******************
ĐỀ TÀI :
SUY THỐI KINH TẾ
TỒN CẦU VÀ PHẢN
ỨNG CỦA VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : GV QCH DOANH NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN CHÍ HIẾU TCNN1
VŨ THÀNH NAM TCNN1
LƯƠNG BÁ TỒN TCNN1
TRẦN THỊ KIM HUỲNH TCNN2
PHẠM THỊ HỒNG MẾN TCNN3
NGUYỄN HỮU MINH CƯỜNG TCNN3
Thành phố Hồ Chí Minh 4/2009
Mục lục Trang
Phần I: Suy thối kinh tế 1
I Định nghĩa 1
II Ngun nhân 3
Phần II: Khủng hoảng kinh tế Mỹ 3
I Tám cuộc suy thoái 3
II Đại suy thoái 12
II Khủng hoảng tài chính Mỹ và ảnh hưởng 14
1. Nhiều ngành kinh tê gặp khó khăn 14
2. Thâm hụt ngân sách nghiêm trọng 15
3. Những mốc chính của cuộc khủng hoảng 16
4. Nguyên nhân 20
IV Ảnh hưởng của cộc khủng hoảng tài chính
Mỹ đối với Việt Nam
Phần III Khủng hoảng tài chính Châu Á 28
I Khủng hoảng kinh tế châu á – 1 góc nhìn 28
II Nguyên nhân 30
III Diễn biến chính 32
tế (lý thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậm chí là tạo ra chu kỳ kinh tế
(chủ nghĩa tiền tệ).
Vậy để hiểu được quá trình suy thoái này, chúng ta cần hiểu được chu kỳ
kinh tế là như thế nào?
Chu kỳ kinh tế, hay là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP
thực tế theo trình tự ba giai đoạn: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng
nổ). Có quan điểm cho rằng giai đoạn phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh
doanh chỉ gồm hai giai đoạn chính là suy thoái và hưng thịnh.
Các pha của chu kỳ kinh tế:
- Suy thoái là giai đoạn mà GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản,
người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm
suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
- Phục hồi là giai đoạn trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay
trước suy thoái. Thời điểm tiếp giao giữa 2 giai đoạn này gọi là đáy của chu
kỳ.
- Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc
suy thoái, nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng
nổ).
Dấu hiệu thường thấy nhất là chỉ số chứng khoán có chiều hướng đi lên,
sau đó là bất động sản có chiều hướng ổn định và lên dần… tiếp tới là chỉ số
tiêu dùng. Chính vì vậy người ta thường đầu tư chứng khoán vào lúc này, thị
trường trở nên lạc quan.
Kết thúc giai đoạn hưng thịnh lại bắt đầu đợt suy thoái mới. Điểm giao tiếp từ
giai đoạn hưng
thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
thịnh
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế
khi nền kinh tế đã sang giai đạon kế tiếp với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng
GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà
kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu
trưởng” hoặc lạm phát. Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những
thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên
nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém.
PHẦN II. KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ
I. 8 cuộc suy thoái.
1. Suy thoái đầu năm 2000
Sự đổ vỡ của các tập đoàn công nghệ trong khủng hoảng chấm com, vụ
tấn công khủng bố ngày 11/9 và những lộn xộn trong kiểm toán đã châm ngòi
cho giai đoạn suy thoái đầu thế kỷ 21. Cuộc suy thoái kinh tế tại Mỹ trong ba
năm (2001-2003) không chỉ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Mỹ, mà còn tới
nhiều quốc gia châu Âu khác.
Theo Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER), sau 10 năm phát triển,
quãng thời gian mở rộng dài nhất của kinh tế Mỹ, việc nước Mỹ bước vào suy
thoái vào đầu những năm 2000 đã được dự báo trước. Bắt đầu từ sự đổ vỡ
hàng loạt của các tập đoàn công nghệ, kinh tế Mỹ tiếp tục bị giáng một đòn
mạnh khi vụ khủng bố ngày 11/9/2001 nổ ra, khiến chỉ số công nghiệp Dow
Jones và các chỉ báo chính của thị trường chứng khoán trải qua tuần tồi tệ nhất
trong lịch sử.
