I. Đặt vấn đề:
Công nghiệp năng lượng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và cơ bản của
một quốc gia. Là động lực cho các ngành kinh tế, công nghiệp năng lượng được coi như
bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống cơ sở hạ tầng sản xuất. Việc phát triển ngành
công nghiệp này kéo theo hàng loạt các ngành công nghiệp khác như công nghiệp cơ
khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Công nghiệp năng lượng cũng thu hút những
ngành công nghiệp sử dụng nhiều điện năng như luyện kim màu, chế biến kim loại, chế
biến thực phẩm, hoá chất, dệt
Bên cạnh lợi ích về kinh tế như vậy thì quá trình khai thác, vận chuyển các nguồn
năng lượng cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường. Thực trạng nhiều
nguồn tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên dầu khí và những nguồn tài nguyên biển
không tái tạo khác đang bị khai thác quá mức, thiếu tính bền vững, nạn phá hủy rạn san
hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn cũng ngày một tăng ở nhiều nơi trên thế giới. Theo ước
tính, cỏ biển đã mất 30 – 60% và rừng ngập mặn – chiếm 1/3 diện tích rừng thế giới
– mất đến 70% và khoảng 11% các rạn san hô trên toàn cầu đã bị phá hủy hoàn toàn
trước năm 1998. Trong vòng 20 năm qua, các nước Đông Nam Á đã mất đi 12% số rạn
san hô, 48% số rạn san hô khác đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Điều này
không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà còn gây phát sinh nhiều vấn đề
kinh tế-xã hội do sự thiếu hụt thực phẩm cung cấp cho những cư dân sống ở các đảo và
các vùng ven biển, kéo theo những cuộc di dân hàng loạt từ các vùng ven biển vào các
vùng trung tâm…
II. Đánh giá tác động của việc khai thác và sử dụng tới môi trường:
Tài nguyên năng lượng của thế giới rất phong phú và đa dạng. Ngoài nguồn năng lượng
truyền thống như củi, gỗ, than, dầu mỏ, khí đốt, đá cháy, con người đã phát hiện và đưa
vào sử dụng các nguồn năng lượng mới, có hiệu quả cao như năng lượng thuỷ triều, năng
lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, địa nhiệt, năng lượng gió và năng lượng sinh khối
Những tác động về mặt môi trường sinh thái cũng những tiến bộ về khoa học công nghệ
đã làm tăng việc sử dụng các nguồn năng lượng mới.
Năng lượng được chia thành 2 dạng năng lượng tái tạo và năng lượng không tái tạo
1. Năng lượng không tái tạo:
a. Năng lượng hóa thạch:
Không khí ở mỏ than của công ty CP Núi Béo
Dầu mỏ đem đốt cũng gây ra ô nhiễm vì sinh ra nhiều khí như SO
2
, CO
2
. Xe cộ,
máy móc chạy bằng xăng góp phần làm Trái Đất nóng lên, hiệu ứng nhà kính
Đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra các axít như sulfuric, cacbonic và nitric, các chất
có nhiều khả năng tạo thành mưa axít và ảnh hưởng đến các vùng tự nhiên và hủy
hoại môi trường. Các tượng điêu khắc làm bằng cẩm thạch và đá vôi cũng phần
nào bị phá hủy do axít hòa tan cacbonat canxi.
• Ảnh hưởng đến động và thực vật:
Hàm lượng trầm tích cao có thể làm chết cá, lấp nơi sinh sản; giảm xâm nhập của
ánh sáng vào nước; bồi lấp ao hồ; theo nước suối loang ra một vùng nước sông rộng lớn
và làm giảm năng suất của những động vật thủy sinh làm thức ăn cho những loài khác.
Những thay đổi này cũng hủy hoại sinh cảnh một số loài có giá trị và có thể tạo ra những
sinh cảnh tốt cho những loài không mong đợi. Ô nhiễm trầm tích nặng nề nhất có thể xảy
ra trong khoảng từ 5 đến 25 năm sau khi khai mỏ. Ở những nơi không có cây cối thì xói
mòn còn có thể kéo dài đến 50 - 60 năm sau khi khai mỏ.
