy thận có thể gây tử vong cho bệnh nhân [Error:
Reference source not found], [Error: Reference source not found] , [Error:
Reference source not found], [Error: Reference source not found].
Bệnh lý sỏi niệu quản là bệnh lý cấp cứu có trì hoãn, việc theo dõi sát sự
di chuyển của sỏi có giá trị tiên lượng và chọn phương pháp điều trị nội khoa
hay ngoại khoa. [Error: Reference source not found], [Error: Reference source
not found], [Error: Reference source not found].
Trước đây điều trị can thiệp sỏi niệu quản chủ yếu là phẫu thuật mở lấy
sỏi, Từ cuối thế kỷ 20 trên thế giới có nhiều phương pháp điều trị sỏi ít gây
tổn thương cho bệnh nhân như: Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL – Extracoporeal
Shock Wave Lithotripsy), Tán sỏi thận qua da (Percutaneous nephrolithotripsy),
Tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng (Retrograde Ureteroscopy lithotripsy),
Mổ nội soi lấy sỏi (Laparoscopy)…mang lại kết quả tốt cho bệnh nhân.
1
1
2
Tại Việt Nam cho đến nay có nhiều cơ sở y tế đã phát triển phương pháp
tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng, với nhiều loại máy khác nhau như xung

4

Hình 1.1: Giải phẫu thận mặt trước (Atlas Nguyễn Quang Quyền) [Error:
Reference source not found]
Niệu quản chia làm 04 đoạn từ trên xuống dưới:[Error: Reference
source not found]
* Đoạn bụng: dài từ 09-11cm, liên quan ở sau với cơ thắt lưng, cỏc
dõy thần kinh đám rối thắt lưng (thần kinh sinh dục đùi), với các mỏm ngang
của đốt sống thắt lưng (L2-L5), phớa trong bên phải liên quan với tĩnh mạch
chủ, bên trái với động mạch chủ, cùng đi song song với niệu quản xuống hố
chậu có tĩnh mạch sinh dục
* Đoạn chậu: dài 03-04 cm, bắt đầu khi đi qua cánh xương cùng tới eo
trên của xương chậu, liên quan với động mạch chậu: bên trái niệu quản bắt
chéo động mạch chậu gốc trên chỗ phân nhánh 1,5 cm, bên phải niệu quản bắt
chéo động mạch chậu ngoài dưới chỗ phân nhánh 1,5 cm, cả hai niệu quản
đều cách đường giữa 4,5 cm tại nơi bắt chéo động mạch. Tại đây niệu quản
4
4
5
vắt qua động mạch thường bị hẹp, là điều kiện cho sỏi dừng lại gây bệnh sỏi
niệu quản
* Đoạn chậu hông: dài 12-14 cm, niệu quản chạy từ eo trên xương
chậu tới bàng quang, đoạn này niệu quản đi cạnh động mạch chậu trong chạy
chếch ra ngoài và ra sau theo đuờng cong của thành bên xương chậu. Tới nền
chậu hông chỗ gai ngồi thỡ vũng ra trước và vào trong để tới bàng quang, liên
quan của niệu quản phía sau với khớp cùng chậu, cơ bịt trong, bó mạch thần
kinh bịt bắt chéo phía sau niệu quản, phớa trước liên quan khác nhau giữa
nam và nữ.
+ Nữ giới: niệu quản khi rời thành chậu hông đi vào đáy của dây chằng
rộng tới mặt bên của âm đạo rồi đổ ra trước âm đạo và sau bàng quang. Khi

