Các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và khuyến nghị cho việt nam - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
LÝ HOÀNG PHÚ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI
KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI- 2013
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngoại Thương
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
2. PGS, TS Vũ Chí Lộc
Phản biện 1: …………………………………………………………….
Phản biện 2: …………………………………………………………….
Phản biện 3: …………………………………………………………….
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Trường họp tại
Trường Đại học Ngoại Thương
Vào hồi… giờ… ngày… tháng… năm……
Có thể tìm hiểu Luận án tại: Thư viện Quốc gia
Thư viện Trường Đại học Ngoại Thương
Đ. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ KẾT
QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 35/2009, “Khủng hoảng tài chính: thách
thức với các nước ĐPT”.
2. Tham luận Hội thảo Khoa học quốc tế tại Trường Đại học Ngoại Thương
tháng 9/2009, “FDI into Viet Nam and response to the new economic
context”.
3. Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 41/2010, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
các nước ĐPT trong khủng hoảng: thực trạng và giải pháp”.

triển kinh tế. Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác động từ các yếu
tố mang tính dài hạn như quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân
đầu người, trình độ lao động nên thường được đánh giá cao hơn đầu tư gián tiếp cũng như
có vai trò lớn hơn đối với sự tăng trưởng bền vững và dài hạn của các nền kinh tế. Việc
xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới luồng vốn này trong bối cảnh
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu có ý nghĩa rất quan trọng đối với các
nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước ĐPT trong đó có Việt Nam. Điều này càng có
ý nghĩa quan trọng hơn trong bối cảnh các nước ĐPT ngày càng đóng vai trò quan trọng
hơn trên bản đồ kinh tế thế giới. Bởi vậy, NCS đã chọn đề tài «Các yếu tố tác động tới
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT trong bối cảnh khủng hoảng tài chính,
suy thoái kinh tế toàn cầu và các khuyến nghị cho Việt Nam» làm đề tài luận án tiến sĩ
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của Luận án
Trên cơ sở làm rõ các yếu tố tác động lên dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
nước phát triển và phân tích thực trạng các yếu tố tác động tới FDI vào các nước ĐPT
trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, Luận án bổ sung vào
lý luận về đầu tư nước ngoài, đặc biệt là lý luận về các yếu tố tác động tới dòng vốn và
đề xuất các khuyến nghị cụ thể cho Việt Nam nói riêng nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát
huy mặt tích cực của các yếu tố tác động và cuối cùng nhằm tăng cường thu hút nguồn
vốn FDI trong những lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào các nước ĐPT trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu. Các yếu tố tác động tới FDI này được chia thành các yếu tố kinh tế và các yếu tố
phi kinh tế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án
 Về mặt nội dung: Luận án giới hạn ở việc nghiên cứu các yếu tố tác động tới đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các nước phát triển được chia thành các yếu tố tác động
chung tới tất cả các nước ĐPT như bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh

đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT cùng với các phân tích cụ thể về sự biến
động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thế giới các nước ĐPT trong những
năm đầu của thế kỷ XXI.
Thứ ba, thông qua công cụ kinh tế lượng tác giả cũng muốn chỉ ra được mức độ
ảnh hưởng của các yếu tố tác động này tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
nước này thông qua một mô hình nghiên cứu độc lập với các dữ liệu thực tế. Đặc biệt,
Luận án làm rõ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới
đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT trong những năm gần đây. Ảnh
hưởng này cũng được lượng hóa trong mô hình hồi qui được phân tích trong Luận án.
Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố tác động lên dòng vốn đầu tư nước ngoài
vào các quốc gia ĐPT trên thế giới trong đó có Việt Nam, Luận án đề xuất một số
khuyến nghị đối với Việt Nam (liên quan đến các yếu tố có ảnh hưởng tới việc thu hút
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) để tăng cường thu hút hiệu quả dòng vốn trong
bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới với một tầm nhìn trung hạn đến năm
2030.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của Luận án là chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Để hoàn thành Luận án, các phương pháp nghiên cứu
tổng hợp dưới đây cũng được sử dụng như: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp toán học, phương pháp mô
hình hóa, đồ thị hóa và đặc biệt là phương pháp hồi qui kinh tế lượng.
Trong mối quan hệ với phương pháp nghiên cứu, để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
trong Luận án, nghiên cứu sinh thu thập dữ liệu từ ba nguồn chủ yếu. Nguồn dữ liệu
chính về dòng vốn FDI vào các nước ĐPT được thu thập từ các Báo cáo đầu tư thế giới
3
của UNCTAD. Nguồn dữ liệu thứ hai được lấy từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới.
Nguồn cơ sở dữ liệu này được phục vụ để chạy mô hình kinh tế lượng trong chương 2
của Luận án. Các dữ liệu liên quan đến dòng FDI đăng ký hằng năm, chỉ số kiểm soát
tham nhũng, ổn định chính trị, GDP đầu người, quy mô dân số… được lấy từ cơ sở dữ
liệu thứ hai này. Ngoài ra, các số liệu về dòng vốn FDI qua các năm tại Việt Nam được

