nghiên cứu điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng trên máy lithoclast - Pdf 24

đặt vấn đề
Sỏi đường tiết niệu là bệnh thường gặp [34], chiếm khoảng 30 - 40%
bệnh lý đường tiết niệu [21],[29], trong đó sỏi niệu quản đứng hàng thứ hai
sau sỏi thận [21].
Sỏi niệu quản 80% từ trên thận di chuyển xuống [1], sỏi có thể mét hay
nhiều viên ở các vị trí khác nhau, 1/3 trên, 1/3 giữa hay 1/3 dưới của niệu
quản. Sỏi niệu quản gây cơn đau quặn thận bít tắc đường niệu phía trên vị trí
sỏi nằm, gây tổn thương thận nhanh chóng, nếu không điều trị kịp thời, giải
phóng sự bít tắc dẫn tới viêm nhiễm ứ nước, ứ mủ, suy thận có thể gây tử
vong cho bệnh nhân
Trước đây điều trị can thiệp sỏi niệu quản chủ yếu là phẫu thuật mở lấy
sỏi, Từ cuối thế kỷ20 trên thế giới có nhiều phương pháp điều trị sái Ýt gây
tổn thương cho bệnh nhân như: Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL – Extracoporeal
Shock Wave Lithotripsy), Tán sái qua da (Percutaneous nephrolithotripsy),
Tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng (Retrograde Ureteroscopy lithotripsy),
Mổ nội soi lấy sỏi Laparoscopy…mang lại kết quả tốt cho bệnh nhân
Tại Việt Nam cho đến nay có nhiều cơ sở y tế đã phát triển phương pháp
tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng, với nhiều loại máy khác nhau như sóng
xung, Siêu âm, Laser , Và cũng đã có báo cáo về kết quả, nêu lên những ưu
điểm và nhược điểm của phương pháp điều trị này
Tại bệnh viện Thanh Nhàn phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng được
thực hiện từ 11/ 2006
1
Để đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản trên máy Lithoclast, Chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi
ngược dòng trên máy Lithoclast tại bệnh viện Thanh Nhàn ”
Với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp nội
soi ngược dòng trên máy Lithoclast tại bệnh viện Thanh Nhàn.
2. Nghiên cứu một sè yếu tố liên quan đến kết quả và tai biến của

đều cách đường giữa 4,5 cm tại nơi bắt chéo động mạch. Tại đây niệu quản
vắt qua động mạch thường gây hẹp, là điều kiện cho sỏi dừng lại gây bệnh sỏi
niệu quản
* Đoạn chậu hông: dài 12 - 14 cm, niệu quản chạy từ eo trên xương
chậu tới bàng quang, đoạn này niệu quản đi cạnh động mạch chậu trong chạy
chếch ra ngoài và ra sau theo đuờng cong của thành bên xương chậu. Tới nền
chậu hông chỗ gai ngồi thì vòng ra trước và vào trong để tới bàng quang, liên
quan của niệu quản phía sau với khớp cùng chậu, cơ bịt trong, bó mạch thần
kinh bịt bắt chéo phía sau niệu quản, Phía trước liên quan khác nhau giữa nam
và nữ
+ Nữ giới: niệu quản khi rời thành chậu hông đi vào đáy của dây chằng
rộng tới mặt bên của âm đạo rồi đổ ra trước âm đạo và sau bàng quang. Khi
qua phần giữa dây chằng rộng niệu quản bắt chéo sau động mạch tử cung
+ Nam giới: niệu quản chạy vào trước trực tràng, lách giữa bàng quang
và túi tinh, bắt chéo ống tinh ở phía sau, ngoài ra còn có hệ thống mạch máu
tiểu khung rất phong phó
4
* Đoạn bàng quang: dài từ 01-1,5 cm, niệu quản đi vào bàng quang theo
hướng chếch từ trên xuống dưới và trong và ra trước, Niệu quản trước khi đổ
vào bàng quang đã chạy trong thành bàng quang một đoạn, tạo thành một van
sinh lý có tác dụng tránh trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản.
