ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TT. NHIỆT ĐỚI VIỆT - NGA
CHI NHÁNH PHÍA NAM
CHUYÊN ĐỀ ĐIỀU TRỊ ĐIẾC ĐỘT NGỘT BẰNG PHƯƠNG PHÁP
KẾT HỢP ĐỒNG THỜI OXY CAO ÁP VỚI THUỐC
ĐỒNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
ThS.BS. NGUYỄN PHƯƠNG NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 11/2012
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT
ATA (Atmosphere Absolute)
Áp suất tuyệt đối
ĐĐN
Điếc đột ngột
Hb
Hemoglobin
OXCA
Oxy cao áp
WHO
Tổ chức y tế thế giới 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghe là một trong năm giác quan của con người, giúp con người thu
nhận các thông tin từ môi trường để có thể sống, thích ứng và hòa nhập được
với xã hội. Vùng nghe được của tai người ở trong dải từ 16 – 20.000 Hz
(Herzt) và mỗi tần số có ngưỡng nghe tối thiểu và tối đa. Tiếng nói của con
Thúy…vv) cũng đã tiến hành nghiên cứu về ĐĐN và các phương pháp điều
trị. Trong khuôn khổ chuyên đề này, chúng tôi cung cấp một số thông tin về
ĐĐN và điều trị ĐĐN bằng phương pháp kết hợp đồng thời OXCA với thuốc,
với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và giúp cải thiện sức
nghe tốt hơn cho các bệnh nhân ĐĐN.
1. TÓM TẮT GIẢI PHẪU CƠ QUAN THÍNH GIÁC
Bộ máy thính giác bao gồm tai, dây thần kinh thính giác (dây thần kinh
số VIII), đường dẫn truyền thính giác, các nhân và trung tâm thính giác ở não.
Đó là một hệ thống, cơ quan đã được biệt hóa để nghe, nhận biết âm thanh.
Về giải phẫu tai được chia 3 phần: Tai ngoài, tai giữa và tai trong.
3
Hình 1: Giải phẫu tai
Nhằm tạo cơ sở về thính học, ở đây chúng tôi chỉ trình bày sơ lược giải
phẫu tai có chức năng nghe.
1.1. Tai ngoài
Tai ngoài gồm hai phần là vành tai và ống tai ngoài.
Vành tai: Có hình như cái loa bằng sụn, khung sụn có những chỗ lồi,
chỗ lõm để thu nhận âm thanh từ bất cứ hướng nào.
Ống tai ngoài: Đi từ lỗ tai ngoài đến tận cùng là màng nhĩ. Phần ngoài
là ống tai sụn, phần trong là ống tai xương. Ống tai ngoài có nhiệm vụ dẫn
truyền âm thanh từ ngoài vào đến màng nhĩ.
1.2. Tai giữa
Khoang tai giữa bao gồm một hệ thống thông khí rộng rãi được thông
khí bởi vòi tai. Các phần của tai giữa bao gồm ba phần: Vòi tai, hòm tai giữa
và khối thông bào xương chũm.
Loa tai
và một phần xương (1/3), nối thông từ thành trước hòm tai giữa đến thành bên
của họng mũi. Vòi tai giúp cho việc thông khí từ họng mũi vào tai và ngược
lại, do đó làm cân bằng áp lực bên trong và ngoài hòm tai giữa, đảm bảo cho
màng nhĩ rung động bình thường. Khi có tăng áp lực ở hòm tai giữa thì
thường được bù trừ theo con đường thụ động của vòi tai đi tới họng mũi. Còn
khi có giảm áp lực thì lại cần có sự thông khí chủ động từ họng mũi dọc theo
vòi tai đi vào khoang tai giữa.
Vòi tai mở và đóng đáp ứng với cử động của các cơ kế cận và sự khác
biệt về áp lực không khí giữa họng mũi và khoang tai giữa sẽ được cân bằng
ngay lập tức. Cơ chế đóng vòi là sự nẩy, bật đàn hồi của sụn vòi tai và tác
động của van ở lỗ họng của vòi. Vòi tai được mở bởi cơ căng vòm miệng và
cơ nâng vòm miệng. Cơ chế này một phần chịu sự điều khiển của các cơ tự ý
Xương búa
Xương đe
Ngăn trên hòm nhĩ
Vòi nhĩ
Cơ búa
Màng nhĩ
Xương bàn đạp
Cơ bàn đạp
5
nhưng các cử động phản xạ về ngáp và nuốt và trương lực cơ thì lại dưới sự
điều khiển tự động.