1.1. Các nghiên cứu lí luận
Các nghiên cứu lí luận chủ yếu đề cập đến các yếu tố thúc đẩy nhà đầu tư nước
ngoài thực hiện hành vi đầu tư trực tiếp. Mặc dù số lượng các nghiên cứu kinh tế thuần
túy là khá phong phú, nhưng có thể chia thành các nhóm chính gồm các lý thuyết xoay
quanh yếu tố tư bản, các lý thuyết liên quan tới thương mại quốc tế, các lý thuyết về chi
phí và tổ chức công nghiệp và các lý thuyết liên quan tới chu kỳ sản phẩm và một vài
định hướng khác.
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm
Trong phần này, nghiên cứu sinh trình bày tổng quan về các nghiên cứu thực
nghiệm, chủ yếu tiếp cận theo hướng vĩ mô. Các nghiên cứu này xác định những yếu tố
tác động tới FDI như quy mô thị trường khả năng chi trả, chất lượng và giá cả của lao
động, mở cửa kinh tế…, phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này trong các mô
4
hình định lượng. Nghiên cứu sinh tổng hợp các kết quả chính của các nghiên cứu ở nước
ngoài trước đó liên quan đến FDI vào các nước ĐPT trên thế giới, liên quan đến FDI
vào Việt Nam và các nghiên cứu ở Việt Nam với tiêu biểu là các Luận án được thực
hiện trước đây.
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
Không có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam nghiên cứu về các yếu tố tác động tới FDI,
đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đề cập trực tiếp tới các yếu tố tác động đối với FDI vào
các nước ĐPT. Nếu theo hướng nghiên cứu có liên quan, có nhiều khóa luận tốt nghiệp
đã đề cập đến việc cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam nhằm đẩy mạnh thu hút FDI,
một số Luận án có nghiên cứu chi tiết hơn về môi trường đầu tư, các yếu tố tác động tới
FDI vào Việt Nam như Luận án của Triệu Hồng Cẩm (bảo vệ năm 2003), luận án của
Nguyễn Thị Ái Liên (bảo vệ năm 2011).
C. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG
HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản

vĩ mô của thế giới, tình hình hội nhập quốc tế, bối cảnh chính trị quốc tế, các thảm họa
thiên nhiên có quy mô quốc tế
- Các yếu tố liên quan tới việc thúc đẩy FDI từ góc độ chủ đầu tư : Đối với loại FDI
tìm kiếm thị trường gồm có quy mô thị trường tại nước tiếp nhận đầu tư, khả năng chi
trả tại nước tiếp nhận đầu tư, khả năng tiếp cận thị trường: vị trí địa lí (khoảng cách giữa
hai nước), khung chính sách liên quan đến FDI tại nước tiếp nhận đầu tư và nước chủ
đầu tư, các yếu tố khác như tham nhũng, ổn định chính trị, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
tại nước tiếp nhận đầu tư…Đối với loại FDI tìm kiếm tài nguyên, các yếu tố sau sẽ có
tác động tới quyết định của chủ đầu tư : Lao động chất lượng cao tại nước tiếp nhận đầu
tư, nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có tại nước tiếp nhận đầu tư, khung chính sách liên
quan đến FDI tại nước tiếp nhận đầu tư và nước chủ đầu tư, các yếu tố khác… Đối với
loại FDI tìm kiếm hiệu quả kinh tế, yếu tố Chi phí lao động rẻ tại nước tiếp nhận đầu tư
và sự sẵn có và khả năng áp dụng công nghệ, trình độ đội ngũ lao động tại nước tiếp
nhận đầu tư sẽ là các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc thúc đẩy loại FDI này.
Ngoài ra, thông qua FDI, các chủ đầu tư có thể góp phần nâng cao uy tín chính trị, vị thế
của quốc gia trên trường quốc tế. Chính vì vậy, việc đầu tư ra nước ngoài trong nhiều
trường hợp được khuyến khích đặc biệt bởi các chính phủ nước chủ đầu tư.
Bảng 5: Tổng hợp về các yếu tố tác động tới FDI từ góc độ nhà đầu tư- yếu tố đẩy
Yếu tố tác động tới việc thúc đẩy hoạt động FDI
Nhằm tìm kiếm thị
trường
Nhằm tìm kiếm tài nguyên Nhằm tìm kiếm hiệu quả
Quy mô thị trường tại
nước tiếp nhận đầu tư
Lao động chất lượng cao tại
nước tiếp nhận đầu tư
Chi phí lao động rẻ tại nước
tiếp nhận đầu tư
Khả năng chi trả tại
nước tiếp nhận đầu tư

trên thế giới thu hút được ngày càng nhiều FDI kể từ đầu thế kỷ XXI. Tỷ trọng luồng
vốn FDI vào các nước ĐPT trên thế giới không ngừng tăng lên, vượt mốc 50% tổng giá trị
dòng vốn trên thế giới. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính và kéo theo đó là suy thoái
kinh tế thế giới đã gây ra những tác động tiêu cực đối với dòng vốn này. Cụ thể, dòng vốn
FDI vào các nước ĐPT châu Phi giảm nhiều nhất, dòng vốn vào các khu vực khác chịu
ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng song đã quay lại đà tăng để dần tiếp cận với giá
trị đạt được trước khủng hoảng. FDI vào các nước ĐPT châu Á ít chịu tác động nhất của
cuộc khủng hoảng tài chính 2008 khi giá trị dòng vốn chỉ giảm nhẹ vào năm 2009 nhưng
sau đó lại tăng nhanh chóng và năm 2011 đã vượt mốc những năm trước khủng hoảng
(xem bảng 12). Chi tiết về sự biến động của dòng vốn FDI đến các nước ĐPT trước, trong
khủng hoảng và suy thoái kinh tế được trình bày cụ thể trong Luận án.
Bảng 12: Dòng vốn FDI trước và trong khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế thế giới phân theo các khu vực địa lí (đơn vị : triệu USD)
Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Thế giới 1.463.351,2 1.975.537,1 1.790.705,7 1.197.823,7 1.309.001,3 1.524.422,2
Tổng các nước
ĐPT 427.163,4 574.311,5 650.016,8 519.225 616.660,7 684.399,3
Các nước có
nền KT
chuyển đổi 54.318,4 90.800,1 121.040,9 72.386,4 73.754,5 92.162,9
Các nước ĐPT
Châu Phi 36.782,9 51.478,9 57.841,5 52.644,9 43.122,1 42.651,9
Các nước ĐPT
Châu Mỹ 98.175,4 172,281 209.517 149.402,4 187.400,7 216.988,3
Các nước ĐPT
Châu Á 290.907 349.412,2 380.360,4 315.237,6 384.063 423.157
Các nước ĐPT
Châu Đại
Dương 1.298,2 1.139,5 2.297,8 1.940,1 2.074,9 1.602,1
Các nước ĐPT

