1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điếc đột ngột (ĐĐN) là một cấp cứu trong chuyên khoa Tai Mũi Họng.
Mặc dù được biết từ rất lâu nhưng cho đến nay vấn đề chẩn đoán nguyên
nhân, điều trị vẫn còn nhiều tranh luận và đang tiếp tục được nghiên cứu .
Hiện nay các tác giả đều thống nhất về định nghĩa của điếc đột ngột như sau:
là một điếc tiếp nhận, thính lực giảm từ 30 dB trở lên với ít nhất ở 3 tần số
liên tiếp nhau và mới xuất hiện trong vòng 72 giờ, ở những bệnh nhân không
có tiền sử bệnh về tai [40], [59],[72],[73].
Điếc đột ngột thường xuất hiện ở một tai, nhưng đôi khi cũng xuất hiện
cả hai tai (khoảng 2%) và thường kết hợp với các triệu chứng khác như ù tai,
chóng mặt, cảm giác đầy nặng trong tai. [29][34][9][58]
Tại Hoa Kỳ tỷ lệ mắc bệnh hàng năm khoảng 5- 20 ca /100.000 dân [],
[]. Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê tỷ lệ bệnh. Theo một nghiên cứu tại
bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương trong vòng 6 tháng (từ 3 - 9/2011) có
168 bệnh nhân được chẩn đoán ĐĐN [20]. Theo một nghiên cứu khác ở bệnh
viện Tai Mũi Họng, Tp Hồ Chí Minh trong 2 năm (2005-2006) có 450 trường
hợp được chẩn đoán ĐĐN [10].
Điếc đột ngột có thể là triệu chứng của các bệnh như chấn thương, khối
u v.v Tuy nhiên trong lâm sàng phần lớn các trường hợp điếc đột ngột khụng
xỏc định được nguyên nhân còn gọi là điếc vô căn.Theo một số các tác giả
[42], [49], [60] nguyờn nhõn nhiễm virus chiếm từ 25-65 % và cơ chế bệnh
sinh liên quan đến miễn dịch do kháng thể chéo với virus ở cơ quan Corti tạo
phức hợp kháng nguyên – kháng thể.
Điều trị điếc đột ngột cần phải tiến hành nhanh chóng và kịp thời nhằm
hồi phục sức nghe và khả năng giao tiếp cho người bệnh.
2
Điều trị điếc đột ngột có nhiều phương pháp như bằng thuốc, oxy cao ỏp…
Trong đó điều trị bằng thuốc là chủ yếu nhằm mục đích chống viêm, chống dị
ứng, chống co thắt, giãn mạch… Thuốc corticoid là thuốc chính trong điều trị
theo các hình thức như: đường toàn thân( tiêm tĩnh mạch, uống), tại chỗ (tiêm
Nhiều năm tiếp theo,cỏc tác giả như Citelli (1926), Collet (1933),
Derleyn(1944), Fowler (1950), Hilger (1950) cũng đã dầy công nghiến cứu về
điếc đột ngột. Họ nhận thấy có một sự liên quan giữa điếc đột ngột và thiếu
máu mê nhĩ [28], [30], [35].
Bên cạnh đú cỏc công trình nghiên cứu của các nhà tai học khác như :
Belal A. (1980), Byn F.M (1984), Byrre (1987), John Booth (1987), Gulya
(1994) [23], [24], [27], đã góp phần làm cho bệnh cảnh lâm sàng của điếc đột
ngột được mô tả ngày càng đầy đủ hơn.
Năm 1980 tác giả Wilson lần đầu tiên dùng corticoid đối với điếc đột
ngột. Sau đó có nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh hiờụ quả của corticoid
trong hồi phục thính lực [57], [58], [67].
Năm 1991 Itoh là người đầu tiên đưa ra báo cáo về việc điều trị bệnh
Meniere bằng phương pháp tiêm corticoid vào hòm nhĩ. Sau đó 5 năm
Silverstein đưa ra báo cáo về việc điều trị điếc đột ngột bằng cách tiêm
corticoid vào hòm nhĩ [58].
Ở Việt Nam những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít. Năm 1966 lần
đầu tiên tác giả Lê Sỹ Nhơn đã đưa ra một trường hợp lâm sàng của một bệnh
4
nhân nữ 19 tuổi bị điếc đột ngột tại khoa TMH bệnh viện Bạch Mai Hà Nội
được đăng trong cuốn “Tai Mũi Họng tài liệu nghiên cứu” [16] .