Dự đoán trước diễn biến tại Mỹ, các nước châu Âu đã giới thiệu đồng
tiền chung Euro vào ngày 1/1/1999. Tuy nhiên, suy thoái vẫn khiến đồng euro
giảm mạnh, cho đến năm 2001 đây vẫn là một đồng tiền yếu, và chỉ mạnh trở
lại sau năm 2002.
2. Suy thoái cuối thập kỷ 90
Ngày thứ hai đen tối, tháng 9/1987, đà sụt giảm chưa từng có 22,6% trên
chỉ số Dow Jones là phát súng báo hiệu thời kỳ suy thoái tồi tệ nước Mỹ. Chỉ
trong ba năm, sự sụp đổ của thị trường tín dụng và cho vay đã đe dọa tới ‘túi’
tiền tiết kiệm của hàng triệu người dân. Theo đó, các cường quốc chịu nhiều
thành viên OAPEC (gồm tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập
và Syria) thực hiện cấm vận dầu mỏ với Mỹ và các quốc gia ủng hộ Israel
trong cuộc chiến với Ai Cập và Syria.
Trước đó vào năm 1971, việc Mỹ rút khỏi Chế độ tiền tệ Bretton Woods
(hệ thống quy định chung giữa các cường quốc) trong đó giá vàng chỉ được
neo giữ duy nhất bằng đôla với giá 35 đôla một ounce, và tiến hành thả nổi
đồng USD là tiền đề cho cuộc khủng hoảng này.
Lý do là hệ thống Bretton Woods đã giới hạn hoạt động chi tiêu của
nước Mỹ và thế giới do lượng vàng là có hạn trong khi nhu cầu sử dụng tiền
lại lớn hơn rất nhiều. Việc Mỹ in tiền phục vụ cho việc tài trợ Chiến tranh Việt
Nam hoặc viện trợ các nước khác đã khiến đôla mất giá, dĩ nhiên đi kèm lạm
phát.
Trong giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ, tại nhiều bang mỗi người dân chỉ
được phép mua một lượng xăng dầu nhất định. Để xóa bỏ sự bất hợp lý trên,
vào tháng 8/1971 Tổng thống Nixon đã phải rút hẳn khỏi hệ thống Bretton
Woods và tiến hành thả nổi đồng tiền. Điều chỉnh trên khiến thu nhập của các
nước xuất khẩu dầu giảm rõ rệt, theo đó các nước này buộc phải có điều chỉnh
để tăng giá dầu.
Hậu quả của việc cấm vận dầu lửa là giá dầu tại thị trường thế giới đã bị
đội lên gấp 5 lần từ dưới 20 USD/thùng năm 1971 lên 100 USD/thùng năm
1979. Giá xăng trung bình tại Mỹ cũng tăng 86% chỉ trong một năm từ 1973-
1974.
Cuộc khủng hoảng đồng thời tác động xấu đến thị trường tài chính,
chứng khoán toàn cầu, vốn đã chịu nhiều áp lực sau sự sụp đổ của Chế độ
Bretton Woods. Thị trường chứng khoán Mỹ bốc hơi 97 tỷ đôla, con số quá
khổng lồ vào thời điểm đó, chỉ sau một tháng rưỡi. Suy thoái và lạm phát gây
ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia khác cho đến tận thập niên 80.
Khủng hoảng dầu mỏ đã tạo ra thay đổi lớn trong chính sách của
phương tây, trong đó chú trọng tìm kiếm và bảo tồn năng lượng tự nhiên, cũng
như đặt ra các quy định tiền tệ chặt chẽ hơn để chống lạm phát.
Chính các biện pháp mạnh tay trên đã tạo sự bi quan trong dân chúng, dẫn đến
giảm chi tiêu, tăng tiết kiệm - gây suy giảm tổng cầu của nền kinh tế.
7. Suy thoái năm 1949
Lần suy thoái này của nước Mỹ bắt nguồn từ những bước tiến thần tốc
của giai đoạn hồi phục kinh tế sau chíến tranh thế giới. Tính tới đầu năm 1949,
nước Mỹ chiếm tới 50% tổng sản lượng nông nghiệp toàn thế giới, trước chiến
tranh thế giới con số này chỉ là 30%, tỷ lệ thất nghiệp của nước Mỹ cũng ở
mức thấp kỷ lục khi gần như 100% người lao động có việc làm.