tư thế giới của UNCTAD, vào năm 1991, con số này là 158,9 tỷ USD, đến năm 1995 là
331,2 tỷ và hơn 900 tỷ USD năm 2005, đạt tới mức kỷ lục gần 1500 tỷ USD năm 2007,
rồi sau đó mới giảm sút do chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính. Việc FDI
luôn có xu hướng tăng lên trong giai đoạn gần đây cũng phù hợp với xu hướng phát
triển của toàn cầu hóa trên thế giới. Nó càng chứng minh tính đúng đắn của các quốc gia
khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể nói, FDI trên thế giới nói chung và FDI
vào các nước ĐPT nói riêng chịu tác động của bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mà đặc
biệt là việc tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO. Hiện nay trên thế giới hầu
hết các nước ĐPT đều đã và đang là thành viên của WTO đồng nghĩa với việc yếu tố hội
nhập kinh tế quốc tế có thể đóng một vai trò quan trọng đối với toàn bộ các nước này trong
việc thu hút FDI cho phát triển kinh tế. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mà cụ thể hơn
là việc tự do hóa thương mại và đầu tư trên thế giới có tác động quan trọng tới sự vận động
của dòng vốn FDI. Trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, việc mở rộng
tự do hóa thương mại và đầu tư sẽ giúp cho các quốc gia giảm bớt được các rủi ro do hậu
quả của khủng hoảng tài chính đem lại. Ví dụ, hiện nay đối tác thương mại lớn nhất của
Nga hiện nay là Liên minh châu Âu (EU) nhưng mối quan hệ về kinh tế, chính trị đang lên
với khu vực châu Á là một cơ hội mà Nga không thể bỏ lỡ trong bối cảnh châu Âu đang
ngập trong nợ nần. Nga muốn tăng cường hoạt động thương mại và đầu tư với phương
Đông nhằm đa dạng hóa hoạt động xuất khẩu cũng như sử dụng vốn hiệu quả hơn. Việc
hội nhập kinh tế quốc tế với một trong các biểu hiện cụ thể là tự do hóa thương mại và đầu
tư được thể hiện trong các cam kết của các quốc gia khi gia nhập vào Tổ chức thương mại
thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài không thể tăng trưởng như mong đợi nếu như không
có quá trình tự do hóa thương mại. Việc WTO hiện đang có tới 157 thành viên và 27 quan
sát viên là các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới là một biểu hiện rõ nét nhất của thực
trạng hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, có thể nói, liên quan đến yếu tố có tác động
chung tới FDI là hội nhập kinh tế quốc tế, các nước ĐPT nhận đầu tư và các nước chủ đầu
tư đang có thuận lợi rất lớn để phát triển dòng vốn này nhờ vào sự hỗ trợ của quá trình tự
do hóa thương mại và đầu tư.
2.2.1.2. Thực trạng kinh tế vĩ mô quốc tế
Thứ nhất, kinh tế thế giới ghi nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc trong vài thập kỷ

Nhìn chung các quốc gia ĐPT đông dân nhất thế giới tập trung tại khu vực Châu Á,
nơi có tới 5 trên tổng số 10 quốc gia đông dân nhất trong số tất cả các nước ĐPT. Và xét
về mặt lý thuyết, giá trị FDI đăng ký vào các quốc gia này cũng có tỷ lệ thuận với quy
mô thị trường, tức quy mô dân số tại các quốc gia này. Điều này sẽ được kiểm chứng
thông qua mô hình hồi quy kinh tế lượng. Các nước đông dân số sẽ có lợi thế lớn khi thu
hút FDI. Bảng 16 cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về mối tương quan lý thuyết giữa
quy mô dân số và FDI đăng ký tại 10 nước ĐPT có dân số đông nhất thế giới. Trong số 10
quốc gia ĐPT đông dân nhất thế giới, có 5 quốc gia nằm trong tốp 11 quốc gia ĐPT thu
hút FDI nhiều nhất thế giới năm 2011. Việt Nam đứng thứ 14 trong bảng tổng sắp về giá
trị FDI đăng ký năm 2011 và đứng thứ 11 về dân số trong các nước ĐPT. Các quốc gia
đông dân số còn lại cũng nằm trong số các quốc gia thu hút được nhiều FDI trong những
năm gần đây hay nói ngược lại các quốc gia còn lại nằm trong số những nước thu hút FDI
hàng đầu thế giới các nước ĐPT cũng là các nước có quy mô dân số đông.
Bảng 16 : Mối quan hệ giữa quy mô dân số và FDI
Các nước ĐPT có quy mô dân số lớn nhất
1
Các nước ĐPT có FDI đăng ký nhiều
nhất năm 2011
2
Stt Nước Dân số 2011 (người) Stt Nước
FDI (triệu
USD)
1 Trung Quốc 1.344.130.000 1 Trung Quốc 123.985
2 Ấn Độ 1.241.491.960 2 Brazil 66.660,14
3 Indonesia 242.325.638 3 Ấn Độ 65.788,48
4 Brazil 196.655.014 4 Mexico 64.003,24
5 Pakistan 176.745.364 5 Indonesia 18.906
6 Nigeria 162.470.737 6 Chile 17.299,02
7 Bangladesh 150.493.658 7 Thổ Nhĩ Kỳ 16.400
8 Nga 141.930.000 8 Colombia 13.234,16

bảng 17).
Bảng 17: Tỷ lệ tốt nghiệp PTTH trên tổng số dân tại 10 nước ĐPT tiếp nhận FDI
hàng đầu năm 2011.
Stt
Nước
Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
1 Trung Quốc 22,42 24,35 25,95
2 Brazil Không có số liệu
3
Ấn Độ 15,15 16,23 17,87
4 Mexico 26,55 27,04 28,03
5 Indonesia 20,20 22,35 23,12
6
Chile 55,01 59,18
7 Thổ Nhĩ Kỳ 39,62 45,82
8
Colombia 35,50 37,09 39,13
9
Kazakhstan 45,89 40,02 38,48
10
Malaysia 37,46 40,24
14
Việt Nam 18,59 19,75 22,29
Nguồn: NCS tổng hợp từ Thống kê của Ngân hàng thế giới
3
- Thu nhập bình quân đầu người
Xét về lý thuyết, một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người tương đối cao hơn sẽ
có lợi thế hơn trong việc thu hút loại FDI tìm kiếm thị trường. Loại FDI này ưu tiên những
3