Hòm tai giữa:
Là phần trung tâm quan trọng của tai giữa. Hòm tai giữa là một hốc
rỗng hình hộp có sáu thành:
Thành trên: Còn gọi là trần nhĩ, là lớp xương mỏng ngăn cách tai giữa
với hố não, liên quan kế cận với các màng não và não.
Thành dưới: Thấp hơn bờ dưới của ống tai ngoài 3 – 4mm tạo một hố
đạp khớp với cửa sổ bầu dục, qua cửa sổ bầu dục xương bàn đạp tiếp xúc với
vịn tiền đình. Tất cả các xương con đều được treo hoặc dính vào thành của
hòm nhĩ bằng mạc treo dây chằng.
Có hai cơ liên quan đến hoạt động của chuỗi xương con là cơ búa và cơ
bàn đạp. Cơ búa đi từ thành trước hòm nhĩ, trong ống cơ búa đến bám vào đầu
trên cán búa, tác dụng làm tăng áp lực tai trong và căng màng nhĩ. Cơ bàn đạp
đi từ thành sau trước đoạn ba của ống Fallope đến bám vào chỏm xương bàn
đạp, tác dụng làm giảm áp lực tai trong, đồng thời làm chùng màng nhĩ.
Khối thông bào xương chũm:
Gồm khối tế bào chứa không khí nằm ở phía sau hòm tai giữa, trong đó
tế bào chũm lớn nhất nằm ở trung tâm gọi là hang chũm hay sào bào. Bao
quanh hang chũm là các đám tế bào chũm phía trước, phía sau, phía trên và
dưới. Hang chũm thông với hòm tai giữa qua ống thông hang, tiếp cận và liên
quan tới màng não, đại não, tiểu não, xoang tĩnh mạch bên và dây thần kinh
mặt (số VII).
7
Nói chung tai giữa giúp dẫn truyền âm thanh từ màng nhĩ vào cửa sổ
bầu dục của tai trong nhờ vào chuỗi ba xương con, ngoài con đường này âm
thanh còn đến tai trong qua đường không khí ở vòi tai và qua xương sọ nhưng
không quan trọng lắm. Tai giữa có cơ búa và cơ bàn đạp giúp tăng sức nghe
và bảo vệ tai trong khi cần thiết.
1.3. Tai trong
Tai trong hay còn gọi là mê đạo tai nằm ở trong xương đá. Tai trong
gồm có hai bộ phận chính là tiền đình và ốc tai.
Bộ phận tiền đình:
Bộ phận này gồm có hai phần là các ống bán khuyên và phần tiền đình.
Cũng như bộ phận ốc tai, bộ phận tiền đình gồm có tiền đình xương và tiền
đình màng.
Các ống bán khuyên: Gồm ống bán khuyên ngang, ống bán khuyên
trước và ống bán khuyên sau. Các ống bán khuyên xương chứa các ống bán
Ốc tai
Cầu nang
Soan nang
Vết cầu nang
Vết soan nang
9
Ốc tai màng còn gọi là loa đạo màng được hình thành và phát triển từ
tấm nhĩ ngoại bì. Nó bao gồm một hệ thống các hốc chứa nội dịch. Nội dịch
đi qua ống nội dịch và tận cùng ở một túi bịt là túi nội dịch nằm ở khoang
ngoài màng cứng, ở mặt sau của tháp đá gần với xoang xích ma. Hình 4: Ốc tai
Ốc tai xương bọc ngoài ốc tai màng, giữa ốc tai xương và ốc tai màng
là khoang ngoại dịch chứa ngoại dịch.
Hệ thống ngoại dịch là một khoảng rỗng liên thông tiếp với khoang
dưới nhện qua ống ốc tai. Ngoài ra hệ thống ngoại dịch lại thông thương với
các khe bạch huyết của niêm mạc – màng sụn tai giữa. Do đó sự thay đổi các
chất chuyển hóa và dịch có thể xảy ra ở tai giữa và tai trong do áp suất thủy
tĩnh.