Khai thác lộ thiên gây ra những tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp đến động, thực vật
hoang dã. Những loài vật di động như thú săn bắn, chim và những loài ăn thịt phải rời
khỏi nơi khai mỏ. Những loài di chuyển hạn chế như động vật không xương sống, nhiều
loài bò sát, gặm nhấm đào hang và những thú nhỏ có thể bị đe dọa trực tiếp.
Các rặn san hô: Sự ô nhiễm dầu có thể dẫn đến tử vong trên diện rộng của san hô
và các động vật đáy không xương sống khác như trai, sò, động vật da gai và loài giáp sát.
Các cặn dầu và các phần dầu nhẹ dễ tan trong nước hơn sẽ làm các loài cá và động vật
không xương sống bị nhiễm bẩn (có mùi), đặc biệt là các loài sống bằng cách ăn lọc. Về
lâu dài, một rặng san hô lớn bị tiêu diệt sẽ dẫn đến việc xói mòn lớp nền của vỉa đá ngầm
do sóng và các sinh vật gây xói mòn sinh học. Đến một mức độ nào đó sự xói mòn bờ
biển trên diện rộng sẽ xảy ra
Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng
sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá, khoảng 70 triệu m3 nước
thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động như
Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả
Dâu mỏ bị tràn ra biển gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đời sống sinh vật biển.
Các hiện tượng tràn dầu, rò rỉ dầu gây nên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng cho môi
trường, như làm hủy hoại hệ sinh thái động thực vật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc
sống con người
Các vụ tràn dầu nghiêm trọng trên thế giới:
- Ngày 16/3/1978 tại biển PORTSALL của Pháp tàu chở dầu Amoco
Cadiz là tràn trên 68 triệu gallon.( 1gallon = 3,78541178 lít).
- Tiếp đó 3/6/1979 tại vịnh Mexico: Giếng tàu thăm dò IXTOC 1 bị vỡ,
tràn ra khoảng 80 triệu gallon dầu thô ra biển. Đến 1/11/1979 đã xảy ra
vụ va chạm giữa tàu BURMAH- AGATE với tàu chở hang Mimosa làm
2,6 triệu gallon dầu tràn ra biển.
- 25/11/1991 nam Kuwait: trong chiến tranh vùng vịnh, Iraq cố tình bơm
khoang 60 triệu gallon dầu thô vào vịnh Ba tư.
- 10/8/1993, vịnh Tampa: Xà lan Bouchard B155, tàu chở hàng Balsa 37
và Xà lan Ocean 255 va vào nhau làm tràn khỏang 336 gallon dầu.
- 15/2/1996 Biển xứ wales: Siêu tàu chở dầu Sea Empress va vào đất liền
tại vịnh Milford Haven, làm tràn 70 triệu lít dầu thô.
- 18/2/2000 ngoài khơi Rio de Janeiro, Brazil: đường ống dẫn dầu bị vỡ
làm tràn 343200 gallon dầu nặng vào vịnh Guanbara.
Vụ tràn dầu tại vịnh Mexico
Về môi trường trầm tích biển,theo chứng minh của các nhà môi trường biển thì
hoạt động cảng biển làm ô nhiễm dầu là khó tránh khỏi. Điều này đã và đang gây sức ép,
tác động tiêu cực tới các hệ sinh thái biển.
• Ảnh hưởng đến môi trường đất:
Chủ yếu do các hoạt động đào bới trong khai thác làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc
các tầng đất, suy giảm chất lượng đất nghiêm trọng, phá hủy hệ sinh thái đất. Khi có mưa
lẫn nước bề mặt. Vì chu kỳ bán rã của nhiều chất phóng xạ quá dài nên để bảo đảm an
toàn, bãi phế liệu phải được củng cố bằng đập đá hay bê-tông. Trong quá khứ, nhiều vụ
vỡ đê bảo hộ khiến hàng ngàn tấn bùn và hàng triệu lít nước ô nhiễm tràn ra ngoài, thí dụ
như ở Hoa Kỳ năm 1977, 1979 và ở Canađa năm 1984.