4
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên
Một trong các lí do quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới nói
chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước ĐPT nói riêng đó chính là hướng tới
nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn khoáng sản, mối quan tâm hàng đầu của
ngành công nghiệp khai khoáng. Các nước ĐPT trên thế giới sở hữu các tài nguyên khá
đa dạng. Từ khoáng sản đến tài nguyên rừng, đất đai đến những tài nguyên về nguồn
nước, thủy hải sản… Khoáng sản của châu Á tuy chưa được khai thác đầy đủ song rất
phong phú và có số lượng lớn. Các loại có trữ lượng đáng kể là dầu mỏ, than, sắt, các
kim loại màu như đồng, chì, thiếc và bôxit. Các khu vực nền cổ là nơi tập trung nhiều
sắt, mangan, bôxit, vàng và một số kim loại quý hiếm. Ví dụ: các mỏ sắt lớn ở Ấn Độ,
Đông Bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Trung Siberi và vùng nền Nga. Ở Ấn Độ ngoài sắt
còn có mangan với hàm lượng cao và trữ lượng đứng đầu thế giới, vàng, kim cương; Ở
Trung Quốc và Trung Siberi có nhiều vonfram, kim cương, vàng, bôxit… Thiếc ở Đông
Nam Á tập trung trong một dải kéo dài từ cao nguyên Vân Quý qua bán đảo Trung Ấn
4
/>11
đến các đảo Bangka và Billiton thuộc Indonesia. Thiếc ở đây chiếm tới 70% trữ lượng
thế giới. Giờ đây, sản lượng khai thác thiếc của Trung Quốc, Indonesia và Malaysia
đang đứng hàng hai, ba, tư thế giới sau Brazil. Các vùng than có trữ lượng lớn gọi là
bồn địa than, có nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ và Trung Siberi thuộc Nga. Các
mỏ dầu và khí đốt tập trung nhiều ở đồng bằng Tây Siberi, vùng Trung Á, đảo Sakhalin
và Nhật Bản. Ở Trung Quốc, dầu khí tập trung ở các vùng bồn địa Tarim, Xaidam,
Dungari, Tứ Xuyên và cao nguyên Gobi Giá trị tài nguyên của Trung Quốc chủ yếu
nằm ở các mỏ than và khoáng sản đất hiếm. Hai nguồn tài nguyên này chiếm tới hơn
90% tổng giá trị tài nguyên của Trung Quốc. Nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới cũng có
nhiều mỏ than lớn, chiếm hơn 13% tổng trữ lượng than của thế giới. Gần đây, Trung
Quốc cũng đã phát hiện nhiều mỏ khí đá phiến lớn (An Huy, 2012). Thềm lục địa phía
Nam Biển Đông, Indonesia, Myanma và đồng bằng Ấn-Hằng, vùng đồng bằng Lưỡng
Hà và ven vịnh Ba Tư là những nơi có trữ lượng dầu thuộc hàng lớn nhất châu Á.

15.1
0.9% Angola
13.5
0.8%
Trung
Quốc
14.7
0.9%
Colombia
2.0
0.1% Chad
1.5
0.1% Ấn Độ
5.7
0.3%
Ecuador
6.2
0.4% CH Congo
1.9
0.1% Indonesia
4.0
0.2%
Mexico
11.4
0.7% Egypt
4.3
0.3% Malaysia
5.9
0.4%
Peru

0.1%
Tổng 336.8 20.4%
Sudan
6.7
0.4%
Tunisia
0.4
Các nước
khác
2.2
0.1%
Tổng 132.4 8.0%
Nguồn: BP Statistical Review of World Energy 2012
Mỹ La tinh vốn nổi tiếng với tài nguyên dầu mỏ tại Venezuela và Arghentina, tài
nguyên rừng, quặng sắt tại Brazil. Nhờ có trữ lượng lớn các khoáng sản vàng và
uranium mà Brazil lọt vào danh sách những nước nhiều tài nguyên nhất thế giới. Nước
này chiếm 17% trữ lượng quặng sắt của thế giới, chiếm vị trí thứ hai về tài nguyên này.
Kho tài nguyên giá trị nhất của Brazil là rừng, với 485,6 triệu hectare, trị giá 17,5 nghìn
tỷ USD. Xếp hạng này còn chưa tính đến trữ lượng dầu lửa tiền muối (pre salt) lên tới
44 tỷ thùng mới được phát hiện gần đây của Brazil. Venezuela nằm trong nhóm 10 nước
sở hữu trữ lượng lớn nhất các tài nguyên quặng sắt, khí tự nhiên và dầu lửa. Trữ lượng
khí tự nhiên của Venezuela đứng thứ 8 thế giới, dù chỉ chiếm 2,7% nguồn cung toàn cầu.
12
Trữ lượng dầu lửa hơn 99 nghìn tỷ thùng của Venezuela đứng thứ 6 trên thế giới, chưa
tính tới trữ lượng dầu chua loại cực nặng lên tới 97 tỷ thùng (An Huy, 2012).
Tại Việt Nam, mặc dù là nước có diện tích không lớn nhưng chúng ta có nguồn tài
nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú với gần 40 chủng loại từ khoáng sản năng
lượng (dầu khí, than, urani, địa nhiệt), khoáng sản không kim loại, vật liệu xây dựng đến
khoáng sản kim loại. Tuy nhiên hầu hết các khoáng sản ở Việt Nam có trữ lượng không
lớn, lại phân bố tản mạn không tập trung. Việt Nam giàu tài nguyên khoáng sản về than