Năm 1949 chính là giai đoạn kinh tế Mỹ đạt đỉnh của chu kỳ tăng
trưởng sau chiến tranh. Cũng từ thời điểm này, ngoại trừ lương thực, nhu cầu
tiêu thụ hàng hóa nói chung của nước Mỹ đã trở nên bão hòa do hàng hóa
được sản xuất nhiều tới mức thừa mứa.
Dù Tổng thống Truman cũng như nội các của ông đã dự đoán được rủi
ro từ lạm phát cũng như những bất ổn kinh tế, nhưng lãnh đạo nước Mỹ lại
không tính tới lạm phát gia tăng tại phần còn lại của thế giới. Dù hậu quả của
cuộc suy thoái 1949 là không quá tồi tệ nhưng nó cũng đủ gây trì trệ kinh tế,
khiến nhiều doanh nghiệp phá sản cũng như tỷ lệ thất nghiệp leo thang.
8. Đại suy thoái năm 1930
Cuộc đại suy thoái hay còn gọi là đại khủng hoảng diễn ra cách đây đã
gần 8 thập kỷ nhưng vẫn ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất
trong lịch sử hiện đại. Bắt đầu vào năm 1929 và kết thúc vào thởi điểm chuyển
giao giữa hai thập niên 30 và 40, cuộc suy thoái có sức ảnh hưởng hủy diệt tới
kinh tế toàn cầu, cả những nước phát triển và đang phát triển.
Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu
nhập cá nhân, hoạt động tiêu dùng, thị trường lao động, lạm phát đều chịu ảnh
hưởng xấu. Các nước phụ thuộc nhiều vào công nghiệp chịu tác động sâu sắc
Nguyên nhân
Các cuộc tranh luận, bàn thảo liên tục diễn ra để tìm ra nguyên nhân
của khủng hoảng phố Wall. 10 năm trước đó, cổ phiếu tăng gấp 4 lần, vì thế nó
có dấu hiệu là những cổ phiếu bong bóng giống như tần số radio.
Với luật lệ lỏng lẻo và rất ít quy định về giao dịch trong nước, các nhà
đầu tư có thể "lừa đảo” tự tăng giá trị cổ phiếu, và các công ty có thể chiếm
một vị trí tại các công ty khác mà không cần đầu tư bất kỳ một tài sản nào.
Các cá nhân có thể mua cổ phiếu dự trữ bằng việc vay tiền những
người nắm cổ phiếu khác của họ.
Ngân hàng Trung ương, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã giữ mức lãi
suất đến mức thấp chưa từng có trong nhiều năm liền để ủng hộ đồng Sterling
của Anh- khiến giá vàng tăng vọt.
Hậu quả?
Hậu quả là đã xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc. Phố Wall
chao đảo với đợt sụt giảm mạnh về sản lượng kinh tế, và cuối cùng lan sang
toàn thế giới.
Kinh tế Mỹ suy thoái mất 1/3, tỷ lệ thất nghiệp chiếm 25%, và ngày
càng có nhiều lao động không có việc làm. Thêm vào đó, hệ thống ngân hàng
của Mỹ phải đóng cửa hoàn toàn. Hành động đầu tiên từ chính quyền mới của
ông Roosevelt là đóng cửa tất cả các ngân hàng trong 2 tuần, trong khi để các
điều tra viên liên bang kiểm kê sổ sách của họ.
Không trợ cấp thất nghiệp, không sự giúp đỡ của chính phủ, thu nhập
của người lao động sụt giảm thảm hại, gây hậu quả nghiêm trọng đến năng lực
tiêu dùng và dẫn tới phản ứng dây chuyền với hàng loạt nhà máy phải đóng
cửa.
Hầu hết các nhà quan sát tin rằng chính các nhà hoạch định chính sách
đang khiến cho cuộc khủng hoảng thêm trọng hơn vì áp dụng chính sách thắt
Tại thời điểm cao trào nhất, chính phủ Mỹ vay 1 nửa số tiền trong
ngân sách mà chủ yếu là tiền đóng thuế để phục vụ cho chiến tranh.
Bài học nào rút ra cho cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay?