Sau đó năm 2000 tác giả Phạm Trường Minh đã nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng và đánh giá kết quả của điều trị điếc xảy ra đột ngột tại Viện TMH [14].
Đến năm 2006 tác giả Nguyễn Thuý Võn đó nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và
đánh giá hiệu quả điều trị điếc đột ngột bằng corticoid đường toàn thân và thuốc
giãn mạch tại Viện TMH Trung Ương. Tác giả đã đưa ra các phương pháp xác định
vị trí tổn thương ở ốc tai hay sau ốc tai qua đo OAE và ABR [24].
Trong một báo cáo trên tạp chí Tai Mũi Họng số 3 năm 2008, Nguyễn
Minh Hảo Hớn và cộng sự lần đầu tiên đánh giá việc điều trị điếc đột ngột ở
người lớn bằng tiêm corticoid vào hòm nhĩ tại bệnh viện TMH Tp Hồ Chí
Minh đã nhận thấy corticoid vào hòm nhĩ vẫn còn hiệu quả với bệnh nhân mà
Thành trên với hố não giữa.
Thành dưới với hố mang tai.
1.2.2. Tai giữa
Tai giữa là hệ thống các khoang rỗng chứa khí nằm giữa tai ngoài và tai
trong gồm: Hòm nhĩ, vòi nhĩ và các tế bào xương chũm.
Trong phần giải phẫu tai giữa này chúng tôi chỉ giới hạn trình bày phần
hòm nhĩ , màng nhĩ và vòi nhĩ.
1.2.2.1. Hòm nhĩ
Hòm nhĩ là một hốc rỗng nằm trong phần đá của xương thái dương, có
hình thấu kính lõm 2 mặt, có 6 thành, phía trước thông với thành bên họng
mũi bởi vòi nhĩ, phía sau thông với hệ thống bào xương chũm bởi một cống
nhỏ gọi là sào đạo. Hòm nhĩ chứa hệ thống xương con.
6
Hình 1.1. Thiết đồ cắt ngang tai ngoài, hòm nhĩ và tai trong []
* Các thành của hòm nhĩ:
Thành ngoài: gồm 2 phần:
- Phần trên: là tường xương gọi là tường thượng nhĩ, có dây chằng cổ
xương búa chia làm 2 ngăn: ngăn trên là Kretschman, ngăn dưới là Prussack.
- Phần dưới: là màng nhĩ là màng mỏng, có màu xám, trong, có tính
chất dai và cứng. Màng nhĩ được chia làm 2 phần: phần trên là màng chùng
(Shrapnell) quan hệ trực tiếp với túi Prussack. Phần dưới là màng căng chiếm
ắ diện tích màng nhĩ. Đây là phần rung động của màng nhĩ.
7
Hình 1.2. Thành ngoài hòm nhĩ []
Thành trong hay thành mê nhĩ :
- Giữa lồi lên gọi là ụ nhô do vòng thứ nhất ốc tai tạo nên.
- Dưới ụ nhô: có lỗ của thần kinh Jacobson.
- Cửa sổ bầu dục: ở phái sau trên ụ nhô có đế xương bàn đạp gắn vào.
- Hố nằm giữa cửa sổ tròn và cửa sổ bầu dục gọi là ngách nhĩ.
- Lồi ống thần kinh mặt: do đoạn II của ống thần kinh mặt tạo nên, nằm
hợp thành các kích thích nghe được chuyển qua thần kinh VIII lên vỏ não.
9
Hình 1.4. Hình ảnh minh họa cơ chế hoạt động của ốc tai
Thành trên: còn gọi là trần hòm nhĩ, là một lớp xương mỏng ngăn cách
hòm nhĩ với hố não giữa, do xương trai và xương đá tạo thành.
Thành dưới hay thành tĩnh mạch cảnh: là một mảnh xương mỏng hẹp
ngăn cách hòm tai với hố tĩnh mạch cảnh. Sàn thấp hơn thành dưới ống tai
ngoài độ 1-2 mm
Thành trước hay thành động mạch cảnh: thành này có ống cơ căng
màng nhĩ ở trên, lỗ thông hòm nhĩ với vòi tai ở dưới. Dưới lỗ thông hòm nhĩ
với vòi tai là vách xương mỏng ngăn cách hòm tai với động mạch cảnh trong.
Thành sau hay thành chũm:
Ở trên có một ống thông với sào bào gọi là sào đạo. Trên thành trong
của sào đạo là lồi ống bỏn khuyờn ngoài.