hội nhập vào nền kinh tế thế giới của mỗi nước để từ đó chỉ ra yếu tố này có tác động
như thế nào tới việc thu hút FDI. Một số nhà nghiên cứu đã xem xét và bình luận về độ
mở cửa của nền kinh tế thông qua chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu hoặc tổng kim ngạch
xuất, nhập khẩu so với GDP. Tuy nhiên đây cũng không được xem là một cách đo lường
chính xác bởi vì GDP và kim ngạch xuất khẩu (hay kim ngạch xuất, nhập khẩu) là hai
chỉ tiêu khác nhau về phạm vi, về cách tính toán nên đem so sánh với nhau là không
đồng chất và cơ cấu xuất nhập khẩu mỗi quốc gia là khác nhau, thậm chí có một số
trường hợp tính trùng (ví dụ nguyên phụ liệu nhập khẩu để sản xuất rồi xuất khẩu đều
tính vào kim ngạch xuất nhập khẩu).
- Tình trạng cơ sở hạ tầng của quốc gia tiếp nhận đầu tư
Bản chất của FDI là đầu tư tư nhân với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Các doanh
nghiệp FDI sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong một môi trường đầu tư có cơ sở hạ
tầng thuận lợi, đặc biệt là giao thông vận tải (xem bảng 21). FDI hướng tới thị trường sẽ ưu
5
/>13
tiên những thị trường có hạ tầng cơ sở tốt, đặc biệt là hệ thống giao thông nội địa, FDI
hướng tới xuất khẩu lại thích hợp với những địa điểm gần các cảng, sân bay, có hệ thống
giao thông quốc gia và quốc tế thuận lợi. Nhìn chung tất cả các nhà đầu tư nước ngoài đều
ưu tiên những địa điểm đầu tư gần các thị trường, các trung tâm kinh tế lớn và khả năng
tiếp cận các thị trường là dễ dàng thông qua hệ thống cơ sở hạ tầng chất lượng cao.
Ngoài hệ thống giao thông vận tải, tình trạng cơ sở hạ tầng còn được thể hiện ở một
số tiêu chí khác như tình trạng cung cấp điện, nước sạch, viễn thông và internet tại nước
tiếp nhận đầu tư. Dữ liệu tổng hợp về các nước ĐPT liên quan đến các tiêu chí về cơ sở
hạ tầng này được nêu trong phần phụ lục của Luận án.
Có thể nói, những tiêu chí trên chưa thể hiện rõ ưu thế của quốc gia này so với
quốc gia kia liên quan đến cơ sở hạ tầng trong việc thu hút FDI. Chẳng hạn, Ấn Độ và
Trung Quốc là hai quốc gia có dân số đông nhất thế giới nên nhu cầu đi lại của người
dân sẽ lớn hơn nhiều so với nhiều quốc gia khác. Hơn nữa diện tích của hai nước này
cũng thuộc hàng lớn nhất thế giới nên số ki lô mét đường bộ, đường sắt, đường thủy
cũng phải tương đối lớn hơn các nước khác có diện tích bé. Tiêu chí số ki lô mét đường

(2012)
5 Indonesia
5.042 (2008) 437.759 (2008) 21.579 (2011) 676 (2012)
6 Chile
7.082 (2008) 80.505 (2004) Không có 58 (2012)
7 Thổ Nhĩ Kỳ
8.699 (2008) 352.046 (2008) 1.200 (2010) 98 (2012)
8 Côlômbia
874 (2008) 141.374 km (2010) 24.725 (2012) 862 (2012)
9 Kazakhstan
15.079 (2008) 93.612 (2008) 4.000 (2010) 97 (2012)
10 Malaysia
1.849 (2008) 98.721 (2004) 7.200 (2011) 117 (2012)
14 Việt Nam
2.157 (2008) 180.549 (2008) 17.702 (2011) 44 (2012)
Nguồn: NCS tổng hợp từ số liệu của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA)
7
6
Trong ngoặc là năm điều tra
7
/>14
2.2.2.2. Các yếu tố phi kinh tế
- Vị trí địa lí
Vị trí địa lí thuận lợi bao hàm nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, quốc gia tiếp nhận đầu tư có
vị trí địa lí gần các nước chủ đầu tư hoặc các trung tâm kinh tế lớn, gần các thị trường đông
dân để thuận tiện cho việc tiêu thụ sản phẩm. Thứ hai, vị trí địa lí thuận lợi còn có thể được
hiểu là quốc gia nhận đầu tư nằm gần các cảng biển, sân bay quốc tế lớn, giao thông thuận
tiện cho thương mại quốc tế và thứ ba, vị trí địa lí tốt cũng được hiểu là một nước có sở hữu
biển, không phải là nước bị bao quanh bởi lục địa (landlocked country- xem Phụ lục 2A). So
sánh tương quan giữa nhóm các nước ĐPT có biển và các nước ĐPT không có biển, giá trị