Hai lỗ niệu quản cách nhau 2,5 cm khi bàng quang rỗng và 5 cm khi bàng
quang đầy
* Niệu quản: có 3 chỗ hẹp sinh lý mà sỏi thường dừng lại khi di chuyển
từ thận xuống bàng quang tạo thành sỏi niệu quản: chỗ nối bể thận niệu quản
2mm, chỗ niệu quản bắt chéo động mạch chậu 4mm, chỗ tiếp niệu quản bảng
quang, lỗ niệu quản 3- 4 mm.
Trên thực tế lâm sàng, dựa trên phim chụp XQ, các nhà ngoại khoa chia
niệu quản ra thành 3 đoạn.
- Niệu quản đoạn trên: chạy từ bể thận đến bờ trên của xương cùng.

1.1.2. Sinh lý niệu quản
1.1.2.1. Hoạt động co bóp của niệu quản:
* Sinh lý của chỗ nối bể thận niệu quản:
Đài thận, bể thận và niệu quản có quan hệ chặt chẽ với nhau để thực
hiện chức năng đưa nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Khi dòng chảy nước
tiểu bình thường, tần số co bóp của đài bể thận nhiều hơn niệu quản đoạn trên,
và có một sự cản trở tương đối về hoạt động điện thế (electric activity) tại vị
trí chỗ nối bể thận niệu quả. Khi bể thận nhận đầy nước tiểu từ các đài thận đổ
về, áp lực trong bể thân tăng lên đến mức độ kích thích trương lực cơ tạo
thành những co bóp đẩy nước tiểu xuống niệu quản mà trước đó niệu quản
6
đang trong trạng thái xẹp. Áp lực co bóp của niệu quản để đẩy nước tiểu cao
hơn áp lực bể thận, và chỗ nối bể thận niệu quản được đóng lại để cho nước
tiểu khỏi trào ngược từ niệu quản lên thận. Khi dòng chảy nước tiểu tăng lên,
sự cản trở về hoạt động điện thế tại vị trí chỗ nối bể thận niệu quản mất đi và
có sự phù hợp giữa điều hoà nhịp (pacemaker) và sự tăng cường co bóp của
niệu quản.
* Sinh lý chuyển động của nước tiểu trong niệu quản:
Khi nước tiểu được đẩy từ bể thận xuống niệu quản, sóng co bóp của
niệu quản xuất phát ở đầu trên niệu quản đẩy giọt nước tiểu xuống đoạn niệu
quản dưới. Giọt nước tiểu được đẩy xuống trước sóng co bóp của niệu quản,
như vậy niệu quản phía trên của giọt nước tiểu luôn luôn được khép lại ngăn
cản nước tiểu khỏi trào ngược. Một nhu động khác cứ như thế, lại đưa tiếp
giọt nước tiểu khác xuống dưới. Tốc độ di chuyển của làn sóng nhu động
khoảng từ 2 cm đến 6 cm trong 1 phót .
Người ta đã đo được 2 loại áp lực trong lòng niệu quản khác nhau:
- Áp lực tĩnh của niệu quản khoảng từ 0 đến 5 cm H
2
O.
- Áp lực co bóp của niệu quản: Thay đổi từ 20 – 80 cm H

thể tăng gấp 2, gấp 3 lần di chuyển từ đài bể thận xuống niệu quản, nhưng
nhịp độ co bóp của niệu quản vẫn giữ nguyên. Mỗi nhu động co bóp của niệu
quản có thêm một lượng nước tiểu được vận chuyển xuống, các giọt nước tiểu
sẽ dài hơn, rộng hơn, nhưng vẫn cách nhau giữ cho không có hiện tượng trào
ngược. Sự hoạt động này còn phụ thuộc vào điều kiện bàng quang đầy nước
tiểu hay rỗng, cũng như trên đường tiết niệu có bị cản trở hay không.