Nội dịch là phần lọc của ngoại dịch nhưng nồng độ ion K
+
và ion Na
+
+
là cơ sở để tạo nên điện thế thường xuyên. Thành phần chất
điện giải của nội dịch điều hòa khối lượng chất lỏng lưu thông trong hệ thống
nội dịch.
Trong ống ốc tai có: Nội dịch, màng nền, màng mái, màng nuôi. Đặc
biệt trên màng nền có bộ phận tiếp thu các rung động âm thanh, đó là cơ quan
Corti. Cơ quan Corti là phần giác quan chủ yếu của bộ máy thính giác, cấu
tạo rất phức tạp gồm:
Các trụ: Tạo thành khung ở giữa cơ quan corti, có 2 dãy trụ gồm các
trụ trong và trụ ngoài, chúng cách xa nhau ở màng đáy và hội tụ ở đầu trên tạo
nên một khoang tam giác gọi là đường hầm Corti.
Các tế bào nâng đỡ: Gồm tế bào nâng đỡ trong và tế bào nâng đỡ
ngoài. Tế bào nâng đỡ trong đi từ chân màng mái, ở trên màng đáy tới tựa vào
trụ trong, đầu trên các tế bào này kết hợp với đầu trên trụ trong thành yếu tố
nâng đỡ bao quanh các tế bào thính giác lông trong. Tế bào nâng đỡ ngoài ở
ngoài trụ ngoài, dựa trên màng đáy đi ra tới thành ngoài, gồm có tế bào
Deiters là tế bào nâng đỡ chính, tế bào Hensen ở phía ngoài, có đỉnh to hơn
đáy, tế bào Claudius ở phía ngoài cùng.
11
Hình 5: Cơ quan Corti
Các tế bào giác quan: Gồm tế bào lông trong và tế bào lông ngoài.
Tế bào lông ngoài có ba hàng, khoảng 13.500 tế bào nhiều hơn 3 lần tế
bào lông trong, mỗi tế bào có hàng trăm lông nổi lên bề mặt, độ cao không
đều, sắp xếp hình chữ W lồng lên nhau, nhưng chỉ có một hàng cao nhất tiếp
xúc với màng mái ngay lúc nghỉ, các chuyển động cơ học ở các lông sẽ phát
sinh thay đổi về điện, đó là biến đổi điện – cơ học. Tế bào lông ngoài không
phải là tế bào giác quan thật sự nhưng có khả năng khuếch đại những chuyển
động nhỏ, rất tinh tế của màng đáy và truyền những chuyển động đó đến phần
về hạch Corti và hình thành bó ốc tai. Các sợi thần kinh xuất phát từ soan
nang, cầu nang, ống bán khuyên tập trung về hạch Scarpa ở đáy ống tai trong
hình thành bó tiền đình.
Hình 6: Thần kinh tiền đình ốc tai
Nhánh thần kinh tiền đình Bán khuyên trước
Bán khuyên sau
Bán khuyên
ngang
Vết soan nang
Vết cầu nang
Màng tiền đình Ống ốc tai
Ốc tai
Ống ốc tai
có thể đo được các hoạt động của các sợi thần kinh hướng tâm bằng kĩ thuật
đo điện thính giác thân não. Các sợi ly tâm xuất phát từ thân não xuống tiếp
khớp với đa số các tế bào lông ngoài, vai trò chưa biết chính xác, có lẽ góp
phần vào sự ức chế, biến đổi và điều chỉnh hoạt động của cơ quan Corti.
Động mạch tai trong
Động mạch tai trong là nhánh của động mạch tiểu não trước dưới, xuất
phát từ động mạch thân nền, cấp máu cho vùng tai trong bởi ba nhánh đó là
nhánh động mạch ốc tai, nhánh động mạch tiền đình và nhánh động mạch ốc
tai tiền đình.
14
Hình 7: Động mạch tai trong
Động mạch tai trong là động mạch tận không có nhánh nối, nên khi bị
tắc thì tai trong sẽ bị thiếu máu nuôi.
2. SINH LÝ NGHE
Sinh lý nghe là một vấn đề khá tinh vi và phức tạp gồm hai phần cơ bản
là sinh lý truyền âm và sinh lý tiếp nhận âm.
2.1. Sinh lý truyền âm
Chức năng truyền sóng âm đến bộ phận tiếp nhận ở tai trong:
Tai ngoài: Vành tai cấu tạo như phễu thu, đón nhận âm thanh vào ống
tai, giúp khu trú nguồn âm, để biết được âm thanh đến từ hướng nào. Ống tai
ngoài truyền sóng âm đến màng nhĩ.