của Tổ chức minh bạch quốc tế, chỉ số nhận thức về tham nhũng năm 2010 đo lường mức độ
tham nhũng của khu vực công cộng tại 178 quốc gia trên thế giới. Các khu vực có tình trạng
tham nhũng trầm trọng nhất thường tập trung vào các nước ĐPT và chậm phát triển tại châu
Á, châu Phi và châu Mỹ. Theo điều tra của tổ chức Minh bạch quốc tế, tại Cameroon, Liberia,
Sierra Leone và Uganda, có tới hơn 50% số người được hỏi trả lời rằng họ đã trả một khoản
tiền trà nước trong năm. Tỷ lệ đó nằm vào khoảng 23 đến 49% tại nhóm các nước như
Bolivia, Cam pu chia, Mông cổ, Venezuela và Nga. Tham nhũng có tác động tiêu cực đối với
mọi mặt của đời sống kinh tế trong đó có việc thu hút FDI.
15
2.3. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YỂU TỐ TỚI FDI VÀO CÁC NƯỚC
ĐPT BẰNG MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG
2.3.1.Cơ sở kinh tế của mô hình
2.3.2.Phương trình hồi quy và các biến số của mô hình
Mô hình đề xuất phản ánh mối quan hệ giữa các biến số tác động tới dòng vốn FDI
tới các nước ĐPT nghiên cứu sinh đề xuất sẽ có dạng sau:
LnFDI
i,t
= α
0
+ α
1
LnPop
i,t-1
+ α
2
lnEduc
i,t-1
+ α
3
LnGDPpercap

Biến Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế: D
i.
.
Một số yếu tố khác
2.3.3.Giới thiệu về cơ sở dữ liệu liên quan đến mô hình
Cơ sở dữ liệu liên quan đến các biến số của mô hình được thu thập thống nhất từ
một nguồn: cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới. Ngoài hệ thống chỉ số phát triển thế
giới (WDI) liên quan đến các biến số về giá trị FDI đăng ký hằng năm, dân số, thu nhập
bình quân và trình độ giáo dục tại mỗi nước ĐPT, luận án còn sử dụng hệ thống chỉ số
WGI (Worldwide Governance Indicators) hay còn gọi là các chỉ số quản trị thế giới
2.3.4.Các giả thuyết đặt ra để kiểm định với mô hình
Như đã đề cập ở phần trên, mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới FDI vào
các nước ĐPT như sau:
LnFDI
i,t
= α
0
+ α
1
LnPop
i,t-1
+ α
2
LnEduc
i,t-1
+ α
3
LnGDPpercap
i,t-1
+ α

2.3.5.Kết quả hồi quy
2.3.5.1.Đối với mẫu tổng thể các nước ĐPT trên thế giới
Trong dữ liệu panel: Mô hình POLS (Pool Ordinary Least Square) hay còn gọi là
mô hình hồi quy gộp được sử dụng nếu biến bỏ sót không có tác động đến tổng thể. Nếu
biến bị bỏ sót là có ảnh hưởng đến tổng thể và giữa biến bỏ sót với các biến giải thích
không có tương quan với nhau thì dùng mô hình Random Effect (RE), ngược lại nếu
giữa biến bỏ sót và các biến giải thích có tương quan với nhau thì dùng Fixed Effect
(FE). Trong mô hình đề xuất của nghiên cứu sinh, chắc chắn vẫn còn một số yếu tố tác
động tới dòng vốn FDI mà mô hình chưa đề cập tới và chúng có mối tương quan ít
nhiều đến các biến giải thích. Ví dụ lịch sử thuộc địa dẫn tới ngôn ngữ và văn hóa gần
nhau của nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư, vị trí địa lí, mức độ dân chủ của thể chế
chính trị, mức độ hiệu quả của các chương trình xúc tiến đầu tư… Ngoài ra, qua các
kiểm định chuẩn đoán (xttest0 và Hausmantest) cho kết quả cuối cùng là sử dụng mô
hình FE cho cả 3 trường hợp mẫu nghiên cứu đã đề xuất. Tổng hợp các kết quả nghiên
cứu được nêu trong bảng số 28 ở dưới.
Mô hình 1:
LnFDI
i,t
= α
0
+ α
1
LnPop
i,t-1
+ α
2
lnEduc
i,t-1
+ α
3

Crisis+ ε
i
Mô hình 3:
LnFDI
i,t
= α
0
+ α
1
LnPop
i,t-1
+ α
2
lnEduc
i,t-1
+ α
3
LnGDPpercap
i,t-1
+ α
4
Polistab
i,t-1
+
α
5
Corrup
i,t-1
+ α
6

LnFDIi,t^ = 7.23 + 1.01lnGDPpercapi,t-1 + 0.20lnPOPi,t-1 + 0.90lnEDUCi,t-1 +
0.13lnPolista i,t-1 - 0.38Crisis
17
Theo kết quả này, FDI của các nước ĐPT năm tới sẽ tăng (giảm) 1.01% nếu GDP
bình quân tăng (giảm) 1%/năm; tăng (giảm) 0.20% nếu dân số tăng (giảm) 1%/năm;
tăng (giảm) 0.9% nếu trình độ giáo dục tăng (giảm) 1%/năm và FDI tăng (giảm) 0.13%
nếu mức độ ổn định chính trị tăng (giảm) 1%/năm. Yếu tố khủng hoảng tài chính có tác
động ngược chiều tới thu hút FDI, thể hiện ở chỗ FDI vào các nước ĐPT trong bối cảnh
có khủng hoảng sẽ nhỏ hơn khi không có khủng hoảng. Hệ số của biến Crisis trong mô
hình này nhận dấu âm (-0.38), khủng hoảng có thể làm FDI bình quân giảm đi tới 38%.
Trong mô hình 2 các yếu tố giải thích (GDPpercap, Pop, Educ, Polistab, Crisis) đã giải
thích được 40% sự biến động của FDI. Các kết quả này có ý nghĩa với độ tin cậy 90%.
Mô hình 3 :
LnFDIi,t^ = 7.52 + 0.99lnGDPpercapi,t-1 + 0.17lnPOPi,t-1 + 0.92lnEDUCi,t-1
+0.13lnPolista i,t-1 +0.38lnCorrupi,t-1-0.38Crisis
Theo mô hình 3, ta có 42% sự biến động của FDI được giải thích bởi GDP bình
quân, dân số, trình độ giáo dục, mức độ ổn định chính trị và mức độ tham nhũng và bối
cảnh khủng hoảng kinh tế. Theo đó, nếu năm trước GDP bình quân tăng (giảm)1% thì
FDI năm tới sẽ tăng (giảm) 0.99% (giảm so với mô hình 2); tương tự nếu dân số tăng
(giảm) 1% thì FDI tăng (giảm) 0.17% (giảm so với mô hình 2), nếu trình độ giáo dục
tăng (giảm) 1% thì FDI tăng (giảm) 0.92% ( tăng so với mô hình 2) và nếu mức độ ổn
định chính trị tăng (giảm) 1% thì FDI tăng (giảm) 0.13% (không đổi so với mô hình 2),
nếu mức độ kiểm soát tham nhũng tăng (giảm) 1% thì FDI tăng (giảm) 0.38%.
Bảng 28: Kết quả hồi quy của các mô hình
Biến phụ thuộc:ln(FDI) i,t Mô hình 1 Mô hình 2 Mô hình 3
Biến độc lập
Const 6.84
(0.027)**
7.23
(0.020)**

