CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
LÝ HOÀNG PHÚ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ N
ỘI
-
2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
LÝ HOÀNG PHÚ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
2. PGS, TS Vũ Chí Lộc
HÀ NỘI- 2013
i
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, Nghiên cứu sinh xin được chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN
ÁN 6
1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 6
1.1. Các nghiên cứu lí luận 6
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm 10
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 19
C. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI TRONG ĐIỀU KIỆN
KHỦNG HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 22
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 22
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 22
1.1.2. Vai trò của FDI đối với các nước tiếp nhận đầu tư 29
1.2. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI FDI 32
1.2.1. Khái niệm khủng hoảng tài chính và nguyên nhân của khủng hoảng tài
chính thế giới 2008 33
1.2.2. Đặc điểm của khủng hoảng tài chính thế giới 2008 34
1.2.3. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế 2008 tới FDI
1.3. TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI 37
1.3.1. Các yếu tố tác động chung 38
1.3.2. Các yếu tố thúc đẩy chủ đầu tư tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài41
1.3.3. Các yếu tố có tác động đến việc thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư
44
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ TỚI DÒNG VỐN FDI VÀO CÁC
NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 53
2.1. THỰC TRẠNG FDI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 53
2.1.1. FDI vào khu vực các nước đang phát triển châu Á 53
2.1.2. FDI vào khu vực các nước đang phát triển Châu Phi 56
2.1.3. FDI vào khu vực các nước đang phát triển Châu Mỹ La Tinh 59

D. KẾT LUẬN 149
Đ. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
E. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
G. PHỤ LỤC 158
v
DANH MỤC BẢNG
TÊN BẢNG TRANG
Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố tác động tới FDI theo các nghiên cứu kinh tế
thuần túy
9
Bảng 2: Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh
hưởng tới FDI
17
Bảng 3: Tổng quan kinh tế thế giới sau khủng hoảng tài chính 2008 35
Bảng 4: Tổng quan các dòng vốn tới các quốc gia đang phát triển giai
đoạn 2005-2010
37
Bảng 5: Tổng hợp về các yếu tố tác động tới FDI từ góc độ nhà đầu tư-
yếu tố đẩy
44
Bảng 6: Tổng giá trị FDI đăng ký vào các nước đang phát triển châu Á
giai đoạn 1994-2012 (đơn vị : USD)
54
Bảng 7: Dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển châu Phi giai đoạn
2000-2012 (đơn vị: triệu USD)
57
Bảng 8: 10 quốc gia nhận FDI hàng đầu tại châu Phi năm 2010 59
Bảng 9: Dòng vốn FDI vào châu Mỹ La tinh giai đoạn 2000-2012 (đơn vị:
triệu USD)

Bảng 21: Một số tiêu chí về cơ sở hạ tầng tại 10 nước đang phát triển nhận
đầu tư hàng đầu năm 2011
79
Bảng 22: Một số tiêu chí khác về cơ sở hạ tầng tại 10 nước đang phát triển
nhận đầu tư hàng đầu năm 2011
80
Bảng 23: Thống kê về một số xung đột điển hình tại một số quốc gia đang
phát triển trong 10 năm gần đây
83
Bảng 24: Chỉ số cảm nhận tham nhũng ở Việt Nam 85
Bảng 25: Các giả thiết cần kiểm định về các yếu tố ảnh hưởng đến FDI 93
Bảng 26: Thống kê mô tả các biến 93
Bảng 27: Thống kê tương quan giữa các biến 94
Bảng 28: Kết quả hồi quy của các mô hình 96
Bảng 29: Ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới FDI vào tổng thể các
nước đang phát triển so sánh với các nghiên cứu trước
98
Bảng 30: Kết quả hồi quy theo khu vực địa lí 101
Bảng 31: Tổng hợp các yếu tố tác động tới FDI vào các nước đang phát
triển theo khu vực địa lí
104
Bảng 32: 10 vụ đầu tư mới có giá trị lớn nhất bởi các TNCs nhà nước giai
đoạn 2006-2010
109
Bảng 33: Các dự án đầu tư mới trên thế giới và theo các nhóm nước giai
đoạn 2003-2010 (đơn vị : %).
110
Bảng 34: Thủ tục/rào cản hành chính giai đoạn xin phê chuẩn đầu tư tại
các nước đang phát triển năm 2010
116