Có 3 bài học chính mà các nhà lập pháp đang áp dụng cho cuộc khủng hoảng
hiện nay:
- Thứ nhất, các thị trường tài chính, ngân hàng và nền kinh tế thực sự có
mối liên kết biện chứng với nhau, vì vậy nếu những trở ngại đó mà không
được giải quyết, nó sẽ lan sang nhiều lĩnh vực khác.
- Thứ hai, sự can thiệp nhanh chóng và chủ động của chính phủ nhằm
xoa dịu những áp lực lên nền kinh tế là vô cùng cần thiết trong suốt thời kỳ
khủng hoảng kinh tế. Phản ứng chập chạp và có khả năng sai lầm của chính
phủ Mỹ và các ngân hàng trung ương trong những năm 1930 khiến cho tình
hình càng trở nên tồi tệ.
- Và thứ ba, đó là mối nguy hiểm của việc thiếu sự quản lý. Năm 1933,
cuộc khủng hoảng tài chính càng trở nên tồi tệ là do trong suốt 5 tháng liền
diễn ra cuộc bầu cử tổng thống mới và việc ông nhận chức vị mới nắm chính
quyền.
Đây là lý do có thể giải thích tại sao cả hai ứng của viên tổng thống
ông McCain và Barack Obama đều ủng hộ cho kế hoạch giải cứu của chính
quyền Bush mặc dù còn có rất nhiều nghi ngờ.
III. Khủng hoảng tài chính Mỹ và những ảnh hưởng.
Bước vào năm 2007, nhiều nhà phân tích dự báo năm nay kinh tế Mỹ sẽ
chỉ đạt mức tăng trưởng 2,3%, thấp nhất trong vòng 5 năm qua.
Và mức này thậm chí thấp hơn 1% so với năm 2006, do Mỹ đang phải
đối mặt các khó khăn như thâm hụt ngân sách lớn, thị trường bất động sản
đóng băng, nguy cơ khủng bố cao
Các chuyên gia kinh tế của Cơ quan dự báo kinh tế quốc tế Global
mục tiêu trong năm 2007, kinh tế Mỹ sẽ phát triển và đạt mức tăng trưởng là
3% năm 2008.
Trong tuần đầu năm 2007, đồng USD đã giảm giá xuống mức thấp nhất
so với đồng Euro và đồng USD cũng đã giảm giá so với toàn bộ 16 đồng tiền
chủ chốt khác đang được giao dịch tại thị trường New York.
FED đã giữ nguyên lãi suất cơ bản 5,25% kể từ tháng 6/2006, sau 2 năm
tăng liên tiếp. Tuy nhiên, 16 trong số 22 nhà kinh tế được hãng tin tài chính
Bloomberg thăm dò tỏ ý tin rằng FED sẽ cắt giảm lãi suất cơ bản xuống mức
4,75% vào cuối năm nay.
2. Thâm hụt ngân sách nghiêm trọng
Trong khi ngân sách Liên bang Mỹ đang thâm hụt nghiêm trọng, thì một
vấn đề đáng chú ý của kinh tế Mỹ là ngành nông nghiệp ngốn quá nhiều trợ
cấp và có thể phá sản nếu không có trợ cấp của Chính phủ.
Chỉ tính riêng trong năm 2005, Chính phủ Mỹ đã trợ cấp khoảng 15 tỷ
USD để hỗ trợ về thu nhập, trợ giá giống cây trồng cho nhà nông Mỹ và riêng
trong năm 2005, khoản trợ cấp dành cho nông nghiệp của Chính phủ tăng vọt
lên 25 tỷ USD.
Trong thời gian từ năm 1989 đến 2003, phần tiền trợ cấp của Chính phủ
cho các gia đình nông dân có thu nhập hàng năm từ 500.000 USD trở lên, đã
từ 13% lên 32% tổng ngân sách trợ cấp.
Một vấn đề nan giải của Mỹ là thâm hụt ngân sách quá lớn. Quốc hội
lưỡng viện Mỹ do Đảng dân chủ chiếm đa số và Tổng thống Bush đang bất
đồng về các giải pháp cân bằng ngân sách liên bang.