quản đến bờ trên của xương cùng.
6
6
7
- Niệu quản đoạn giữa (middle ureter): từ bờ trên xương cùng chạy
xuống bờ dưới xương cùng.
- Niệu quản đoạn dưới ( lower ureter ) : đoạn niệu quản chạy từ bờ dưới
xương cùng xuống bàng quang
1.1.1.2. Hệ thống mạch máu và thần kinh niệu quản
Mạch máu cung cấp cho niệu quản từ nhiều nhánh động mạch. Đoạn
niệu quản trên do cỏc nhỏnh tách ra từ động mạch thận, xuống dưới niệu quản
nhận cỏc nhỏnh tách ra từ động mạch chủ, động mạch trực tràng giữa, động
mạch chậu, động mạch mạc treo tràng dưới, động mạch thừng tinh hay buồng
trứng, động mạch bàng quang…Cỏc nhánh động mạch nối tiếp với nhau dọc
niệu quản tạo thành một mạng lưới phong phú.
- Các tĩnh mạch nhận máu từ các nhánh tĩnh mạch niệu quản đổ về tĩnh
mạch bàng quang, tĩnh mạch chậu dưới, tĩnh mạch thận ở trên.
- Hệ thần kinh chi phối niệu quản là hệ giao cảm và phân bố theo động
mạch. Chỳng cú nguồn gốc từ đám rối thận, đám rối tinh và đám rối hạ vị,
gồm sợi vận động chi phối cho cơ trơn thành niệu quản, và các sợi cảm giác
mang cảm giác đau khi có sự căng đột ngột thành niệu quản.[Error: Reference
source not found]
1.1.1.3. Cấu trúc mô học niệu quản
Thành niệu quản dày 01 mm có cấu trúc gồm 3 lớp: [Error: Reference
source not found], [Error: Reference source not found]
7
7
8
Hình 1.3 Giải phẫu vi thể niệu quản
Ngồn trích từ Campbell’s Urology [Error: Reference source not found]

found]
* Sinh lý chuyển động của nước tiểu trong niệu quản:
Khi nước tiểu được đẩy từ bể thận xuống niệu quản, sóng co bóp của
niệu quản xuất phát ở đầu trên niệu quản đẩy giọt nước tiểu xuống đoạn niệu
quản dưới. Giọt nước tiểu được đẩy xuống trước sóng co bóp của niệu quản,
như vậy niệu quản phía trên của giọt nước tiểu luôn luôn được khép lại ngăn
cản nước tiểu khỏi trào ngược. Một nhu động khác cứ như thế, lại đưa tiếp
giọt nước tiểu khác xuống dưới. Tốc độ di chuyển của làn sóng nhu động
khoảng từ 02 cm đến 06 cm trong 1 phút .[Error: Reference source not found]
Người ta đã đo được 2 loại áp lực trong lòng niệu quản khác nhau:
[Error: Reference source not found]
- Áp lực tĩnh của niệu quản khoảng từ 0 đến 5 cm H2O.
- Áp lực co bóp của niệu quản: Thay đổi từ 20 – 80 cm H2O, tuỳ theo
từng đoạn của niệu quản mà áp lực co bóp của niệu quản khác nhau tăng dần
lên cao nhất ở đoạn niệu quản bàng quang, nước tiểu được đẩy xuống bàng
quang theo 1 chiều:
Áp lực ở
- Bể thận : 15 cm H2O
- Đoạn thắt lưng: 20 – 30 cm H2O
9
9
10
- Đoạn chậu: 30 – 40 cm H2O
- Đoạn chậu hông: 40 – 50 cm H2O
* Sinh lý chỗ nối niệu quản bàng quang:
Sóng nhu động co bóp của niệu quản đẩy nước tiểu từ trên xuống tới chỗ nối
thành bàng quang, tại đây áp lực giữa giọt nước tiểu phải vượt quá áp lực
trong bàng quang để đẩy nước tiểu vượt qua chỗ nối vào trong bàng quang.
Nếu bàng quang bị căng nước tiểu làm áp lực trong bàng quang bị vượt quá
áp lực co của niệu quản thì gây nên trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên

- Khi áp lực trong đài bể thận tăng lên do tắc nghẽn hoặc trào ngược, đài
bể thận sẽ giãn nở, mức độ ứ nước của thận tuỳ thuộc thời gian bế tắc, mức độ
và vị trí bế tắc, nếu bế tắc càng cao thì càng ảnh hưởng nhiều đến thận.
- Hiện tượng ứ nước xảy ra đầu tiên ở các đài thận, mô ở giữa các đài
thận sẽ teo đi do: các đài thận ứ nước chèn ép và tình trạng thiếu máu hậu quả
của những rối loạn huyết động khi hệ thống động mạch cung cấp cũng bị chèn
ép giữa vỏ bao thận và đài bể thận.
- Thận ứ nước kéo dài sẽ đưa đến hiện tượng nhu mô bị teo mỏng, phá
huỷ hoàn toàn, thận chỉ còn là một túi chứa nước tiểu hoặc mủ.
- Khi áp lực đài bể thận tăng gần đến áp lực lọc của cầu thận (6 –
12mm Hg) thì khả năng bài tiết nước tiểu của thận rất thấp, áp lực lọc cầu
thận và lưu lượng máu đến thận giảm đi. Tuy nhiên thận có một cơ chế để bù
trừ là các ống góp của thận sẽ vỡ ra tại những điểm yếu nhất (tại fornix) gõy
thoỏt nước tiểu vào mô kẽ thận. Lượng nước tiểu này sẽ được hấp thu qua hệ
thống bạch mạch của thận, nhờ vậy áp lực trong đài thận được giảm xuống
Thận tắc nghẽn rất dễ bị nhiễm khuẩn kèm theo, và được chia làm 4
giai đoạn
- Giai đoạn 1: chủ yếu phù nề và viêm nhẹ ở vùng khe (viờm nóng)
11
11
12
- Giai đoạn 2: viêm nhiễm ở vùng khe tăng lên, các ống thận có thể bị
tổn thương, lòng chứa đầy trụ niệu và bạch cầu, mô xơ và những ổ áp xe rất
nhỏ quanh ống thận.
- Giai đoạn 3: những ổ áp xe rõ
- Giai đoạn 4: thận ứ mủ và bị phá huỷ hoàn toàn
Từ giai đoạn 2 trở đi đều để lại di chứng như viêm thận mãn, xơ teo
thận, đẩy nhu mô ra phía vỏ, nhu mô dẹt mỏng dần, tháp thận bị tổn thương,
có nhiều mô xơ xen lẫn mô lành, cuối cùng thận bị giảm và mất chức năng
1.3. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH SỎI TIẾT NIỆU

gặp nhiều khó khăn.
+ Acid uric: Gồm Amoni urat và Natri monohydrat, loại này gặp 1 –
20%, màu nâu, không cản quang, hay gặp ở nam giới, hay kết hợp với sỏi
Calcium oxalate, rất cứng.
+ Cystine: Chiếm 1- 2 %, màu trắng ngà, thành phần hầu như chỉ có
Cystine, đôi khi nó kết hợp với sỏi Calcium phosphate, thường gặp ở người
trẻ, sỏi cứng, ít gặp ở Việt nam.
Trên thực tế, các thành phần này thường phối hợp với nhau để cấu tạo
thành sỏi hỗn hợp. Dựa vào mức độ cản quang sỏi trên phim, màu sắc sỏi có
thể tiên lượng được mức độ rắn hay mềm của sỏi.
1.3.2. Thuyết hình thành sỏi tiết niệu:
Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu nói chung còn là vấn đề phức tạp, chưa
được xác định rõ ràng, tuy vậy nhiều tác giả đã xây dựng một số thuyết để mô
tả cơ chế hình thành sỏi tiết niệu như sau [Error: Reference source not found].
+ Thuyết “Keo-tinh thể’’ hay còn gọi là thuyết keo che chở của Butt
(1952) [Error: Reference source not found].Theo giả thuyết này, tất cả các
loại dịch trong cơ thể như dịch mật, dịch tuỵ, nước bọt và nước tiểu đều bao
13
13
14
gồm hai thành phần chính đó là: các tinh thể và chất keo ( hay còn gọi là chất
keo che chở).
- Các tinh thể bao gồm Acid Uric, Acid oxalic, Canxi, Cystin, Xanthin
các tinh thể này luôn có xu hướng lắng đọng và kết tụ với nhau tạo sỏi. Bình
thường các tinh thể này không lắng đọng tạo sỏi được do lưu tốc dòng nước
tiểu, các chất keo che chở luôn chuyển động va chạm và làm cho các tinh thể
cũng chuyển động theo
- Các chất keo che chở do niêm mạc đường niệu tiết ra, bản chất là các
chất cao phân tử như Mucin, Mucoprotein, acid hyalurolic, Acid Nucleic
các chất keo che chở này luôn có xu hướng chuyển động theo nguyên lý