3 CAEMC Central African Economic and
Monetary Community
Hiệp hội kinh tế tiền tệ Trung
Phi
4 CH Cộng hòa
5 CHDC Cộng hòa dân chủ
6 CPI Corruption Perception Index Chỉ số cảm nhận tham nhũng
7 ĐPT Đang phát triển
8 EU European Union Liên minh châu Âu
9 ECOWAS The Economic Community Of
West African States
Hiệp hội kinh tế các quốc gia
Tây Phi
10 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
11 FIAS Facility for Invesment Climate
Advisory Services
Tổ chức dịch vụ tư vấn môi
trường đầu tư
12 GATT General Agreement on
Taxation and Trade
Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại
13 GDP Gross National Product Thu nhập quốc dân
14 IFC International Finance
Corporation
Tổ chức tài chính quốc tế
15 IMF International Monetary Fund Tổ chức tiền tệ quốc tế
16 LAEA Latin American Economic
Association
Hiệp hội kinh tế Mỹ la tinh

Trade and Development
Hội nghị Liên hợp quốc về
thương mại và phát triển
28 XHCN Xã hội chủ nghĩa
29 WAEMU West African Economic and
Monetary Union
Ủy ban kinh tế tiền tệ Tây Phi
30 WAMZ West African Monetary Zone Khu vực tiền tệ Tây phi
31 WDR World Development Report Báo cáo phát triển thế giới
32 WIR World Investment Report Báo cáo đầu tư thế giới
33 WTO World Trade Organisation Tổ chức thương mại thế giới
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm cuối của thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI đi qua với những
biến động đáng ghi nhận về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới các nước
ĐPT. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát triển (ĐPT) gia tăng
với một tốc độ trung bình trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước khoảng 23% mỗi năm cho
đến khi có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á năm 1997. Tỷ trọng đầu tư
trực tiếp nước ngoài tới các nước ĐPT tăng 8%, từ 23% năm 2002 lên 31% năm 2003
và năm 2004 đạt mức 36% tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, là mức cao
nhất kể từ năm 1997 và kể từ năm 2009 đạt mức 50% tổng số FDI trên toàn cầu (519,2
tỉ USD). Năm 2011, FDI vào các nước ĐPT và các nền kinh tế chuyển đổi đạt mức 776
tỷ đô la, chiếm 51% tổng giá trị FDI toàn cầu (WIR, 2012). Năm 2012, mặc dù FDI vào
các nước có nền kinh tế chuyển đổi giảm 13% giá trị dòng vốn nhưng tổng giá trị dòng
vốn này vào các nước ĐPT và các nước có nền kinh tế chuyển đổi vẫn đạt mức 761 tỉ
USD (UNCTAD, 2013).
Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ngày càng
thể hiện vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Tuy vậy, dòng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các nước trên thế giới chịu tác động của nhiều nhân

tư nước ngoài, đặc biệt là lý luận về các yếu tố tác động tới dòng vốn và đề xuất các
khuyến nghị cụ thể cho Việt Nam nói riêng nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt
tích cực của các yếu tố tác động và cuối cùng nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn FDI
trong những lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào các nước ĐPT trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu. Các yếu tố tác động tới FDI này được chia thành các yếu tố chung, các yếu tố kinh
tế và các yếu tố phi kinh tế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án
 Về mặt nội dung: Luận án giới hạn ở việc nghiên cứu các yếu tố tác động tới
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước phát triển được chia thành các yếu tố
tác động chung tới tất cả các nước ĐPT như bối cảnh khủng hoảng tài chính và
suy thoái kinh tế, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các yếu tố mang tính đặc
trưng quốc gia (country specific) có tác động tới việc thúc đẩy FDI từ phía chủ
đầu tư và thu hút FDI từ phía nước nhận đầu tư như quy mô thị trường, thu nhập
bình quân đầu người, trình độ nguồn nhân lực, mức độ ổn định chính trị…
 Về mặt không gian: Luận án tập trung phân tích các vấn đề thuộc đối tượng
nghiên cứu tại các quốc gia ĐPT trên thế giới như các quốc gia ĐPT châu Phi,
3
châu Mỹ La tinh, châu Á… thông qua các dữ liệu về các yếu tố tác động lên đầu
tư nước ngoài, các dữ liệu về dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới và tại
các nước ĐPT trong những năm gần đây và dùng công cụ kinh tế lượng để đánh
giá các kết luận mang tính lý thuyết.
 Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu về thực trạng các yếu tố tác
động đến FDI vào các nước ĐPT cũng như thực trạng dòng vốn này trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay. Để tập trung
nghiên cứu các vấn đề của Luận án trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy
thoái toàn cầu hiện nay, nghiên cứu sinh chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm

Phương pháp luận nghiên cứu của Luận án là chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Để hoàn thành Luận án, các phương pháp nghiên cứu
tổng hợp dưới đây cũng được sử dụng như: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp toán học, phương pháp mô
hình hóa, đồ thị hóa và đặc biệt là phương pháp hồi qui kinh tế lượng.
Trong mối quan hệ với phương pháp nghiên cứu, để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
trong Luận án, nghiên cứu sinh thu thập dữ liệu từ ba nguồn chủ yếu. Nguồn dữ liệu
chính về dòng vốn FDI vào các nước ĐPT được thu thập từ các Báo cáo đầu tư thế giới
của UNCTAD. Nguồn dữ liệu thứ hai được lấy từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới.
Nguồn cơ sở dữ liệu này được phục vụ để chạy mô hình kinh tế lượng trong chương 2.
Các dữ liệu liên quan đến dòng FDI đăng ký hằng năm, chỉ số kiểm soát tham nhũng, ổn
định chính trị, GDP đầu người, quy mô dân số… được lấy từ cơ sở dữ liệu thứ hai này.
Ngoài ra, các số liệu về dòng vốn FDI qua các năm tại Việt Nam được thống kê từ cơ sở
dữ liệu của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư Việt Nam. Cơ sở dữ
liệu của các biến số cụ thể được trình bày trong chương 2 của Luận án.
6. Các đóng góp mới của Luận án
Thứ nhất, Luận án góp phần hoàn thiện lí luận về các yếu tố tác động tới FDI cũng
như sự phát triển của lí luận về các yếu tố tác động tới dòng vốn với hai dòng lý luận
chính là các nghiên cứu kinh tế thuần túy và các nghiên cứu định lượng.
Thứ hai, Luận án làm rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới dòng vốn
FDI vào các nước ĐPT với cơ sở dữ liệu cập nhật hơn, đầy đủ hơn. Đồng thời Luận án
đề cập đến ảnh hưởng của chính bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế
giới hiện nay đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác
động tới dòng vốn FDI vào các nước ĐPT trong đó có Việt Nam, Luận án đề xuất một
số khuyến nghị cho các quốc gia này nhằm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư nước
ngoài trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể được sử dụng để tham khảo trong việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện các chính sách của Nhà nước, góp phần hoàn
5

bản của các công ty. Theo đó các công ty sẽ tìm kiếm những cơ hội tại các quốc gia mà
tại đó khoản tư bản của họ có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn hoặc đầu tư nước ngoài
để phân tán rủi ro đối với tư bản. Một trong những học giả đầu tiên đề cập tới vấn đề
này là Bertil Ohlin. Ohlin quan niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài có động cơ chủ yếu bởi
khả năng kiếm lời cao và lãi suất cho vay thấp tại các thị trường đang phát triển. Các
yếu tố khác có thể kể tới như khả năng vượt qua các rào cản thương mại và việc tận
dụng các nguồn nguyên liệu rẻ tiền (Ohlin, 1933). Nghiên cứu của Hymer năm 1960
cũng đề cập tới các nguyên nhân tương tự của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà về sau
Kindleberger phân tích rõ ràng hơn: thay vì thái độ của hãng độc quyền xác định kết cấu
của thị trường, sẽ là kết cấu thị trường cạnh tranh – độc quyền sẽ tác động tới thái độ
của hãng, khi quốc tế hóa việc sản xuất (Kindleberger, 1969). Ngoài ra, trước thực tế là
các doanh nghiệp nước ngoài thường gặp một số bất lợi thế so với các doanh nghiệp nội
địa liên quan tới việc hiểu biết thị trường, giao tiếp, truyền thông… Các doanh nghiệp
nước ngoài phải nắm giữ một số lợi thế đặc trưng khác khi muốn đầu tư sản xuất ở nước
ngoài. Theo Hymer, FDI không chỉ đơn giản là dịch chuyển về tư bản mà còn là về việc
chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ quốc tế và các công nghệ - tài sản vô hình, kỹ thuật
kinh doanh và kỹ năng cá nhân. Hymer cũng nhận định sự tồn tại của FDI có liên quan
7
đến thất bại của thị trường quốc tế về các loại tài sản này. Do vậy, các hãng nội vi hóa
các thất bại thị trường này thông qua đầu tư trực tiếp (Hymer, 1960).
- Liên quan đến chi phí giao dịch
Buckley và Casson là những người đầu tiên phát triển giả thuyết này, bắt đầu với ý
tưởng là các thị trường sản phẩm trung gian là cạnh tranh không hoàn hảo, có các chi
phí giao dịch cao hơn, khi được vận hành bởi các doanh nghiệp khác nhau. Khi các thị
trường được hội nhập bởi các công ty đa quốc gia, các chi phí này sẽ được giảm thiểu
(Buckley và Casson, 1976). Lý thuyết về quốc tế hóa nhấn mạnh vai trò của các thị
trường sản phẩm trung gian và sự hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế. Điểm mạnh
của lý thuyết này là ở việc đề cập tới tình trạng khó xử giữa việc sản xuất trực tiếp và
chuyển giao giấy phép sản xuất cho một đại lý nước ngoài. Do đó, công ty cần phải đưa
ra hai quyết định về địa điểm sản xuất và cách thức kiểm soát. Khi việc sản xuất và