Sự cố hạt nhân không chỉ xảy ra đối với nhà máy điện hạt nhân khi vận hành, mà
còn tiềm ẩn nguy cơ khi vận chuyển nhiên liệu hạt nhân; đặc biệt là ở khâu xử lý chất thải
hạt nhân (nhiên liệu đã qua sử dụng), có thể gây ô nhiễm môi trường.
Chất thải nhiễm phóng xạ hạt nhân là nguyên nhân dẫn tới sự đột biến gene của động vật
sống trong nước
Các lực lượng đang khắc phục sự cố rò rỉ phóng xạ ở nhà máy
điện hạt nhân Fukushima
2. Năng lượng tái tạo:
Trước tình hình tài nguyên ngày càng
cạn kiệt, môi trường sống bị hủy hoại nghiêm
trọng, việc khai thác sử dụng một nguồn năng
lượng sạch và vô hạn như năng lượng mặt
trời, năng lượng gió…. là một lựa chôn vô
cùng thông minh. Những nguồn nguyên liệu
này không phát thải các chất như: CO
2
,
SO
2
… không gây hại nhiều đến môi trường.
Nhưng bên cạnh những lợi ích đó những
nguồn năng lượng này cũng có ảnh hưởng
đến môi trường.
Tích cực:
Không gây ô nhiễm môi trường. Các nguồn năng lượng này không thải ra CO
2
Nếu tăng cường sử dụng gỗ như một nguồn nguyên liệu sinh khối thì sẽ gây ra những tác
động tiêu cực đến môi trường. khai thác gỗ dẫn đến phá rừng. xóa mòn đất, sa mạc hóa
và những hậu quả nghiêm trọng khác.
Việc xây dựng các nhà máy phát điện có thể ảnh hưởng đến sự ổn định nền đất của khu
vực xung quanh.
• Ảnh hưởng đến các hệ sinh thái:
Việc đặt turbin điện gió ngoài khơi làm tăng độ ồn và độ rung trong nước biển.
Việc lắp đặt dây cáp dẫn điện có thể xáo trộn sự sinh sống của những sinh vật sống
dưới biển cũng như hệ sinh thái biển.
Xây dựng các đạp chắn thủy triều tại cửa sông làm thay đổi mực thủy triều ở lưu
vực sông.
Bên cạnh các khí hòa tan, nước nóng từ nguồn địa nhiệt có thể chứa các nguyên tố
vết nguy hiểm như thủy ngân, arsen và antimon nếu nó được thải vào các con sông sẽ
gây ô nhiễm sông.
• Ảnh hưởng đến động, thực vật:
Xây dựng các đập chắn thủy triều làm ảnh hưởng tới sự di chuyển của các sinh vật
dưới nước, nhiều loại sinh vật sống dưới sâu có thể bị chết bởi các turbin. Phá hủy nơi
sinh sống của các loài động thực vật ở gần đập.
Sử dụng quạt gió có thể làm thay đổi dòng không khí, ảnh hưởng đến các loài chim
lưu trú.
Theo báo cáo năm 2005 do Hiệp hội Bảo vệ thiên nhiên của nước Đức thực hiện thì
mỗi năm có khoảng 5 triệu trường hợp chim và các loài động vật bị tai nạn do va chạm
vào đường dây tải điện
Lắp đặt chân đế và đóng trụ trên nền biển có thể ảnh hưởng đến sự sinh sống của cá
voi và cá heo
• Ảnh hưởng đến không khí:
Trong quá trình khai thác năng lượng đại nhiệt các dòng nước nóng được bơm lên
từ dưới sâu trong lòng đất có thể chứa một vài khí đi cùng với nó như điôxít
cacbon và hydro sunfua. Khi các chất ô nhiễm này thoát ra ngoài môi trường, nó sẽ góp
phần vào sự ấm lên toàn cầu, mưa axít, và các mùi độc hại đối với thực vật xung quanh