Tai giữa: Màng nhĩ có vai trò quan trọng trong tiếp nhận sóng âm và
chuyển dao động âm (dạng âm đơn hình sin) thành rung động cơ học, rung
động này sẽ được chuỗi xương con chuyển đến tai trong qua cửa sổ bầu dục.
Để thực hiện tốt chức năng truyền âm, tai giữa cần có bốn điều kiện sau:
- Màng nhĩ bình thường và rung động tốt theo tác động của sóng âm.
15
- Chuỗi xương con liên tục từ màng nhĩ đến cửa sổ bầu dục và cử động
dễ dàng trong môi trường khí.
tai thu hồi được 28 dB trong số 30 dB bị mất. Ngoài ra còn có khả năng cộng
hưởng tự nhiên của hòm nhĩ và khoang ống tai ngoài.
Cơ chế bảo vệ tai trong:
Cơ bàn đạp khi co sẽ kéo nghiêng xương bàn đạp khỏi cửa sổ tiền đình,
lệch về phía sau theo chiều ngang, làm giảm áp lực ngoại dịch, giảm áp lực tai
trong. Khi chỏm bàn đạp bị kéo nghiêng ra sau, làm thân xương đe và chỏm
xương búa quay vào trong, đẩy cán búa ra ngoài làm giảm căng màng nhĩ, cơ
bàn đạp là cơ của tiếng bổng, cơ chịu sự chi phối của thần kinh số VII.
Cơ búa khi co sẽ kéo cán xương búa vào trong, đẩy chỏm búa ra ngoài
làm kéo theo thân xương đe ra ngoài, làm cành dài xương đe ấn xương bàn
đạp vào cửa sổ tiền đình làm tăng áp lực ngoại dịch. Cơ búa là cơ của tiếng
nhỏ và trầm, cơ chịu sự chi phối của thần kinh số V
3
.
2.2. Sinh lý tiếp nhận âm
Hoạt động của ốc tai như là một cơ quan tiếp nhận và phân tích tần số
sóng âm. Những rung động cơ học được đưa vào tai trong bằng đường chuỗi
xương con qua cửa sổ bầu dục, và bằng đường không khí qua cửa sổ tròn.
Giữa các sóng cơ học này có sự lệch pha về thời gian, mặc dù rất nhỏ (nhỏ
hơn một phần nghìn giây) nhưng rất cần thiết cho sự chuyển động của chất
dịch ở tai trong. Khi xương bàn đạp di động dưới kích thích của sóng âm làm
ngoại dịch rung động, sự rung động này sẽ tác động vào nội dịch trong ống ốc
tai qua màng nền và màng Reinsner. Theo thuyết di chuyển sóng của Bekesy,
ở màng nền có sự phân vùng tiếp nhận âm thanh, tùy theo tần số rung động:
Vùng gần cửa sổ tiếp nhận những âm cao, vùng gần đỉnh tiếp nhận những âm
trầm và đoạn giữa tiếp nhận những âm trung bình.
Sự rung động của màng nền làm cho những bộ phận dính liền với nó
rung động theo, cụ thể là cơ quan Corti. Khi cơ quan Corti rung động thì tế
17
bào lông sẽ va chạm vào màng mái, làm cho lông của các tế bào này bị uốn
định, nó sẽ tạo ra xung ở khớp thần kinh. Xung này dẫn truyền theo sợi thần
kinh tạo nên điện thế động hay luồng thần kinh. Luồng thần kinh tức điện thế
hoạt động phát sinh từ cơ quan Corti được đưa về vỏ não qua ba chặng neuron
thần kinh.
+ Neuron thứ nhất: Từ tế bào giác quan của cơ quan Corti đến nhân
thính giác ở hành não. Các thân neuron tập trung thành hạch Corti, các sợi
trục tập trung thành dây thần kinh ốc tai.
+ Neuron thứ hai: Từ hành não đến đồi thị, tại đây có sự bắt chéo các
sợi trục tạo ra sự liên lạc giữa các nhân trám cầu, thể thang, cấu tạo lưới.
