BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ----------
ĐẶNG ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ----------
ĐẶNG ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 3
1.5. Bố cục luận văn.............................................................................................. 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY ........................................................................ 5
2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu ......................................................................... 5
2.1.1. Lý thuyết về lợi nhuận cận biên của Mac.Dougall (1960) ........................... 5
2.1.2. Lý thuyết Hymer (1976)............................................................................... 6
2.1.3. Lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon (1966)........................................ 6
2.1.4. Lý thuyết OLI của Dunning (1993) ............................................................. 8
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây ...................................................... 9
2.3. Tóm lược các kết quả nghiên cứu .............................................................. 15
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................. 19
3.1. Dữ liệu nghiên cứu ...................................................................................... 19
3.2. Mô tả biến nghiên cứu ................................................................................ 20
3.2.1. Biến phụ thuộc ........................................................................................... 20
3.2.2. Biến độc lập................................................................................................ 21
3.2.3. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................ 26
3.3. Mô hình nghiên cứu .................................................................................... 27
3.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 27
iii
3.4.1. Phương pháp Pooled OLS .......................................................................... 27
3.4.2. Phương pháp Fixed Effects (FEM) ............................................................ 28
3.4.3. Phương pháp Random Effects (REM) ....................................................... 29
3.4.4. Kiểm định Hausman ................................................................................... 29
3.4.5. Kiểm định phương sai thay đổi .................................................................. 30
Phương pháp Bình phương tối thiểu tổng
quát khả thi
GDP
Tổng thu nhập quốc nội
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
MNCs
Các công ty đa quốc gia
OLI
Ownership – Location – Internalization
OLS
Ordinary least squares
REM
Phương pháp random effects
Liên Hiệp thương mại và phát triển thế
UNCTAD
trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển, FDI bổ sung nguồn vốn đầu tư,
cung cấp công nghệ mới, giải quyết việc làm phát triển nguồn nhân lực, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu. Bài luận văn này nghiên cứu
các nhân tố quyết định đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào 25
quốc gia đang phát triển Châu Á (trong đó có Việt Nam) trong giai đoạn từ 20002013 với mô hình dựa trên bài nghiên cứu của Vinit Ranjan và Gaurav Agrawal
(2011) sử dụng dữ liệu bảng được hồi quy theo các cách: Pooled OLS, Fixed effect
(hiệu ứng cố định), Random effect (hiệu ứng ngẫu nhiên) và phương pháp FGLS.
Kết quả cho thấy tổng sản phẩm quốc nội (GDP) biến đại diện cho quy mô thị
trường là nhân tố có tác động cùng chiều và đáng kể nhất lên nguồn vốn FDI tại các
quốc gia đang phát triển Châu Á với mức ý nghĩa thống kê tại mức 1% và hệ số β là
1.113147, tiếp theo đó là các biến: tích lũy tài sản gộp (GCF) với β = 0.9933819 ở
mức ý nghĩa 1%, độ mở cửa thương mại (TRAO) có ý nghĩa thống kê 1% với β =
0.0125795. Ngược lại, tổng số lực lượng lao động (LAB) là nhân tố có tác động
ngược chiều đến nguồn vốn FDI với mức ý nghĩa 1% và có hệ số β là -0.3175351
trong khi đó các nhân tố: ổn định kinh tế và triển vọng tăng trưởng (INFL), chi phí
lao động (WAGE) và cơ sở hạ tầng (INFREX) thì không có tác động đáng kể đến
FDI ở các nước đang phát triển Châu Á.
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia đang phát triển Châu Á, dữ
liệu bảng, các nhân tố vĩ mô.
2
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1.
Đặt vấn đề:
Thời gian gần đây, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có một vai trò
vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển Châu Á” cho luận văn của mình.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của đề tài là đánh giá những nhân tố tác động đến nguồn vốn FDI ở các
nước đang phát triển Châu Á, nhấn mạnh đến vai trò của các nhân tố lên quyết định
đầu tư của các MNCs trong khu vực này thông qua việc sử dụng mô hình dữ liệu
bảng, bao gồm 25 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á qua 14 năm (giai đoạn
2000 – 2013).