1.1.3. Biến đổi giải phẫu và sinh lý đường tiết niệu trên do sỏi niệu quản
1.1.3.1. Những biến đổi về giải phẫu của thận và niệu quản [14],29]
Niệu quản bị tắc nghẽn hoàn toàn sẽ gây nên giãn bể thận. Trong những
tuần đầu, trọng lượng của thận tăng lên do phù nề tổ chức quanh thận và niệu
quản. Sau 4 đến 8 tuần, trọng lượng nhu mô thận giảm vì sự xơ của mô thận
nhiều hơn là phù nề trong thận. Thận bị tắc nghẽn bắt đầu xuất hiện màu xanh
đen có những vùng thiếu máu, xung huyết, hoại tử, và nhồi máu.
Khi niệu quản có sỏi bị tắc nghẽn không hoàn toàn sau 03- 10 ngày, lớp
đệm bị phá huỷ, lớp cơ phì đại, nếu tắc nghẽn dài ngày lớp cơ dày lên, dãn ra
8
rồi cuối cùng teo và xơ hoá, nơi sỏi nằm, thành niệu quản dày lên ôm lấy sỏi,
niệu quản ở phía dưới dày, lòng chít hẹp, nhu động niệu quản giảm, phía trên
giãn và cong queo, áp suất niệu quản giảm, thuận lợi cho nhiễm khuẩn tiết
niệu sảy ra. Tại thận Nephron lóc đầu bị giảm, sau đó bị phá huỷ nhanh
chóng, cầu thận có hiện tượng viêm kẽ và xơ hoá từ tuỷ đến vỏ, nếu kéo dài
ống thận xẹp lại được thay thế bằng tổ chức xơ, cầu thận biến đi và xơ hoá,
thận teo nhá do vậy muốn ngăn ngừa tổn thương thận và niệu quản cần phải
sớm lấy sỏi ra sớm, trước khi có nhiễm khuẩn
Thận tắc nghẽn rất dÔ bị nhiễm khuẩn kèm theo, và được chia làm 4 giai đoạn
- Giai đoạn 1: chủ yếu phù nề và viêm nhẹ ở vùng khe ( viêm nóng)
- Giai đoạn 2: viêm nhiễm ở vùng khe tăng lên, các ống thận có thể bị
tổn thương, lòng chứa đầy trụ niệu và bạch cầu, mô xơ và những ổ áp xe rất
nhỏ quanh èng thận.
- Giai đoạn3: những ổ áp xe rõ

prostaglandin – thromboxan đã tăng cường hoạt động.
1.2. Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu
1.2.1. Thành phần hoá học của sỏi .[29],[34]
Trong sỏi gồm có 90% trọng lượng là tinh thể vô cơ, còn lại 5% là nước,
3% là protein, ngoài ra là các yếu tè vi lượng khác nh citrat, kim loại kiềm,
fluo…(Hodgkinson, 1969).
Các phương pháp phân tích thành phần hoá học của sỏi nh: phương
pháp hồng ngoại, phương pháp laser màu xung (pulsed dye laser), phương
pháp phổ điện tử dạng chấm nhỏ (small – spot electron spectroscopy) .
Thành phần tinh thể tạo sỏi gồm có 5 loại: [1]
10
+ Calcium oxalate: Chiếm 85% các loại sỏi, dưới dạng có 2 phần tử
nước và một phần tử nước, màu vàng hoặc đen, sỏi cản quang, bề mặt xù xì
và nhiều gai, sỏi rất rắn.
+ Calcium phosphate: Dưới dạng brushit hay apatit, màu trắng, có
nhiều lớp cản quang, dễ vì khi tán.
+ Ammonium – magnesium – phosphate: Gặp khoảng 5 – 15% các loại
sỏi, phát triển nhanh thành sái to, sái san hô, màu trắng ngà. Sỏi do nhiễm
khuẩn gây nên, do các vi khuẩn gram âm sản xuất men ureasa, chủ yếu là
Proteus, sau đó là Providentia, Klebsiella, Serratia, và Enterobacter. Chất
ureasa chuyển ure trong nước tiểu thành kiềm gây kết tủa sỏi amoni magie
phospate, nhu mô thận bị phá huỷ nhanh chóng và việc điều trị gặp nhiều khó
khăn.