+ Neuron thứ ba: Là neuron đồi thị vỏ não, đi từ thể gối trong và tận
cùng ở vỏ não thùy thái dương tại vùng thính giác, mỗi vùng thính giác đều
nhận xung điện ở cả hai tai. Tại vùng thính giác, các tín hiệu xuất phát từ cơ
quan Corti được đưa đến dưới dạng mật mã, sẽ được giải mã và ghi nhớ, gọi
là hiện tượng hiểu – nhận.
Nhờ có hiểu – nhận được các tín hiệu nên chúng ta phân biệt được
cường độ, âm sắc, tần số, mới phân biệt được tiếng động và tiếng nói, nhận ra
được giọng nói của người quen, lạ, giọng nói buồn, vui,…vv. Nếu vùng thính
giác bị hủy thì dòng điện hoạt động vẫn đến được não, nhưng bệnh nhân sẽ
không hiểu được ý nghĩa của các tín hiệu
.
3. ĐIẾC ĐỘT NGỘT
3.1. Đại cương
ĐĐN là mối quan tâm lớn không những cho người bệnh mà còn cho cả
thầy thuốc, phần lớn các chuyên gia Tai Mũi Họng định nghĩa ĐĐN là điếc
tiếp nhận từ 30 dB trở lên ít nhất ở 3 tần số liên tiếp nhau và xuất hiện trong
vòng 3 ngày. ĐĐN có thể vĩnh viễn, tạm thời và trở lại bình thường hoặc gần
như bình thường, thường xảy ra một bên tai (80 – 85%) nhưng cũng có thể hai
19
bên tai (15 – 20%), ngoài nghe kém ra thì có thể ù tai, chóng mặt. Bệnh sinh
đến nay vẫn chưa rõ ràng mà vẫn chỉ dừng lại ở các giả thuyết. Phần lớn các
thể gặp ĐĐN sau bị điện giật, sau điều trị tia xạ vv.
- Bệnh tự miễn: ĐĐN có thể gặp trên những bệnh nhân bị luput, viêm
nút quanh động mạch hay hội chứng Cogan. McCabe cho rằng ĐĐN có liên
quan đến bệnh tự miễn ở tai trong, việc điều trị bằng corticoid có kết quả tốt.
- Nhiễm độc: Nhiễm độc do thuốc đứng hàng đầu, trong đó chủ yếu là
nhiễm độc kháng sinh nhóm Aminozid. Do sự lắng đọng của thuốc trong nội
dịch tai trong gây ra những hậu quả kéo dài ngay cả khi đã dừng thuốc. Ngoài
ra có thể gặp nhiễm độc do rượu, nhiễm độc do thuốc lá.
- Rối loạn chuyển hóa: Các nguyên nhân gây rối loạn chuyển hóa toàn
thể như suy thận, nhiễm toan máu do nguyên nhân tại thận, đái tháo đường,
tăng lipid máu, suy giáp trạng. Các rối loạn chuyển hóa thường đưa đến tình
trạng thiếu máu của động mạch tai trong hoặc gây tình trạng nhiễm độc tai
trong.
- Các bệnh máu: Bệnh của hệ thống tạo máu, bệnh đa hồng cầu, bệnh
hồng cầu hình liềm, bệnh đông globulin. Sự thiếu máu và chứng nghẽn mạch
sẽ gây nên sự thiếu hụt máu trong ốc tai và sẽ dẫn đến sự thiếu máu thứ phát
của các tế bào lông và vân mạch là nguyên nhân gây nên ĐĐN.
Các nguyên nhân sau ốc tai gồm:
Tổn thương sau ốc tai có thể do bệnh lý ở dây thần kinh thính giác hoặc
hệ thống thần kinh trung ương.
21
- Do tổn thương dây thần kinh thính giác: U dây thần kinh số VIII, u
góc cầu tiểu não, viêm dây thần kinh thính giác.
- Do tổn thương hệ thống thần kinh trung ương: Thiểu năng tuần hoàn
não, khối u hành não cầu, u củ não sinh tư, bệnh xơ cứng rải rác.
3.4. Cơ chế bệnh sinh
Theo tác giả Michele M Carr, cơ chế bệnh sinh của ĐĐN được nhiều
tác giả công nhận có bốn giả thuyết sau: Tổn thương mạch máu mê đạo,
nhiễm virus mê đạo, vỡ màng trong ốc tai, bệnh tai trong qua trung gian miễn
dịch (bệnh tự miễn). Ngoài ra còn có giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của ĐĐN