1.3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các nhân tố quyết định đến nguồn vốn FDI ở 25 quốc gia
đang phát triển Châu Á sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn 2000 – 2013, kiểm
định các yếu tố: quy mô nền kinh tế (GDP), ổn định kinh tế và triển vọng tăng
trưởng (INFL), độ mở thương mại (TRAO), cơ sở hạ tầng (INFREX), chi phí lao
động (WAGE), tổng số lực lượng lao động (LAB) và tích lũy tài sản gộp (GCF) của
quốc gia nhận đầu tư tác động đến dòng vốn FDI như thế nào ở khu vực này.
1.4.
Phương pháp nghiên cứu:
Bài luận văn kiểm định mô hình nghiên cứu bằng cách lựa chọn giữa phương
pháp Pooled OLS và phương pháp Fixed Effect thông qua kiểm định F, kiểm định
Hausman cũng được sử dụng để lựa chọn phương pháp Fixed Effect hay phương
pháp Random Effect là phù hợp hơn. Cuối cùng, mô hình nghiên cứu sử dụng
phương pháp FGLS để kiểm soát hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi
lời giải thích từ sau chiến tranh thế giới thứ hai khi xuất hiện hiện tượng toàn cầu
hóa. Vai trò của các công ty đa quốc gia và FDI gia tăng mạnh mẽ trong những năm
1950 và 1960 giúp cho các nhà nghiên cứu tìm ra các lý thuyết giải thích hành vi
của MNCs và sự tồn tại của sản phẩm có tính chất quốc tế.
2.1.1. Lý thuyết về lợi nhuận cận biên của Mac.Dougall (1960)
Năm 1960, Mac. Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết, phát triển từ những
lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn. Ông cho rằng
luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến
khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau). Sau đầu tư, cả hai
nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên
so với trước khi đầu tư.
Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận những năm 1950 dường như phù
hợp với lý thuyết. Nhưng sau đó, tình hình trở nên thiếu ổn định, tỷ suất đầu tư của
Mỹ giảm đi đến mức thấp hơn tỷ suất trong nước, nhưng FDI của Mỹ ra nước ngoài
vẫn tăng liên tục. Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước
đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra; không đưa ra được sự giải
thích đầy đủ về FDI. Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là
bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu FDI.
6
2.1.2. Lý thuyết Hymer (1976):
Hymer (1976) giải thích các lý thuyết của FDI bằng cách so sánh sự khác biệt
giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư theo danh mục đầu tư. Dựa trên lý thuyết
đầu tư danh mục, nguồn vốn di chuyển từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao
cho đến khi lãi suất cân bằng. Lý thuyết này giả định rằng không có các rào cản đối
với việc luân chuyển vốn như các rủi ro và sự không chắc chắn. Tuy nhiên, Hymer
lập luận rằng lý thuyết về đầu tư danh mục không giải thích sự kiểm soát (Hymer
1976). Trong đầu tư danh mục, các nhà đầu tư đầu tư ở nước ngoài không có quyền
đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu được tiến
hành ở các nước khác. Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở
lại nước phát minh ra nó. Cụ thể vòng đời quốc tế một sản phẩm gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi xem có thỏa mãn
được nhu cầu khách hàng hay không và sản phẩm được bán trong nước cũng là để
tối thiểu hóa chi phí. Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kể. Người tiêu
dùng chú trọng đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá bán sản phẩm. Quy trình sản
xuất chủ yếu là nhỏ.
Giai đoạn 2: sản phẩm được chấp nhận, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các
đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện. Nhưng dần dần nhu cầu trong
nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng. Xuất khẩu nhiều (đạt đến
đỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được hình thành (sản xuất thông qua
FDI). Giá trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng.