Trong bài viết đăng trên "Nhật báo phố Wall" ngày 3/1, ông Bush cho
rằng, chính sách cắt giảm thuế của ông đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Mỹ
phát triển mạnh trong thời gian qua, trong khi thâm hụt ngân sách của Mỹ
đang từng bước được cắt giảm.
Trong khi đó, Chủ tịch Hạ viện Mỹ, bà Nancy Pelosi lại nói tới khả
năng đưa ra dự luật tăng thuế đối với những người có thu nhập trên 250.000
USD/năm. Đảng Dân chủ cũng đang gây sức ép đòi áp dụng chế độ thuế bất
trường bất động sản tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè
năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh
doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường.
Năm 2006: Thị trường bất
động sản tiếp tục suy giảm. Giá
giảm, kinh doanh bất động sản,
dẫn đến một lượng nhà dư thừa
đáng kể. Chỉ số Xây dựng Nhà ở
tại Mỹ hồi giữa tháng 08 giảm hơn
40% so với một năm trước đó.
Năm 2007: Kinh doanh bất
động sản tiếp tục thất bại. Số
lượng nhà tồn ước tính cao nhất từ
năm 1989. Ngành kinh doanh bất
động sản suy giảm với hơn 25 tổ
chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố
phá sản. Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79%
từ năm 2006. Thư ký bộ tài chính Mỹ gọi bong bóng bất động sản lần này là
“mối nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế”.
- Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15
trong số các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô
la thời điểm quý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản.
- Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn
nhất Mỹ, tuyên bố phá sản.
- Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần
đầu tiên trong lịch sử.
- Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng
khoán dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các
danh mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân
hàng Trung Quốc. Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà. Cục
Fannie Mae và Freddie Mac
- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ
đô la.
- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản. Ngay sau đó, 3 loại chỉ số
ở Mỹ bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất
kể từ sau sự kiện 11/9/2001.
- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp
công ty này tránh phá sản.
- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson
trị giá 700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính
và nợ tín dụng. Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này.
- Ngày 26/9: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhẩt
Mỹ được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase&
Co với giá 1.9 tỷ đôla
- Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính
Mỹ do bộ Tài chính Mỹ đề xuất.
- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân
hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ
cho đối thủ Citigroup.
Danh sách các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong
cuộc khủng hoảng Mỹ:
Tên Quy mô Thiệt hại Giải pháp
1
Lehman Brothers
Tổng tài sản: 639 tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ phần:
$22490 tỷ đôla
Số lượng nhân viên: 26200
người
3
AIG
Tổng tài sản: 1,05 nghìn tỷ
đôla
Tổng vốn góp ổ phần 78,09
tỷ đôla
Số lượng nhân viên: 116.000
người
Xếp thứ 6 trong danh sách
Global 2000 (các công ty lớn
nhất thế giới)
Cổ phiếu mất giá
60% vào ngày
16/09/2008
Thua lỗ 6 tháng đầu
năm 2008: 13,2 tỷ
đôla
16/09/2008: Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (FED) cấp tín dụng 80
tỷ tương đương 79,9 % cổ phần
4
Countrywide
Financial
Tổng tài sản: 211 tỷ đôla
Là tập đoàn chiếm 20% tổng
thế chấp của Mỹ, tương
đương 3,5 GDP
Tổ chức tiết kiệm và cho vay
Thua lỗ (2007): 2,5 tỷ
đôla
chức thế chấp lớn thứ 7 ở
Hoa Kỳ
Tiền gửi khách hàng:
19 tỷ đô
Chi phí 8,9 tỷ đô cho
bảo hiểm tiền gửi
Chi phí 541 triệu đô
cho các khoản tiền
gửi vượt mức bảo
hiểm
11/07/2008: Tập đoàn Bảo hiểm
Tiền gửi Liên bang Mỹ FDIC tiếp
quản
7
Freddie Mac
Tổng tài sản: 794,4 tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ phần: 26,7
tỷ đôla
Số lượng nhân viên: 5.281
ngườich
Là công ty công lớn thứ 20
trên thế giới
là công ty tài chính lớn thứ 2
về thế chấp tại Mỹ
Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ
đôla
Thua lỗ quý II/2008:
821 triệu đôla
07/09/2008: FED kí hợp đồng bỏ
ra 1 tỷ đô hỗ trợ cho Freddie
03/2007)
Giá trị thị trường
giảm xuống còn 55
triệu đôla
Nộp đơn phá sản theo chương 11
Luật Phá sản Mỹ
10
Ameri Bank
Tổng tài sản: 115 triệu đôla Tiền gửi khách hàng:
102 triệu đôla
Chi phí 42 triệu đôla
cho quỹ bảo hiểm tiền
19/09/2008: Tập đoàn Bảo hiểm
Tiền gửi Liên Bang Mỹ FDIC
tiếp quản
gửi
11
Washington
Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ đôla
Washington Mutual là ngân
hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ
Thua lỗ 53 tỷ đôla để
từ tháng 6 và 17 tỷ
đôla trong 2 tuần gần
đây
26/09/2008: Chính phủ tiếp quản
và sau đó bán lại cho JP Morgan
Chase & Co với giá 1,9 tỷ đôla
12
dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán
sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro
nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên
quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo
các khoản lỗ kinh doanh.