Mỏm tháp nằm ngay sau cửa sổ bầu dục và trước đoạn 3 của dây thần
kinh mặt, cú gõn cơ bàn đạp chui ra bám vào cổ xương bàn đạp.
* Các tầng hòm nhĩ: Hòm nhĩ được chia thành 3 tầng
Vịn ốc tai
Mảnh xoắn ốc
Cửa sổ bầu dục
Khe xoắn ốc
Ống ốc tai
Vịn tiền đình
Cửa sổ tròn
10
Thượng nhĩ: Thượng nhĩ được chia làm 2 phần ngoài và trong. Chỉ có
thượng nhĩ trong thông với hạ nhĩ còn thượng nhĩ ngoài khụng thụng với hạ
nhĩ. Thượng nhĩ rất kém thông khí, là nơi chứa xương con.
Hạ nhĩ: Là phần tai giữa nằm phía dưới sàn của ống tai xương.
Trung nhĩ: Nằm giữa thượng nhĩ và hạ nhĩ.
Hai đầu của vòi nhĩ thì rộng còn chỗ nối của hai đoạn thì hẹp và được
gọi là eo vòi (kt 2mm x 1mm).
Hướng đi của vòi nhĩ là từ trên xuống dưới, từ sau ra trước và từ trong
ra ngoài. Vòi nhĩ tận cùng ở thành bên họng- mũi bằng một cái loa hình dấu
mũ gọi là loa vòi. Loa này có hai mép: mép trước gọi là mộp vũi - khuẩu cỏi,
mộp sau gọi là vòi họng. Ở sau loa vũi cú một cái hố gọi là hố Rosenmuller.
Bình thường thỡ vũi nhĩ đúng kín do hai thành sụn khép lại. Nhưng khi
cơ màn hầu co lại thì lòng của vòi Eustachi mở ra.
12
Niêm mạc của vòi Eustachi chứa đựng nhiều nang lympho. Những
nang này tập hợp lại chung quanh loa vòi thành một khối gọi là Amydan vòi
của Gerlach.
chức năng của vòi nhĩ
Bình thường màng nhĩ đóng lại, không có sự thông thương giữa hòm
nhĩ và vòm mũi họng. Khi chúng ta nuốt hoặc ngỏp thỡ vũi nhĩ mở ra cho
không khí ở mũi vào hòm nhĩ.
Sự có mặt của không khí trong hòm nhĩ là rất cần thiết cho sự rung
động của màng nhĩ. Nếu không khí ở đấy giảm xuống thì sẽ làm cho màng
nhĩ bị lõm và rung động kém, tai sẽ nghe kém hoặc có tiếng ù.
1.2.3. Tai trong
1.2.3.1 Ốc tai xương
Là một ống xoắn ốc, hình nón cao khoảng 5 ly, đáy có đường kính xấp
xỉ 9 ly ở giữa có trụ ốc, xung quanh có ống xoắn ốc quấn thành hình xoắn, dài
32 ly. Nó gồm 2 vòng rưỡi, xoắn quanh một hình chóp nón rỗng gọi là trụ ốc.
Ốc tai được chia làm 2 vịn:
-Vịn tiền đình ở trên, vịn nhĩ ở dưới, hai vịn này thông với nhau ở
chỏm của ốc tai. Vịn tiền đình có cửa sổ bầu dục và đế xương bàn đạp bịt lại,
trong vịn tiền đình có chứa ống ốc tai, trong ống ốc tai có chứa nội dịch.
- Vịn nhĩ lồi vào tai giữa thành ụ nhô, ở bên có cửa sổ tròn, có màng
nhĩ phụ bịt kín [21].
TB Hensen
TB Boettcher TB lông trong
M ng mà ái
Sợi TB lông trong
TB lông trong
Các TBtrụ
15
Là bộ phận chủ yếu của cơ quan thính giác, nằm trong nội dịch của ống
ốc tai, ở trên màng đáy và có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần:
+ Màng mái: Là một phần của màng xoắn trên toàn bộ chiều dài của cơ quan
Corti, có chiều rộng và dày tăng dần từ đỏy lờn đỉnh ốc tai. Phía trong màng
mỏi cú một trụ rung chuyển, trụ này lệch vào phía trong so với trụ màng đáy
để tạo ra sự di chuyển cỏc lụng của tế bào thần kinh ở màng mái. Màng mái
nằm dựa nhẹ lờn cỏc tế bào lông của cơ quan Corti, có một khoảng cách để
đảm bảo sự rung động của cỏc lụng tế bào thần kinh này.