Giai đoạn 3: sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở
nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt
để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh ngày càng
gay gắt, các thị trường trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ. Sản xuất tiếp tục
được chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI. Nhiều nước
xuất khẩu sản phẩm trong giai đoạn trước (trong đó có nước tìm ra sản phẩm) nay
trở thành các nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm
sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế.
8
2.1.4. Lý thuyết OLI của Dunning (1993):
Dunning (1993) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến FDI thông qua lý thuyết
mô hình OLI. Mô hình này cung cấp một khuôn khổ cho nhóm các yếu tố vi mô và
vĩ mô để phân tích lý do tại sao và ở đâu các doanh nghiệp đa quốc gia (MNEs) đầu
tư ra bên ngoài. Theo quan điểm của Dunning, các MNCs chắc chắn phải sở hữu
nguyên liệu, chi phí lao động thấp (cả lao động không có kỹ năng và lao động có kỹ
năng), cơ sở vật chất (cảng, đường, năng lượng, viễn thông), và trình độ công nghệ.
Đối với FDI tìm kiếm hiệu quả thị trường, các nhân tố đầu vào truyền thống đóng
vai trò ít hơn trong việc ảnh hưởng đến FDI, trong khi đó, các yếu tố như năng lực
và khả năng, cơ chế khuyến khích, sự sẵn có và chất lượng của công ty tại nước chủ
nhà, đặc tính cạnh tranh của thị trường trong nước, nhu cầu tiêu dùng tự nhiên và
chính sách vĩ mô, vi mô của chính phủ đóng vai trò quan trọng hơn. Và cuối cùng,
FDI tìm kiếm tài sản chiến lược, đối với hình thức này, các nhà đầu tư sẽ mua lại tài
sản của công ty nước ngoài để thúc đẩy mục tiêu chiến lược trong dài hạn của họ,
đặc biệt là giữ vững hoặc gia tăng khả năng cạnh tranh trên toàn cầu.
2.2.
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây:
Có nhiều bằng chứng thực nghiệm nhằm xác định các nhân tố tác động lên dòng
vốn FDI. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố được coi là nhân tố tác động đến FDI trong
mỗi nghiên cứu ở mỗi quốc gia. Vì vậy, rất khó để liệt kê các nhân tố tác động, đặc
biệt là theo thời gian một số nhân tố có thể có hoặc không có ý nghĩa thống kê. Do
đó, phần xem xét lại bằng chứng thực nghiệm này sẽ chủ yếu tập trung vào những
nghiên cứu về các nhân tố tác động lên FDI tại các nước đang phát triển, các nền
kinh tế mới nổi và những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.
Nghiên cứu của Dawn Holland và Nigel Pain (1998) “Sự phổ biến của việc
đổi mới ở Trung và Đông Âu: một nghiên cứu về yếu tố quyết định và tác động lên
đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cho là một
kênh quan trọng cho sự ra đời của những ý tưởng mới, công nghệ và các tiêu chuẩn
để các nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông Âu. Nghiên cứu của Dawn Holland
và Nigel Pain (1998) sử dụng phân tích dữ liệu bảng để nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến FDI ở các nước Trung và Đông Âu: Bulgaria, Croatia, Czech Republic,
11
gia chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển của khu vực tư nhân, sự phát triển của ngành,
cán cân tài khóa, tổng dự trữ và tham nhũng.
Nghiên cứu của Libor Krkoska (2001) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tài trợ
tích lũy tài sản ở Trung và Đông Âu”. Bài viết này xem xét mối quan hệ giữa đầu tư
trực tiếp nước ngoài và tích lũy tài sản gộp ở các quốc gia chuyển đổi cũng như các
nguồn tài trợ tích lũy tài sản khác như: tài trợ nợ, tài trợ thị trường vốn và trợ cấp.