tế bào nội mạc ống sinh niệu, gây giảm các chất keo tạo ra nhiều “hạt nhõn”
để tích tụ các tinh thể hình thành sỏi
- Giả thuyết của Randall (1973): đã đưa ra lý thuyết về những mảng vôi ở
biểu mô xoang thận (mảng Tubulin), và sự lắng đọng muối vôi vào những vết
chợt loét ở những biểu mụ đú. Theo Randall nếu tháp thận bình thường nhẵn
nhụi thì sỏi khó kết hợp và ngược lại nếu tháp thận thay đổi, các đài thận bị
mất tính trơn nhẵn thỡ cỏc tinh thể bỏm dớnh tạo sỏi
- Khi sỏi bong ra khỏi gai thận, nhờ những tác động của nhu động đẩy
nước tiểu từ thận xuống bàng quang, sỏi di chuyển xuống niệu quản, trên
đường di chuyển sỏi dễ bị mắc kẹt lại những chỗ hẹp của niệu quản
- Sỏi bị kẹt tại chỗ, tích tụ thêm canxi phát triển to dần lờn, chớt hẹp dần
lòng niệu quản, gây nên ứ tắc nước tiểu làm cho bệnh ngày càng trầm trọng
+ Thuyết tác dụng của Mucoprotein hay thuyết “Khuụn đỳc”: Theo
Boyce, Baker, Simon thì sỏi tiết niệu loại canxi, Uric đều do một nhân khởi
điểm hữu cơ mà cấu trúc của nhân này là Mucoprotein hay còn gọi là
Mucoplysaccharid, Mucoprotein là loại protein đặc hiệu rất giàu glucid chúng
15
15
16
rất dễ kết hợp với canxi để tạo thành một phức hợp không tan, khởi điểm cho
sỏi tiết niệu. Bình thường Mucoprotein có nhiều ở màng đáy ống thận.
+ Thuyết nhiễm khuẩn: Người ta đã xác định được tương quan nhân quả
giữa nhiễm khuẩn niệu và sỏi tiết niệu. Nhiễm khuẩn tạo ra nhiều tiểu thể để
trở thành nhân hình thành sỏi đó là xác vi khuẩn, xác bạch cầu , mặt khác
một số chủng vi khuẩn như Proteus, E.coli có men phân huỷ Urease gây kiềm
hoá nước tiểu, tạo ra các gốc Amoni, Magie dẫn đến tăng khả năng lắng đọng
Amoniphosphat và tạo nên sỏi mà chủ yếu là sỏi Struvit
+ Thuyết bão hoà quá mức: Theo Lonsdale K (1968) [Error: Reference
source not found], Elliot (1973) [Error: Reference source not found], Thụng
thường có sự thăng bằng giữa tốc độ hoà tan và tăng trưởng của các tinh thể

Capcase, người châu Á.
+ Di truyền: 25% bệnh nhân sỏi tiết niệu có tiền sử sỏi tiết niệu trong gia
đình. Một số tác giả cho rằng sỏi tiết niệu liên quan đến việc thiếu hụt gen, ở
nam giới, sỏi thận ở nhóm có tiền sử gia đình gặp nhiều hơn ở nhóm không có
tiền sử gia đình, bệnh nhiễm acid ống thận (Renal tubular acidosis, RTA) là
một bệnh di truyền, mà bệnh này có tỷ lệ mắc sỏi thận khoảng 73%. Bệnh
nhiễm acid ống thận (làm tăng nguy cơ tạo sỏi Canxiphosphate) có liên quan
đến 70% bệnh nhân sỏi thận. Bệnh sỏi cystine có tính di truyền, xuất hiện trên
bệnh nhân có kiểu gien lặn đồng hợp tử (Crawhall và Watts, 1968). Bệnh gây
nên bài tiết ra nước tiểu quá mức các Acid amim: Cystine, Ornithine, Lysine,
và Arginine, nhưng chỉ có Cystine là không hoà tan trong nước tiểu tạo sỏi.
+ Các dị dạng bẩm sinh: Các dị dạng thường gặp như: hẹp chỗ nối niệu
quản bể thận, phình to niệu quản, niệu quản đụi…là nguyên nhân thuận lợi
tạo sỏi, do ứ đọng nước tiểu và nhiễm khuẩn.
+ Ngoài ra cũn cú một số yếu tố nguy cơ nội sinh khác nhau tạo điều kiện
hình thành sỏi niệu như: béo phì, cao huyết áp, Cường tuyến cận giáp
17
17
18
* Yếu tố ngoại sinh.[Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found]
+ Địa lý, khí hậu: Mối liên quan giữa những yếu tố địa dư lý, khí hậu với
nguy cơ mắc bệnh sỏi tiết niệu rất phức tạp, trong khi sỏi thận phổ biến ở
những vựng cú khí hậu núng thỡ một số nhóm cư dân bản địa lại có tỷ lệ mắc
thấp ( người da đen, thổ dân châu phi), cũng như cư dân ở nhiều vùng ôn đới
lại có tỷ lệ mắc cao, điều đó có liên quan đến chế độ ăn quá dư thừa mà không
cân đối, ít vận động, uống ít nước của người phương tây. Những vùng địa lý
mắc tỷ lệ bệnh sỏi cao như: ở Mỹ là vùng tây bắc, đông nam và vùng đất khô
cằn tây nam, và cỏc vựng Scandinavi, các nước thuộc địa trung hải, phía bắc
ấn độ và Pakisstan, bắc Australia, trung tâm châu âu, một số vùng Trung