Bảng cân đối tài sản ngân hàng Mỹ vào cuối tháng 12 năm 2007
Tích sản (asssets) Tiêu sản (liabilities)
Cho vay 6,8 Tiêu sản 10,7
Chứng khoán 4,8 Vốn tự có (equity) 0,9
Trong đó dưới chuẩn 0,7
Tổng tích sản 11.6 Tổng tiêu sản 11,6
* Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu
đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt
bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá giảm
đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí,
còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn.
Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked
short sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo
kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ
phiếu. Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo than: “Họ giống
như kẻ hôi của sau một cơn bão”.
* Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân
hàng đầu tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty
này. Các ngân hàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành
CK để vay tiền. Danh mục cho vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định
mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình. Có loại
CK không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn.
vay nhưng người vay được chọn lọc, phải có thu nhập cao và NH trực tiếp
kiểm soát nợ vay.
Cũng có NH dùng vốn ngắn cho vay dài hạn BĐS, đã được NH Nhà
nước cảnh báo từ cuối năm 2007 và chấn chỉnh khi thực hiện thắt chặt tiền tệ.
Điều quan trọng là tỉ trọng cho vay BĐS không lớn, tại TP.HCM khoảng 11%
tổng dư nợ nhưng gồm cả cho vay làm nhà xưởng, khu công nghiệp, nhà ở
IV. ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐỐI
VỚI VIỆT NAM
Cuộc khủng hoảng thế kỷ” của nền kinh tế Mỹ rõ ràng đã và đang tác động
mạnh mẽ đến nền kinh tế trên thế giới, kéo theo đó là các cuộc khủng hoảng
với quy mô rộng trên thị trường chứng khoán, bất động sản, tài chính, tín
dụng đang có nguy cơ bùng nổ. Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế nhận định:
Cuộc khủng hoảng mới chỉ tác động ở một mức độ chậm chưa đủ mức có thể
làm “khuynh đảo” đối với nền kinh tế Việt Nam, vấn đề ở chỗ Việt Nam cần
có một chính sách tiền tệ đúng đắn để thoát khỏi vòng xoáy của cuộc khủng
hoảng này.
1. Tài chính – Ngân hàng:
Bộ Tài chính khẳng định, biến động của thị trường tài chính Mỹ chưa ảnh
hưởng đến thị trường bảo hiểm Việt Nam, trong đó hai công ty bảo hiểm của
AIG vẫn hoạt động bình thường, đáp ứng được các quy định về vốn và khả
năng thanh toán. Hơn nữa, do AIG mới chiếm 5,5% thị phần nên không có khả
năng làm đảo lộn thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong khi đó Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam khẳng định, Công ty tiếp nhận Tập đoàn Chinfon của Đài
Loan, cũng đang tiến hành giải quyết những khoản nợ của Ngân hàng Chinfon
Việt Nam theo đúng thủ tục.
Theo nhận định của các Bộ hữu quan, thì cuộc khủng hoảng ở Mỹ sẽ ít ảnh
hưởng trực tiếp đến thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng của Việt Nam vì
thị trường tài chính Việt Nam chưa có sự liên thông với thị trường tài chính
Mỹ và các nước phát triển khác.
Các ngân hàng thương mại hoạt động bình thường vì không có các mối liên hệ