Bài nghiên cứu chỉ ra rằng tích lũy tài sản có quan hệ cùng chiều với FDI, cùng với
nợ trong nước và tài trợ thị trường vốn, bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn chỉ ra mối
tương quan ngược chiều giữa thanh khoản thị trường chứng khoán với FDI. Không
có mối quan hệ thống kê đáng kể nào giữa tín dụng nước ngoài và trợ cấp. Nghiên
cứu cũng cho thấy rằng FDI là một thay thế cho tín dụng trong nước nhưng là bổ
sung với tín dụng nước ngoài và doanh thu từ tư nhân hóa.
Nghiên cứu của Frenkel et al., (2004) “Phân tích dữ liệu bảng dòng vốn FDI
song phương đến các quốc gia mới nổi” đã kiểm tra các yếu tố quyết định đến FDI
sử dụng phân tích dữ liệu bảng dựa trên mô hình Gravity. Nghiên cứu này tập trung
vào dòng vốn FDI song phương giữa 5 nước chủ nhà (các nước công nghiệp lớn
nhất trên toàn thế giới) và 22 nền kinh tế mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh và Trung và
Đông Âu. Bài nghiên cứu bao gồm cả các nước nhận đầu tư và các nước chủ nhà,
nó phân tích yếu tố đẩy và kéo của dòng vốn FDI vào và ra. FDI là biến phụ thuộc
và là khoảng cách giữa nước chủ nhà và nước nhận đầu tư; tăng trưởng GDP, quy
mô thị trường, lạm phát, rủi ro, mở cửa thương mại, được sử dụng như là các biến
độc lập.
Kết quả cho thấy rằng sự phát triển kinh tế được đưa ra bởi tốc độ tăng trưởng GDP
là yếu tố quan trọng đối với dòng vốn FDI vào quốc gia nhận đầu tư. Thêm vào đó,
quy mô thị trường được đại diện bởi GDP có vai trò quan trọng đối với dòng vốn
FDI. Mở cửa thương mại được tính bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP
có quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Nghiên cứu của Narayanamurthy Vijayakumar và cộng sự (2010) “Các
nhân tố quyết định đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia BRICS”. Bài
13
nghiên cứu này xác định các nhân tố quyết định đến FDI vào các quốc gia BRICS
(bao gồm, Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) bằng cách sử dụng mô
hình dữ liệu bảng trong giai đoạn 1975-2007 (riêng Nga dữ liệu được yêu cầu chỉ có
từ năm 1990) và sử dụng các phương pháp: Pool OLS, mô hình tác động cố định
(REM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Các biến độc lập trong mô hình bao
gồm: quy mô thị trường được đo lường bởi GDP; chỉ số sản xuất công nghiệp và tỷ
lệ lạm phát được đo lường cho sự ổn định kinh tế và triển vọng phát triển của một
quốc gia; chi phí lao động cụ thể là lương; chỉ số cơ sở hạ tầng được đo lường bởi
điện, nước, giao thông và thông tin liên lạc; độ mở thương mại; tỷ giá hối đoái và
tích lũy tài sản gộp. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy các nhân tố: quy mô thị trường
được đại diện bằng GDP và cơ sở hạ tầng (INFI) có tác động cùng chiều và đáng kể
lên nguồn vốn FDI. Ngược lại, các yếu tố: chi phí lao động (đại điện bằng lương),
giá trị tiền tệ (tỷ giá hối đoái) và tích lũy tài sản gộp là các nhân tố có tác động
ngược chiều và đáng kể lên dòng vốn FDI vào các nước BRICS. Trong khi đó, triển
vọng phát triển và sự ổn định kinh tế, độ mở thương mại thì không có tác động đáng
kể đến FDI ở các quốc gia này.