+ Acid uric: Chiếm 6%, màu nâu, không cản quang, hay gặp ở nam
giới, hay kết hợp với sỏi calcium oxalate, rất cứng.
+ Cystine: Chiếm 1- 2 %, màu trắng ngà, thành phần hầu nh chỉ có
cystine, đôi khi nó kết hợp với sỏi calcium phosphate, thường gặp ở người trẻ,
sỏi cứng, Ýt gặp ở Việt nam.
Trên thực tế, các thành phần này thường phối hợp với nhau để cấu tạo
thành sỏi hỗn hợp. Dựa vào mức độ cản quang sỏi trên phim, màu sắc sỏi có

Sỏi niệu quản hầu hết là do từ thận di chuyển xuống (chiếm 80%), nó
có thể được bài tiết ra ngoài hay mắc lại niệu quản tuỳ thuộc vào kích thước
cuảe sỏi và sự lưu thông của niệu quản. Vị trí sỏi niệu quản có thể ở 1/3 trên,
1/3 giữa hay 1/3 dưới. Số lượng sỏi một hoặc nhiều viên có khi xếp thành
chuỗi trong niệu quản.
1.2.3. Yếu tố dịch tễ bệnh sỏi tiết niệu :[29]
12
Sỏi tiết niệu là một bệnh có liên quan đến các yếu tố dịch tễ (Andersen, 1973).
* Yếu tố di truyền:
Trong nghiên cứu của một số tác giả cho rằng sự hình thành sỏi tiết niệu
trên bệnh nhân có những thay đổi có tính di truyền, liên quan đến việc thiếu
hụt một số gien.
Bệnh nhiễm acid ống thận (Renal tubular acidosis, RTA) là một bệnh di
truyền, mà bệnh này có tỉ lệ mắc sỏi thận và vôi hoá thận cao.
Bệnh sái cystine có tính di truyền, xuất hiện trên bệnh nhân có kiểu gien
lặn đồng hợp tử. Bệnh gây nên bài tiết ra nước tiểu quá mức các acidamin:
cystine, ornithine, lysine, và arginine, nhưng chỉ có cystine là không hoà tan
trong nước tiểu tạo sỏi.
* Tuổi và giới:
Lứa tuổi xuất hiên bệnh nhiều nhất là 30 – 50 tuổi, Còn lứa tuổi mà bắt
đầu hình thành sỏi nhiều nhất là 20, sau đó giảm dần ở những lứa tuổi 30, 40
và 50. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh sỏi niệu tương
đương giữa nam và nữ. Có lý do được nói đến là do bệnh sỏi ở nam giới xuất
hiện triệu chứng thường rầm rộ hơn là nữ giới cho nên tỷ lệ phát hiện bệnh
nhiều hơn.
* Các dị dạng bÈm sinh:
Các dị dạng thường gặp như: hẹp chỗ nối niệu quản bê thận, phình to
niệu quản, niệu quản đôi…là nguyên nhân thuận lợi tạo sỏi, do ứ đọng nước
tiểu và nhiếm khuẩn.
* Địa lý, khí hậu:

thường đái buốt, đái rắt. Đái đục khi sỏi gây biến chứng nhiễm khuẩn, viêm
đường tiết niệu trên.
1.3.2. Chẩn đoán hình ảnh
* Chụp phim hệ tiết không chuẩn bị: Chụp phim hệ tiết niệu không
chuẩn bị được sử dụng từ năm 1896, là bước chẩn đoán hình ảnh thường qui
đầu tiên sỏi thận – niệu quản. Tuy nhiên, phương pháp này không sử dụng
được cho người có thai. Khoảng 90% sỏi cản quang trên phim, vì sỏi có chứa
calcium mật độ cản quang nhiều, chỉ với kích thước 1 – 2mm trên phim còng
có thể nhìn thấy trong khi đó đa phần sỏi là chứa calcium. Sái calcium
phosphate (apatite) cản quang nhất và có mật độ tia như mức độ cản quang
tương tự xương. Sái calcium oxalate cũng cản quang mạnh. Sái Magnesium
ammonium phosphate (struvite) Ýt cản quang hơn và có từng lớp lởm chởm
không đồng đều. Sỏi cystine mật độ cản quang Ýt vì có chứa sulfur, độ dày
khoảng 3-4 mm thì mới nhìn thấy được trên phim. Sỏi không cản quang, sái
acit uric chiếm khoảng 10%.
* Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV): Chụp niệu đồ tĩnh mạch được Swick
thực hiện đầu tiên từ năm 1927, cho đến nay phương pháp này vẫn là một
15
phương pháp đơn giản và cơ bản để đánh giá chức năng bài tiết của thận. Nó
có giá trị đánh giá cấu trúc, hình thể bình thường và bất bình thường của các
đài thận, bể thận, niệu quản, bàng quang, thông qua sự hiện hình của thuốc
cản quang ở từng bộ phận. Xác định được vị trí sỏi trong đường tiết niệu, phát
hiện những bất thường giải phẫu như giãn các đài thận, túi thừa đài thận, thận
đôi, tắc chỗ nối bể thận niệu quản, và các bất thường khác mà nó có thể là
nguyên nhân hình thành nên sỏi niệu .[1],[13]
* Chụp niệu quản bể thận ngược dòng (UPR): dễ dàng phát hiện sỏi
niệu quản không cản quang, phát hiện niệu quản bị gấp khúc, tắc niệu quản do
hẹp…
* Siêu âm hệ tiết niệu: xác định kích thước sỏi niệu quản và mức độ ứ
nước của thận và niệu quản.

Chức năng thận bị ảnh hưởng do sỏi gây tắc niệu quản kết hợp viêm
nhiễm. Thường gặp sỏi niệu quản trên bệnh nhân thận đơn độc, sỏi niệu quản
2 bên, hoặc sỏi niệu quản khi thận bên kia bệnh lý. đây là biến chứng nặng,
khi nước tiểu < 400ml/24 giờ (thiểu niệu), hoặc < 100ml /24 giờ (vô niệu). Vũ
Quỳnh Giao (1997) vô niệu thiểu niệu do sỏi niệu quản 2 bên 41,66%.
1.3.3.4. Suy thận cấp và mãn.
Đây là biến chứng nặng của sỏi niệu quản mà không được giải phóng
niệu quản kịp thời. Tắc niệu quản hoàn toàn cấp tinh, ứ đọng quá mức ở thận,
sỏi niệu quản là nguyên nhân gây phản xạ ngừng bài tiết của thân. Nhiễm
khuẩn tác động đến tính chất bệnh lý của sỏi niệu quản làm tăng nguy cơ suy
17
thận cấp và mãn. Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà mức độ hồi phục của thận
khác nhau.
18
1.4. Các phương páp điều trị sỏi niệu quản
1.4.1. Điều trị nội khoa
Nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực hoá phân tích, đã giúp con ngưòi hiểu
sâu hơn về các thành phần hoá học cấu tạo sỏi tiết niệu. Nhờ đó đã nghiên cứu
ra một số thuốc điều trị bệnh sỏi niệu bằng phương pháp nội khoa.
Điều trị nội khoa khi sỏi niệu quản có kích thước < 5 mm, thận không
bị ứ nước, cơn đau quặn thận đáp ứng với thuốc giảm đau.
Nguyên tắc chung là uống nhiều nước, lợi tiểu, đảm bảo lượng nước
tiểu > 1,5 lit/ ngày, chống nhiễm khuẩn đường tiết niệu, dùng các thuốc giãn
cơ và giảm đau. Tuy nhiên cần theo dõi sát không nên điều trị kéo dài.