Ln(Corrup) i,t-1 0.38
(0.004)**
R
2
0.38 0.40 0.42
Số quan sát 510
Ghi chú: Số trong ngoặc đơn là giá trị p- value. *, ** và *** là hệ số hồi quy có
ý nghĩa ở mức 10%; 5% và 1%.
Riêng về biến số về khủng hoảng tài chính, Logarit tự nhiên của dòng vốn FDI
bình quân vào các nước ĐPT trong thời kỳ không có khủng hoảng lớn hơn so với thời
kỳ có khủng hoảng là 0.38, hay khủng hoảng có thể làm FDI bình quân giảm đi tới 38%.
Điều này có thể được hiểu là giá trị dòng vốn FDI vào các nước ĐPT chịu tác động
ngược chiều của khủng hoảng. Khủng hoảng làm dòng vốn giảm đi và ngược lại. Các
kết quả có ý nghĩa với mức độ tin cậy là 95%. Có thể nói, trong 3 mô hình trên, mô hình
hợp lý hơn cả là mô hình 3, mô hình này phản ánh đầy đủ hơn các yếu tố ảnh hưởng tới
FDI của các nước ĐPT, đưa ra kết quả định lượng về sự ảnh hưởng của mức độ ổn định
chính trị và tham nhũng tới FDI. Bảng 29 dưới đây so sánh kết quả nghiên cứu của Luận
án với các nghiên cứu trước đó trên mẫu tổng thể các nước ĐPT.
18
Bảng 29: Ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới FDI vào tổng thể các nước ĐPT so
sánh với các nghiên cứu trước
Yếu tố tác độ
ng
tới FDI
Biến số Hướng tác
động
Tác giả nghiên cứu
A. Các yếu tố kinh tế
1.Liênquanđến
thị trườngnước

2002; Aseidu (2004); Meyer và Nguyễn (2005)
;
Ngọc Anh (2007); Hoang Thi Thu (2008)
+ Luận án
B. Các yếu tố phi kinh tế
3. Khoả
ng cách
địa lí
Khoảng cách
giữa các thủ đô
-
Alan A. Bevan và Saul Estrin, 2000
Luận án nghiên cứu theo các khu vực địa lí
4. Ổn định
chính trị
Ổn định
chính trị
+
Schneider và Frey (1985); Aseidu (2004);
(Beirhanu và Kibre, 2003)
+
Luận án
5. Tham
nhũng
Tham nhũng
+ Luận án nghiên cứu về biến kiểm soát tham
nhũng, kiểm soát tham nhũng có tác động tích cực tới thu
hút FDI.
-
Aseidu (2004); (Mauro 1995); (Tanzi và

với mặt bằng chung của các nước ĐPT. Các kết quả hồi quy theo mẫu các nước ĐPT
thuộc các khu vực địa lý khác nhau được mô tả trong bảng 28 ở dưới đây.Cụ thể, kết
quả theo mô hình tại các nước ĐPT châu Á
LnFDIi,t^ = 12.04 + 1.02lnGDPpercapi,t-1 + 0.11lnPOPi,t-1 + 0.11lnEDUCi,t-1-
0.21Polista i,t-1 -1.43Corrupi,t-1+ 0.17Crisis
Tại các nước ĐPT châu Phi:
LnFDI
i,t
^= - 42.2 + 1.16lnGDPpercap
i,t-1
+ 3.29lnPOP
i,t-1
+ 0.91lnEDUC
i,t-1
-
0.04Polista
i,t-1
-1.30Corrup
i,t-1
- 0.53Crisis
Tại các nước ĐPT Mỹ La tinh:
LnFDI
i,t
^= -138.9 + 1.43lnGDPpercap
i,t-1
+ 9.21lnPOP
i,t-1
- 0.18lnEDUC
i,t-1
-

(0.023)*
Ln(GDPpercap) i,t-1 1.02
(0.000)***
1.16
(0.038)**
1.43
(0.000)***
0.71
(0.017)**
Ln(Pop) i,t-1 0.11
(0.076)*
3.29
(0.083)*
9.21
(0.001)**
0.40
(0.007)**
Ln(Educ) i,t-1 0.11
(0.051)*
0.91
(0.050)**
-0.18
(0.530)
-0.79
(0.040)**
Ln(Polistab) i,t-1 -0.21
(0.057)*
-0.04
(0.026)**
-0.25