- Đỏi máu toàn bãi ít, thoáng qua
- Đái rắt, đái buốt khi sỏi niệu quản nằm sát thành bàng quang
+ Triệu chứng thực thể :
- Cơn đau do sỏi niệu quản: đau co cứng cơ thắt lưng, cứng nửa bụng,
bụng chướng
- Sỏi niệu quản đoạn 1/3 giữa bên phải: đau hố chậu phải nhưng không có
cảm ứng màng bụng, dễ nhầm với viêm ruột thừa.
- Sỏi niệu quản đoạn 1/3 trên bên phải: đau dưới sườn phải nhưng không
có co cứng thành bụng, dễ nhầm với viêm túi mật cấp do sỏi.
- Sỏi gây tắc nghẽn niệu quản, gây ứ nước thận, ứ mủ thận thì thận to và
dấu hiệu chạm thắt lưng, bập bềnh thận (+) khi thăm khám
+ Triệu chứng toàn thân
- Ít thay đổi khi có sỏi niệu quản một bên
- Sốt khi có sỏi gây tắc niệu quản và có nhiễm khuẩn đường niệu.
19
19
20
- Sỏi niệu quản hai bên hoặc sỏi thận một bên và sỏi niệu quản một bên
thì gây ảnh hưởng toàn thân nhanh chóng và gây ure máu cao, thiểu niệu, vô
niệu.[Error: Reference source not found], [Error: Reference source not found]
1.4.2. Chẩn đoán hình ảnh. [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found], [Error: Reference source not found]
* Chụp phim hệ tiết niệu không chuẩn bị: Chụp phim hệ tiết niệu không
chuẩn bị là phương tiện chẩn đoán hình ảnh kinh điển trong tiết niệu học để
phát hiện sỏi cản quang hệ tiết niệu. Đánh giá một phim chụp hệ tiết niệu
không chuẩn bị: phải thấy rừ ít nhất hai xương sườn cuối, các đốt sống, các
gai sau, xương cùng, khớp mu, thấy rừ bóng của hai cơ đái chậu, bóng gan,
lách, thận, toàn bộ hệ tiết niệu phải nằm trong khôn khổ của phim Khoảng
90% sỏi cản quang trên phim, vì sỏi có chứa calcium mật độ cản quang nhiều,
chỉ với kích thước 01-02 mm trên phim cũng có thể nhìn thấy trong khi đó đa

found],[Error: Reference source not found],[Error: Reference source not
found],[Error: Reference source not found]
Bệnh lý sỏi niệu quản được coi là bệnh lý cấp cứu cú trỡ hoãn, bởi vì
sỏi niệu quản làm cản trở lưu thông, ứ đọng nước tiểu, dễ gây biến chứng
trong đó có những biến chứng dẫn đến tử vong nếu không được xử trí kịp thời
1.4.3.1. Viêm đài bể thận, viêm thận kẽ.
Sỏi niệu quản nằm lâu ứ tắc nước tiểu bên trên sỏi, gây viêm thận bể
thận. Theo Nguyễn Kỳ và cộng sự (1994) [Error: Reference source not
found], tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu do sỏi trước mổ chiếm 63,34%. Vi khuẩn
thường gặp là E. Coli (Nguyễn Văn Xang, 1998) [Error: Reference source not
found].
Viêm đài bể thận cấp với các triệu chứng đau, sốt rầm rộ, toàn thân mệt
mỏi, đôi khi lượng nước tiểu trong ngày giảm đáng kể. Viêm đài bể thận mãn,
21
21
22
thể trạng chung là suy sụp, đau õm ỉ vùng thắt lưng, tỷ trọng nước tiểu giảm
nhiều.
1.4.3.2. Ứ nước, ứ mủ thận.
Sỏi niệu quản để lâu gây ứ đọng nước tiểu bên trên sỏi, thận giãn to,
chít hẹp niệu quản, đây là một quá trình viêm – xơ niêm mạc, dưới niêm mạc
và cơ thành niệu quản. Dương Văn Trung (2000) [Error: Reference source not
found] nghiên cứu 1519 bệnh nhân có 44,70% thận ứ nước độ 3 do sỏi niệu
quản. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2006) [Error: Reference source not found]
có 30,9% thận ứ nước nặng trong 110 bệnh nhân sỏi niệu quản. Thận ứ nước
hoặc ứ mủ 87% (Vũ Quỳnh Giao, 1997) [Error: Reference source not found].
Sỏi niệu quản gây nên thận ứ nước viêm nhiễm, ứ mủ thận, phá huỷ
nhu mô thận làm mất chức năng thận nhanh chóng (Lê Ngọc Từ, 2002)
[Error: Reference source not found].
1.4.3.3. Vô niệu và thiểu niệu.