+ Các trụ: Tạo thành khung ở giữa cơ quan Corti, được sắp xếp thành
hai dãy trụ: Các trụ trong và trụ ngoài, các trụ này khi lờn trên chúng hội tụ
lại thành một khoang hình tam giác gọi là đường hầm Corti [11], [21].
+ Các tế bào nâng đỡ gồm:
Tế bào nâng đỡ trong: Đi từ chân màng mái tới tựa vào trụ trong. Đầu trên
của tế bào này cùng với đầu trên của trụ trong tạo thành yếu tố nâng đỡ bao
quanh tế bào lông trong.
Các tế bào nâng đỡ ngoài: Ở ngoài trụ ngoài gồm các lớp tế bào :
* Tế bào Deiters
* Tế bào Hansen
* Tế bào Claudius
+ Các tế bào giác quan: Gồm các tế bào lông trong và tế bào lông ngoài.
Tế bào lông trong: Có khoảng 4500 tế bào, đó là các tế bào hình trụ, đầu nhỏ
xếp thành một dãy ở phía trong trụ trong.
Tế bào lông ngoài: Có khoảng 12.000 – 20.000 tế bào, hình trụ đầu to, xếp
đầu bóng của 2 ống bỏn khuyờn nằm và đứng.
Động mạch tiền đình - ốc tai: Cấp máu cho xoan nang và phần lớn cầu nang
rồi chia làm 2 nhánh, một nhánh chạy vào thân và phần sau của xoan nang,
đầu và bóng của ống bỏn khuyờn đứng ngang, một nhánh đến vòng xoắn ốc
tai.
Động mạch ốc tai riêng : Đi vào trụ ốc cấp máu cho động mạch dây chằng xoắn
( động mạch vằn mạch) liên quan với vằn mạch và cho động mạch hạch xoắn,
cuối cùng cho một nhánh nối với động mạch tiền đình - ốc tai.
Ốc tai được cấp máu bởi một mạch máu nhỏ và rất ít nhánh nối, do đó phần
ốc tai có thể bị đe doạ khi một trong những động mạch sau bị thiếu máu:
Động mạch tai trong, động mạch tiểu não trước dưới, động mạch thân nền
hoặc động mạch đốt sống.
18
Hình 1.10. Các động mạch ốc tai riêng.[71]
1.2.5. Dây thần kinh ốc tai
+ Dây thần kinh ốc tai: Dây thần kinh ốc tai cú nguyờn uỷ từ các hạch
xoắn, từ các hạch này các tế bào hướng tâm 2 cực cho sợi đi ra các tế bào
lông trong và tế bào lông ngoài để cảm giác âm thanh, cũn cỏc sợi đi vào tạo
thành các dây nhỏ qua trụ ốc tai tới đáy ống tai trong tụ họp thành dây thần
kinh ốc tai.
Phần ốc tai và tiền đình của dây VIII nằm trong một bao chung trong
ống tai trong, cú liờn quan đến dây thần kinh mặt, sau đó thoát ra ở lỗ tai
trong rồi đến hành tuỷ [21], [30], [37] .
Tĩnh mạch ốc
tai sau
Tĩnh mạch ốc tai
trước
Tiểu động mạch hạch
xoắn
Động mạch ốc
Ống BK ngoài
TK tiền đình trên
TK Ốc tai
TK TĐ- OT
TK tiền đình dưới
Ống nội bạch huyết
Ống BK sau
Bóng màng sau
Ống màng chung
Hạch tiền đình
20
Đường dẫn truyền thần kinh thính giác từ dây thần kinh ốc tai, qua thõn
nóo lờn vỏ não.
+ Dây thần kinh ốc tai
Dây thần kinh cú nguyờn uỷ từ các hạch xoắn, từ các hạch này các tế
bào hướng tâm hai cực cho các sợi đi ra các tế bào lông trong và lông ngoài
để cảm giác âm thanh, cũn cỏc sợi đi vào tạo thành các sợi nhỏ qua trụ ốc tai
tới đáy ống tai trong tụ họp thành dây thần kinh ốc tai.
Phần ốc tai và tiền đình của dây VIII nằm trong một bao chung trong
ống tai trong, có liên quan với dây thần kinh mặt, sau đó thoát ra ở lỗ tai trong
rồi đi đến hành tuỷ.