khủng hoảng : khủng hoảng tài chính làm FDI bình quân vào các nước Đông Âu giảm
33%; FDI vào các nước ĐPT Châu phi giảm tới 53%; FDI vào các nước ĐPT châu Mỹ
20
la tinh giảm 46%. Kết quả này có ý nghĩa ở mức tin cậy 90%. Đây là một kết quả ngược
với lý thuyết nhưng lại hoàn toàn phù hợp với thực tiễn. Tại các khu vực các nước ĐPT
trên thế giới trong khủng hoảng và suy thoái kinh tế, dòng vốn FDI vào các nước châu Á
vẫn có xu hướng tăng lên, trong khi ảnh hưởng của suy thoái tới dòng vốn này vào các
khu vực khác là theo hướng tiêu cực.
Giữa các mẫu châu lục khác nhau chúng ta không dễ đưa ra những khẳng định chắc
chắn để so sánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới dòng vốn nhưng giữa các
yếu tố tác động trong cùng một mẫu khu vực địa lí nghiên cứu, chúng ta có thể đưa ra
những nhận định để so sánh mức độ ảnh hưởng của chúng tới dòng FDI.
2.3.6. Một số đánh giá rút ra từ mô hình định lượng
Thứ nhất, có thể nói phương pháp nghiên cứu định lượng trong Luận án không phải
là mới trên thế giới nhưng vẫn được xem là khá mới mẻ ở Việt Nam. Việc xây dựng các
mô hình, các biến số cũng như cơ sở dữ liệu đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian và công
sức. Mẫu dữ liệu phải đủ lớn để các kết quả có tính tin cậy đủ cao. Nhưng độ tin cậy của
các kết quả rút ra từ việc hồi quy đối với các mẫu dữ liệu và các mô hình khác nhau
cũng chỉ mang tính tương đối. Nguyên nhân có thể do việc xây dựng các biến số trong
mô hình có thể chưa thực sự chính xác hoặc giữa các biến số có hiện tượng đa cộng
hưởng, hoặc đơn giản là tại một số mẫu nước ĐPT, chúng ta bỏ sót các biến số (ví dụ
lạm phát hoặc mức lương bình quân). Ngoài ra các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp
nước ngoài xét về mặt lí luận thì hoàn toàn hợp lí nhưng trong thực tiễn, đo lường tác
động cụ thể của mỗi một yếu tố lên dòng vốn FDI vào các quốc gia này không phải là
điều đơn giản.
Thứ hai, trong tất cả các mẫu nghiên cứu, một nhận định chung là yếu tố dân số và
thu nhập bình quân đầu người có tác động đáng kể đến FDI vào các nước ĐPT. Điều
này là phù hợp với các nhận định lý luận về tác động của quy mô thị trường và khả năng
chi trả tới quyết định của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, tại một số mẫu
nghiên cứu, yếu tố trình độ học vấn cũng có tác động dương, phản ánh xu thế của dòng

này.
Bảng 31: Tổng hợp các yếu tố tác động tới FDI vào các nước ĐPT theo khu vực địa lí
Yếu tố tác
động tới FDI
Biến số Châu Á Châu Mỹ
La tinh
Châu Phi Đông Âu
1. Quy mô dân số (population) + + + +
2. Thu nhập bình quân (GDP đầu
người)
+ + + +
3. Tính chất nguồn nhân lực (trình
độ giáo dục)
+ -
Không có ýnghĩa
thống kê
+
4. Ổn định chính trị (hệ số ổn định
chính trị)
- + - -
5.Tham nhũng (kiểm soát tham
nhũng)
- + - -
6. Khủng hoảng tài chính thế giới
+ - - -
Nói tóm lại, phương pháp nghiên cứu với mô hình kinh tế lượng nhằm xác định
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới dòng vốn FDI vào các nước ĐPT là một
trong các phương pháp nghiên cứu mới được áp dụng trong các nghiên cứu kinh tế hiện
nay. Tuy nhiên, có một số nhược điểm khi áp dụng phương pháp nghiên cứu trong mô
hình của luận án. Thứ nhất, sự vắng mặt cúa một số yếu tố khác có tác động tới dòng

3.2.1. Tổng quan về FDI vào Việt Nam
3.2.2. Một số thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trong việc thu hút FDI
3.2.2.1. Những thuận lợi
- Về mức độ tín nhiệm
- Lợi thế của khi thực hiện các cam kết quốc tế trong WTO
- Các lợi thế khác
3.2.2.2. Một số thách thức cụ thể đối với Việt Nam
Thứ nhất, môi trường kinh tế vĩ mô còn tồn tại nhiều bất ổn do cả các nguyên nhân
chủ quan và khách quan.
Thứ hai, mặc dù nhiều nỗ lực từ phía cơ quan quản lí, các nhà hoạch định chính
sách, song thủ tục hành chính tại Việt Nam vẫn còn rườm rà, phức tạp.
Thứ ba, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến FDI còn thiếu, và chưa hiệu
quả.
Thứ tư, cơ sở hạ tầng còn chưa hoàn thiện, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu của
các nhà đầu tư. Việc nâng cấp hạ tầng vật chất của Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót và
trậm trễ nhất là trong việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu, như các tuyến đường liên
tỉnh, cầu, cống…
Cuối cùng, chất lượng nguồn nhân lực còn chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập
Tóm lại, liên quan tới việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, có hai vấn đề then
chốt đặt ra đối với các nước ĐPT trong đó có Việt Nam: (1) làm sao để hướng ngày
càng nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là vào các nước với mức thu nhập thấp
nhất; và (2) làm sao để đảm bảo là những khoản đầu tư này sẽ được chuyển thành
những kết quả phát triển bền vững.
3.3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ ĐỐI VỚI VIỆT NAM NHẰM CẢI THIỆN
VIỆC THU HÚT FDI
3.3.1. Các quan điểm về định hướng thu hút FDI vào Việt Nam tới năm 2030
Thứ nhất, chính sách FDI cần chủ động tìm kiếm các nguồn vốn, đặc biệt là FDI
nhằm phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ hai, thực hiện chiến lược thu hút FDI có chọn lọc.
Thứ ba, chính sách FDI cần được hoàn thiện thông qua việc đẩy mạnh công tác xúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status