Sái urat có thể làm tan được bằng thuốc gây kiềm hoá nước tiểu, vì sỏi
urat có pH nước tiểu < 6, sử dụng natri bicarbonate liều 4 -10g/ giờ, muối citrate,
hoặc kali citrate (Foncitril 4000, hoặc Alcaphor). Sái struvite (magnesium
ammonium phosphate) do nhiễm khuẩn, nước tiểu bị kiềm hoá, điều trị chống
nhiễm khuẩn và làm toan hoá nước tiểu. Sỏi cystin dùng D -pénicillamine để
tăng độ hoà tan của cystine .

Sỏi vỡ vụn trong quá trình di chuyển xuống bàng quang có thể mắc lại
tại niệu quản tạo một chuỗi sỏi vụn (steinsrass), có khi phải kết hợp với tán
sỏi niệu quản nội soi để gắp sỏi vụn ra.
1.4.2.2. Lấy sỏi thận và niệu quản qua da
Lấy sỏi thận qua da lần đầu tiên được Fernstrom và Johnnson báo cáo
năm 1967. Sau đó, Smith cùng cộng sự (1979) cũng có báo cáo lấy sỏi thận và
niệu quản qua một đường hầm qua da. Cho đến nay trên thế giới lấy sỏi thận và
niệu quản qua da đã đóng một vai trò nhất định trong điều trị bệnh sỏi tiết niệu.
20
Chỉ định đối với sỏi niệu quản đoạn trên có kích thước > 25mm. Tán
sỏi ngoài cơ thể thất bại hoặc chống chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể, bất thường
giải phẫu như hẹp tắc niệu quản…
Đầu tiên là đặt ống thông niệu quản, bơm xanh methylen vào đài bể
thận tạo điều kiện thuận lợi cho chọc dò. Không cho sỏi vụn xuống niệu quản,
dùng kim chọc vào đài thận, luồn dây dẫn qua kim chọc dò vào tới đài bể thận
và xuống niệu quản, nong đường hầm, đặt ống nhựa Amplatz trong đường
hầm, đưa ống soi thận qua ống nhựa Amplatz, đồng thời đưa qua đó dụng cụ
tán sỏi niệu quản. Sỏi được phá ra các mảnh nhỏ và được gắp ra ngoài.
Biến chứng phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên và
mức độ phức tạp của sỏi, bao gồm: chảy máu chiếm tỷ lệ 5%, tổn thương do
chọc kim (thủng bể thận, thủng đại tràng, tổn thương màng phổi), nhiễm
khuẩn …
1.4.2.3. Phương pháp tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng
* Sơ lược về phát triển nội soi niệu quản :[30],[31]
Năm 1912, Hugh H. Young là người đầu tiên soi niệu quản bằng ống
soi bàng quang cứng cho một bệnh nhân bị giãn niệu quản do có valve niệu
đạo sau. Năm 1960 hệ thống ống soi của Hopkin đã phát triển, có khả năng
tăng dẫn truyền ánh sáng, ống soi cứng và mềm có kích thước nhỏ giúp dễ
dàng đưa ống soi lên đoạn niệu quản đoạn trên. Goodman (1977) và Lyon
(1978) công bố những công trình đầu tiên về soi chẩn doán 1/3 dưới niệu

đến 4,5F.
Đầu ống soi có thể uốn cong chủ động từ 120
0
– 270
0
.
* Nguồn năng lượng tán sỏi
22
- Sãng thuỷ điện lực (Electro – Hydraulic, EHL): Được biết đến từ năm
1950 – 1960 bởi một kĩ sư người Nga chế ra máy urate.1, Nguyên lí của
phương pháp là sử dụng nguồn phát sóng thuỷ điện lực và điện cực đồng trục,
tạo ra xung động sóng thuỷ lực làm tán sỏi khi tiếp xúc trực tiếp điện cực vào
sỏi.
- Khí nén (Pneumatic): Công ty EMS (Electro Medical Systems)
của Thuỵ Sĩ đã sáng chế ra máy tán có tên Swiss Lithoclast. Nguyên lí của
máy là dùng áp lực hơi phát ra từ máy nén khi, tác động vào thanh kim loại,
đầu thanh kim loại rung lên tác động vào sỏi làm cho sỏi bị phá vỡ ra thành
các mảnh nhỏ.