Nghiên cứu của Kavita Wadhwa và Sudhakara Reddy S (2011) “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển Châu Á: Vai trò của các nhân tố:
tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả”. Bài nghiên cứu này
được thực hiện để nghiên cứu tác động của các nhân tố tìm kiếm thị trường (market
seeking), tìm kiếm hiệu quả (efficiency seeking) và tìm kiếm nguồn lực (resources
seeking) của các nước nhận đầu tư lên dòng vốn FDI bằng mẫu 10 quốc gia đang
ý nghĩa lên dòng vốn FDI vào các nước BRIC trong khi đó thì các yếu tố: tỷ lệ lạm
phát, chi phí lương là các yếu tố tác động ngược chiều lên FDI và có ý nghĩa. Ngoài
ra, các yếu tố: tích lũy tài sản gộp và lực lượng lao động có tác động ngược chiều
lên nguồn vốn FDI nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của Ab Quyoom Khachoo và Mohd Imran Khan (2012) “Các
nhân tố tác động đến nguồn vốn FDI vào các quốc gia đang phát triển: phân tích
dữ liệu bảng”: xác định các yếu tố quyết định chính của dòng vốn FDI vào các
nước đang phát triển dựa vào mô hình dữ liệu bảng (panel data) sử dụng mẫu 32
15
quốc gia đang phát triển đã được lấy mẫu và dữ liệu qua thời gian 1982-2008. Các
biến phụ thuộc là tổng sản phẩm quốc nội GDP (Quy mô thị trường), tổng lượng dự
trữ (bao gồm cả vàng, quyền rút vốn đặc biệt, dự trữ tại IMF), tiêu thụ điện năng,
mức lương và độ mở cửa thương mại lên dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu chia cho GDP).
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô thị trường lớn, dự trữ nhiều hơn, cơ sở hạ
tầng tốt và chi phí lao động thấp có tác động tích cực đối với dòng vốn FDI vào các
nước đang phát triển. Mối quan hệ tích cực giữa GDP và FDI cho thấy rằng đất
nước với quy mô thị trường lớn có thể thu hút FDI nhiều hơn. Dự trữ nhiều hơn
cũng đã tác động tích cực trên dòng vốn FDI đến các quốc gia nhận đầu tư. Thêm
vào đó, cơ sở hạ tầng tốt cũng là yếu tố quyết định của dòng vốn FDI và chi phí lao
động thấp cũng có thể thúc đẩy công ty đa quốc đầu tư vào một quốc gia, nơi có
mức lương thấp. Tuy nhiên, bài viết đã chỉ ra rằng độ mở cửa thương mại không có
tác động đến dòng vốn FDI điều này là trái với lý thuyết và một vài nghiên cứu thực
nghiệm.
2.3.
Tóm lược các kết quả nghiên cứu:
Kết quả
TT
Các nhân tố
Biến
Tác giả nghiên cứu
nghiên
cứu
Alan A. Bevan and Saul Estrin (2000);
Frenkel và cộng sự (2004); Nunes và
cộng sự (2006); Pravakar Sahoo (2006);
+
1
Quy mô thị
trường
GDP
Narayanamurthy Vijayakumar, Perumal
Sridharan and Kode Chandra Sekhara
Rao (2010); Vinit Ranjan, Dr. Gaurav
Agrawal
(2011);
(2011);
Kavita
Wadhwa,
Sudhakara Reddy S (2011).
Alan A. Bevan and Saul Estrin (2000);
Frenkel và cộng sự (2004); Nunes và
cộng
3
Chi phí lao
động
WAGE
-
sự
(2006);
Narayanamurthy
Vijayakumar, Perumal Sridharan and
Kode Chandra Sekhara Rao (2010); Vinit
Ranjan, Dr. Gaurav Agrawal (2011); Ab
Quyoom Khachoo và Mohd Imran Khan
Ranjan, Dr. Gaurav Agrawal (2011)
Không tác Ab Quyoom Khachoo và Mohd Imran
động
Khan (2012).
18
Narayanamurthy Vijayakumar, Perumal
+
6
Tổng số lực
lượng lao động
Sridharan and Kode Chandra Sekhara Rao
(2010)
LAB
Không tác Vinit
động
+
7
Tích lũy tài sản
gộp