ngoài và chiến lược dài hạn của công ty. Dựa trên mô hình này, ông chỉ ra bốn lí do để
một công ty quyết định đầu tư ở nước ngoài: tìm kiếm nguồn nguyên liệu, thị trường,
hiệu quả và các tài sản chiến lược mới. Các động cơ trên lí giải sự gia tăng nhanh chóng
của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên trong những năm gần
đây, không phải vấn đề tìm kiếm thị trường hay nguồn nguyên liệu là những mục tiêu
chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát triển mà chính là việc tìm
kiếm các tài sản chiến lược mới như di sản, kỹ năng sống, sáng chế, hay dữ liệu thông
tin về khách hàng mới là những yếu tố thu hút sự chú ý của các chủ đầu tư.
- Lý luận về chu kỳ sản phẩm
Một cách tiếp cận khác được đưa ra bởi Vernon về chu kỳ sản phẩm. Vernon xác
định mỗi một sản phẩm có một chu kỳ sống gồm 3 giai đoạn: đổi mới, chín muồi và tiêu
chuẩn hóa. Nguồn cầu nội địa có thể là một mục tiêu để đổi mới trong khi nguồn cầu
ngoài nước kích thích xuất khẩu. Theo mô hình của Vernon, do các cải tiến kỹ thuật có
vai trò giảm bớt sức lao động nên chúng sẽ xuất hiện sớm nhất tại các quốc gia có tập
trung tư bản cao, đặc biệt là Hoa Kỳ, (nơi mô hình được phát triển từ giữa những năm
1960). Sau đó, lần lượt, việc sản xuất được thực hiện ở những quốc gia tập trung ít tư
bản hơn và cuối cùng mới là các nước đang phát triển. Cùng lúc đó, việc sản xuất tại các
quốc gia giàu hơn lại được phát triển xoay quanh những sản phẩm mới có các cải tiến về
sản phẩm và quy trình sản xuất. Công ty đa quốc gia ban đầu sẽ cung cấp cho thị trường
xuất khẩu của mình, sau đó thiết lập đại diện thương mại và cuối cùng thường thực hiện
việc sản xuất tại nước đầu tư thông qua con đường mở chi nhánh (Vernon, 1966).
- Liên quan đến tích lũy công nghệ
Một trong số các cách tiếp cận mới mẻ nhất là nghiên cứu của Cantwell (2000),
theo đó quan điểm về tích lũy công nghệ được xem như một quá trình tích lũy nội sinh
đối với công ty. Khi công nghệ là mục tiêu, nó sẽ không phải chuyển giao miễn phí. Các
công ty sẽ phát triển công nghệ và khả năng của mình theo cách duy nhất và đa dạng.
9
Do đó, việc cạnh tranh giữa các công ty chủ yếu xoay quanh công nghệ. Cải tiến kỹ
thuật là nguồn gốc chính cho lợi nhuận. Việc quốc tế hóa sản xuất cho phép các công ty
sử dụng kiến thức và cải tiến kỹ thuật tiềm năng của mình tại các môi trường mới, làm