- Electrokinetic – EKL (điện động lực): Nguyên lí giống như khí
nén, khi có dòng điện chạy qua gây nên dao động cuộn từ, làm cho thanh kim
loại rung lên va đập vào sỏi, sỏi vỡ vụn ra.
- Siêu âm (Ultrasound): Bắt đầu thực hiện năm 1983, dùng sóng
siêu âm làm cho đầu dò kim loại rung lên với tần số cao tác động vào sỏi làm
cho sái tan vôn ra, mảnh sỏi vụn có thể được hút ra ngoài. Hạn chế là điện cực
bằng kim loại cứng không dùng được cho ống soi mềm, thời gian tán lâu .
Đầu dò phải tiếp xúc trực tiếp vào sỏi, để cho tán sỏi hiệu quả trong khi
tán nên cố định sỏi nằm trong rọ. Đầu rò có thể nóng lên trong lúc hoạt động
dễ gây tổn thương bỏng nhiệt niêm mạc niệu quản, vì vậy hút rửa lấy sỏi vụn
trong khi đồng thời có tác dụng làm mát đầu dò .
- Laser: Phương pháp sử dụng năng lượng laser tán sỏi, được giới

Nguyên tắc mổ là lấy hết sỏi, đảm bảo lưu thông đường niệu
1.4.3.2 Mổ nội soi lấy sỏi
Mổ nội soi lấy sỏi niệu quản đoạn trên có 2 đường vào: Qua phúc mạc
và sau phúc mạc. Tuy nhiên qua đường sau phúc mạc ngày càng được lựa
chọn hơn
24
Wickham (1979) là người đầu tiên giới thiệu mổ nội soi lấy sỏi niệu
quản qua đường sau phúc mạc, sau đó Clayman , đặc biệt là Gaur (1992) phát
minh ra phương pháp bơm bóng tạo khoang sau phúc mạc, đã tạo nên một
cuộc cách mạng kỹ thuật cho các nhà niệu khoa. Ưu điểm của phương pháp
của Gaur là dễ làm, cấu trúc giải phẫu vùng lưng rất quen với các phẫu thuật
viên tiết niệu. Dùng ngón tay có thể dễ dàng xác đinh được cực dưới thận và
niệu quản, cho phép đặt được bóng ở nơi cần đặt, có thể mở rộng đường rạch
da dưới sườn thành đường mổ kinh điển nếu phải chuyển mổ mở.
Về vị trí chỉ định mổ nội soi lấy sỏi niệu quản thưòng là ở đoạn 1/3
trên, tuỳ theo kinh nghiệm, ngày nay nhiều tác giả đã thực hiện đối với sỏi ở
vị trí thấp hơn.
Tỷ lệ thành công tuỳ theo các tác giả từ 85 – 98%, tuy nhiên chỉ thực
hiện khi các phương pháp Ýt xâm lấn khác không thực hiện được.
Tỷ lệ biến chứng chung từ của nhiều tác giả từ 9% - 12,9% bao gồm
chảy máu, tràn khí dưới da, nhiễm khuẩn, rò nước tiểu, hẹp niệu quản
1.4.4. Tình hình nghiên cứu tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng tại việt
Nam
Từ năm 1992, bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng
phương pháp tán sỏi niệu quản nội soi. Kết quả tán sỏi cho 129 bệnh nhân,
Đạt tỷ lệ thành công 75,9%, không thành công 24,1%. Bệnh viện đa khoa Cần
Thơ, Đàm Văn Cương báo cáo kết quả tán sỏi niệu quản 1/3 dưới bằng
phương pháp nội soi cho 50 bệnh nhân bằng máy tán sỏi Lithoclast thực hiện
từ năm 1998, đạt kết quả 62%. Năm 2002 Đàm Văn Cương đã nghiên cứu
điều trị sỏi niệu quản1/3 duới bằng phương pháp tán sỏi nội soi cho 70 bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status