Kim tiền thảo, rễ cỏ tranh, bông mã đề, cũng là một bài thuốc y học cổ
truyền chữa sỏi tiết niệu rất thông dụng
1.5.2. Điều trị can thiệp phẫu thuật
1.5.2.1. Phẫu thuật mở lấy sỏi. [Error: Reference source not found], [,
[Error: Reference source not found], [Error: Reference source not found] ,
[Error: Reference source not found]
Từ năm 1882 Bardenheuer đã báo cáo mổ mở lấy sỏi niệu quản đoạn
trên đầu tiên. Một thời gian khá dài mổ mổ vẫn là phương pháp duy nhất điều
trị can thiệp sỏi tiết niệu khi điều trị nội khoa thất bại.
Nhưng khoảng 20 năm trở lại đây vị thế của mổ mở lấy sỏi ngày càng
bị thu hẹp nhờ sự phát triển vượt bậc của các kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn
như tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi nội soi ngược dòng, mổ nội soi lấy sỏi tuy
23
23
24
nhiên cho đến nay mổ mở vẫn đóng một vai trò hết sức to lớn khi mà các
phương pháp khác thất bại hoặc có tai biến, biến chứng
Chỉ định: Mổ mở lấy sỏi niệu quản là giải pháp tình thế khi các phương
pháp can thiệp ít xâm lấn khác thất bại, hoặc tai biến, biến chứng
Trước khi lên bàn mổ phải chụp kiểm tra lại phim hệ tiết niệu không chuẩn bị
để đánh giá và so sánh với phim lúc trước
Tuỳ theo vị trí của sỏi mà tư thế bệnh nhân khác nhau, sỏi niệu quản
đoạn trên bệnh nhân thường nằm nghiêng hoặc sấp, đoạn dưới nằm ngửa
Nguyên tắc mổ là lấy hết sỏi, đảm bảo lưu thông đường niệu
1.5.2.2 Mổ nội soi lấy sỏi. [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found],[Error: Reference source not found]
Mổ nội soi lấy sỏi niệu quản đoạn trờn cú 2 đường vào: Qua phúc mạc và
sau phúc mạc. Tuy nhiên qua đường sau phúc mạc ngày càng được lựa chọn hơn
Wickham (1979) là người đầu tiên giới thiệu mổ nội soi lấy sỏi niệu
quản qua đường sau phúc mạc, sau đó là Gaur (1992) mô tả một dụng cụ đơn

- Nguồn phỏt sóng xung : sóng thuỷ lực (Hydro- Electricque), sóng gốm
điện áp ( Piezo- Electricque), sóng điện từ trường (Electro-magnetic), sóng nổ
(Microexplosive)
- Hệ thống hội tụ súng: cỏc mỏy tỏn sỏi có nguồn phát kiểu điện thuỷ lực
sử dụng nguyên lý hình elip để hội tụ sóng. Với mỏy tỏn sỏi phát sóng xung
kiểu áp sứ điện các tinh thể sứ được sắp xếp trong một chiếc đĩa nửa hình cầu
để hướng sóng xung tới tiêu điểm F2. Với máy điện từ trường bộ phận hội tụ
sóng có thể là kính hội tụ âm hoặc bộ phận phản chiếu hình cầu.
Sóng xung được phát ra tại tiêu điểm F1 của máy, và sóng được truyền
qua môi trường nước vào hội tụ tại tiêu điểm F2 là vị trí của viên sỏi trong cơ
thể, Sóng tạo nên một lực nộn trờn bề mặt sỏi, và lực kéo sau khi đập vào
25
25

Trích đoạn Đánh giá trường hợp tán sỏi thất bạ Thất bại do sỏi quá cứng. Liên quan kết quả tán sỏi đến tuổi, giới tính Liờn quan đến kết quả tán sỏi với thành phần hoá học sỏ Các yếu tố liên quan đến biến chứng nhiễm khuẩn tiết niệu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status