8 Lợi thế địa phương Cùng chiều/+ Dunning, 1979
9 Sự phù hợp của chiến lược
dài hạn của công ty
Cùng chiều/+ Dunning, 1979
10
Cải tiến kỹ thuật Cùng chiều/+
Vernon, 1966; Cantwell,
2000
11 Tài nguyên thiên nhiên Cùng chiều/+ Hymer, 1960
12 Giá cả lao động Ngược chiều/- Hymer, 1960
10
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm
1.2.1. Liên quan đến FDI vào các nước đang phát triển trên thế giới
Như đã chỉ ra ở phần trước, đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát
triển chịu tác động của nhiều yếu tố trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới mục tiêu của
công ty đa quốc gia. Các nghiên cứu thực nghiệm nhằm ước lượng tầm quan trọng của
các yếu tố khác nhau tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài, tập trung chủ yếu vào các
yếu tố thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài như quy mô thị trường, thu nhập, môi trường
đầu tư (chất lượng lao động, sự ốn định chính trị, mở cửa kinh tế…). Các biến số chủ
yếu được dùng để ước lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát triển
như dân số, tốc độ phát triển kinh tế, sự ổn định chính trị, mức độ mở cửa kinh tế và một
số biến số khác.
Ngay từ năm 1979, Root và Ahmed trong nghiên cứu của họ về các yếu tố tác
động tới dòng FDI vào các ngành công nghiệp chế biến tại 70 nước đang phát triển đã
kết luận rằng đô thị hóa, cơ sở hạ tầng hiện đại và thu nhập bình quân đầu người cao
góp phần làm tăng FDI vào trong nước (Root và Ahmed, 1979). Nghiên cứu của
Schneider và Frey tại 80 nước đang phát triển cũng đã chỉ ra mức độ phát triển của một
quốc gia là yếu tố tác động hàng đầu tới FDI vào quốc gia đó. Họ cũng xác định yếu tố
ổn định chính trị cũng đóng vai trò quan trọng tới quyết định của nhà đầu tư nước ngoài
(Schneider và Frey, 1985).

giá rẻ, và tài nguyên thiên nhiên sẵn có (Campos và Kinoshita, 2003). Bên cạnh các
nhân tố này, các biến số sau cũng có các kết quả rõ rệt: các thể chế vững mạnh, mở cửa
thương mại, các quy định nới lỏng đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy
vào. Garibaldi và các nhà nghiên cứu khác dựa trên một panel linh hoạt của 26 nền kinh
tế chuyển đổi giữa 1990 và 1999, phân tích một số các biến số được chia thành các yếu
tố kinh tế vĩ mô, cải cách cơ cấu, khung pháp lí và thể chế, các điều kiện cơ sở và các
phân tích về rủi ro. Các kết quả cho thấy những biến số kinh tế vĩ mô như quy mô thị
trường, thâm hụt tài khóa, lạm phát và chế độ tỷ giá hối đoái, phân tích rủi ro, cải cách
kinh tế, mở cửa kinh tế, tài nguyên thiên nhiên sẵn có, rào cản đối với đầu tư và quan
liêu; tất cả đều có kết quả như mong đợi và có ý nghĩa thống kê (Garibaldi, 2001).
Erdal Demirhan và Mahmut Masca có nghiên cứu về các yếu tố tác động tới dòng
FDI vào các nước đang phát triển thông qua một phân tích được dựa trên một mẫu dữ
liệu chéo tại 38 quốc gia phát triển, với các giá trị trung bình của tất cả các dữ liệu cho
giai đoạn 2000-2004 (Erdal, 2008). Trong các mô hình, biến phụ thuộc là FDI. Biến độc
lập là tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người, tỷ lệ lạm phát, các đường dây điện thoại
trên 1.000 người được đo trong các bản ghi, lao động chi phí cho mỗi công nhân trong
ngành công nghiệp sản xuất được đo trong các bản ghi, mức độ rủi ro, sự cởi mở và tỷ
lệ thuế doanh nghiệp đầu. Theo kết quả các phân tích, trong mô hình chính, tốc độ tăng
trưởng bình quân đầu người, đường dây điện thoại chính và mức độ của sự cởi mở có
dấu hiệu tích cực và có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ lạm phát và mức thuế suất hiện dấu hiệu
12
tiêu cực và có ý nghĩa thống kê. Chi phí lao động có dấu hiệu tích cực và nguy cơ có
dấu hiệu tiêu cực. Tuy nhiên, cả hai đều tác động không đáng kể.
Glauco De Vita và Khine S. Kyaw đã sử dụng một bảng dữ liệu dạng panel của 32
quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1990-2004, nhóm tác giả đã xem xét tầm quan
trọng tương đối của các yếu tố quyết định kinh tế trọng điểm của đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và dòng danh mục đầu tư. Kết quả cho thấy tăng trưởng của năng suất trong
nước là yếu tố quyết định FDI chảy vào các nước đang phát triển, cón đối với các dòng
thuộc đầu tư gián tiếp, tăng trưởng tiền tệ trong nước lại là yếu tố tác động hàng đầu
(Glauco De Vita và Khine S. Kyaw, 2008).