+ Đường dẫn truyền thính giác từ thõn nóo lờn vỏ não
* Nhân ốc tai.
Nhân ốc tai là trạm dừng bắt buộc đầu tiên của tất cả các sợi hướng
tâm đi vào từ dây ốc tai. Nó nằm ở hai bên rãnh hành cầu và phía ngoài điểm
vào của dây thần kinh VIII.
Nhân ốc tai được chia làm hai nhúm chớnh là nhân ốc tai lưng và nhân
ốc tai bụng. Nhân ốc tai bụng lại chia làm hai nhóm phụ là nhân ốc tai bụng
trước và nhân ốc tai bụng sau.
Nhân ốc tai bụng là chặng dừng chân của các sợi thần kinh nhận cảm
Từ thể gối giữa cho các tia thính giác đi tới vùng nghe ở thuỳ thái dương trên
vỏ não cựng bờn.
22
Hình 1.12 Đường dẫn truyền thính giác lờn nóo [52]
1.4. BỆNH HỌC ĐIẾC ĐỘT NGỘT
1.4.1. Nguyên nhân điếc đột ngột
Điếc đột ngột có thể xảy ra do tổn thương tại ốc tai hoặc dây thần kinh
thính giác hay tổn thương thần kinh trung ương.
1.4.1.1 Nguyên nhân tại ốc tai
Đến nay đó cú rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây ra
điếc đột ngột nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều khó khăn, phần lớn các trường
hợp không tìm thấy nguyên nhân. Một số giả thuyết về nguyên nhân bệnh sinh
được nhiều tác giả nhắc đến đó là: Thuyết do virus, do mạch máu, do miễn dịch…
Do virus:
Neuron loại 1
Thần kinh
TĐ – OT
Cấu trúc lưới Phức hợp trám trên
Nhân Ốc tai
Củ não sinh tư trên
Thể gối giữa
Cấu trúc lưới
Vỏ não thuỳ thái
dương
23
Wilson và cộng sự (1983) [69] nghiên cứu trên 122 bệnh nhân bị điếc đột
ngột và thấy rằng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm bị nhiễm virus và nhóm
chứng.
Những nghiên cứu trên xương thái dương của Schuknecht [53] cho thấy rằng
Tổn thương trực tiếp cỏc nhánh tận cấp máu cho ốc tai :
- Co thắt động mạch hạch xoắn : Đây là một dạng điếc tai trong không nặng
lắm, thính lực giảm ở các tần số cao, cũn cỏc tần số trầm còn tốt. Bệnh nhân
có ù tai tiếng cao, không có cảm giác tức nặng trong tai ( vì không có áp nội
hay ngoại dịch ).
- Co thắt động mạch dây chằng xoắn : kết quả gây tăng xuất tiết nội dịch làm
cho ốc tai màng sũng nước. Áp xuất nội dịch cao có thể tràn vào tiền đình do
hỏng van ngăn cách giữa ốc tai và tiền đình. Loại này trờn thính lực đồ thấy
sức nghe giảm nhiều ở các tần số trầm, bệnh nhõn có ù tai, cảm giác đầy tai
hoặc tức nặng trong tai.
- Co thắt động mạch ốc tai riờng : gõy điếc hoàn toàn tai trong, kèm theo
bệnh nhân có hiện tượng nghe đôi và hồi thính.
Do nguyên nhân miễn dịch:
Điếc đột ngột có thể gặp trên những bệnh nhân bị Luput, viờm nỳt quanh
động mạch hay hội chứng Cogan. Theo McCabe điếc đột ngột cú liờn quan
đến bệnh tự miễn ở tai trong. Test ức chế miễn dịch dương tính ở những bệnh
nhân nghiên cứu, và việc điều trị bằng corticoid có kết quả tốt cũng chứng
minh cho giả thuyết này.
Do nhiễm độc:
25
Nhiễm độc do thuốc đứng hang đầu, trong đó chủ yếu là nhiễm độc kháng
sinh nhóm Aminozid. Do sự lắng đọng của thuốc trong nội dịch tai trong gây
ra những hậu quả kéo dài ngay cả khi đã ngừng sử dụng thuốc.
Nhiễm độc do rượu
Nhiễm độc do thuốc lá
Do rối loạn chuyển hoá:
Các nguyên nhân gây ra rối loạ chuyể hoá toàn thể:
Suy thận
Nhiễm toan máu do nguyên nhân tại thận
Đái tháo đường