nước Bắc Phi và vùng Trung Đông và kết luận rằng sự mở cửa kinh tế quốc gia, lợi tức
đầu tư, tài nguyên dầu mỏ xuất khẩu và là một thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO) là các yếu tố quyết định của FDI (Linda và Said, 2007).
Trong bài “Phân tích so sánh về các yếu tố tác động tới FDI tại các nước đang phát
triển” đăng trong tạp chí The Journal of Applied Economic Research số 4 năm 2010,
Khondoker Abdul Mottaleb và Kaliappa Kalirajan đã sử dụng bảng panel dữ liệu từ 68
quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp hơn phát triển nhằm xác định các
yếu tố xác định dòng chảy FDI vào các nước đang phát triển. Dựa trên một phân tích so
sánh tập trung vào lý do tại sao một số quốc gia thành công trong thu hút FDI, bài viết
chứng minh rằng các nước có GDP lớn hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, tỷ lệ
thương mại quốc tế cao hơn và một môi trường kinh doanh thân thiện hơn sẽ thành công
hơn trong việc thu hút FDI. Ngoài ra các tác giả còn kết luận rằng bằng cách thu hẹp
khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước kết hợp với các công nghệ mới nhất và
biết quản lý tốt, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể đóng một vai trò quan trọng
trong việc đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Trong
quá khứ, các nước đang phát triển không được coi là điểm đến thuận lợi cho vốn đầu tư
nước ngoài như các nước phát triển. Hơn nữa, trong số các nước đang phát triển, chỉ có
một vài nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria và Sudan, là nước nhận đầu tư lớn đối
với FDI loại 1, phần còn lại đang cạnh tranh cho các những FDI thuộc hàng thải
(Khondoker Abdul Mottaleb, 2010).
Bài nghiên cứu về “Các yếu tố tác động tới FDI vào các nước đang phát triển:
phân tích theo dữ liệu panel
1
” trên tạp chí Kinh tế và Tài chính Châu Á (Asian
Economic and Financial Review) số 1 năm 2011 của Behrooz Shahmoradi đã thông qua
một mô hình với chuỗi số liệu dạng bảng giai đoạn 1990-2007 tại 25 quốc gia đang phát
triển để xác định các yếu tố tác động tới dòng vốn FD trong giai đoạn này. Mô hình với
biến phụ thuộc là luồng FDI vào 25 nước, các biến độc lập gồm GDP, cán cân thanh
toán, dân số, mức độ mở cửa kinh tế, cơ sở hạ tầng (điện thoại di động, internet, công
nghệ), ODA và lao động. Theo các kết quả từ mô hình này, mức độ mở cửa kinh tế, quy

Tại Việt Nam, đạo luật đầu tiên liên quan tới FDI ra đời năm 1987 với tên gọi Luật
Đầu tư nước ngoài, tức là một năm kể từ khi nước ta tiến hành công cuộc Đổi mới. Luật
đầu tư nước ngoài năm 1987 được xem là một trong các bước khởi đầu cho tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Dòng vốn FDI được xem là một trong các yếu tố
quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi từ một
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường (Kokko, 2003). Dòng vốn
FDI đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy đầu tư trong nước (Nguyễn Phương
Hoa, 2004; Nguyễn Phi Lân, 2006), thúc đẩy chuyển giao công nghệ phục vụ cho sự
phát triển công nghiệp nội địa (Mizra và Giroud 2003, 2004), thúc đẩy xuất khẩu, xóa
2
Determinants of Foreign Direct Investment in Developing Countries
3
Foreign Direct Investment from Developing Countries: Evidence, Trends and Determinants

Trích đoạn Một số đánh giá rút ra từ mô hình định lượng Một số đặc điểm liên quan đến dòng vốn FDI trên thế giới hiện nay THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA Một số thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trong việc thu hút FD Các quan điểm về định hướng thu hút FDI vào Việt Nam tới năm 2030
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status