Nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những quốc gia đang phát triển - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

----------  ----------

BÙI THỊ BÍCH PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI NHỮNG QUỐC
GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

----------  ----------

BÙI THỊ BÍCH PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI NHỮNG QUỐC
GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN FDI....................................................................... 6
2.1 Nghiên cứu lý thuyết về các nhân tố tác động đến FDI ......................... 6
2.2 Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến FDI ................... 9
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 27
3.1 Mô hình nghiên cứu............................................................................ 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 34
3.3 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................. 37
3.3.1Mẫu nghiên cứu ................................................................................ 37


3.3.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu ............................................................... 39
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 42
4.1 Thống kê mô tả................................................................................... 42
4.2 Kết quả nghiên cứu............................................................................. 45
5. KẾT LUẬN ......................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu

BRICS

Ý nghĩa

Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc,
Nam Phi

FDI

Ordinary least squares

REM

Phương pháp random effects


SSA

Các quốc gia nằm ở phía Nam Sahara

Liên Hiệp thương mại và phát triển
UNCTAD

thế giới (United Nations Conference
on Trade and Development)

VIF

Hệ số phóng đại


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm .............................. 21
Bảng 3.1: Bảng mô tả biến trong mô hình nghiên cứu ............................. 30
Bảng 3.2: Danh sách các nước trong mẫu nghiên cứu ............................. 38
Bảng 3.3: Nguồn dữ liệu nghiên cứu ....................................................... 40
Bảng 4.1: Phân tích mô tả dữ liệu của các nước đang phát triển giai đoạn
2000-2012 ................................................................................ 42
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu... 43

tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài là điều rất cần thiết. Mục tiêu của bài
luận văn là xác định, bằng cách ước tính dựa vào mô hình dữ liệu bảng (panel
data), những nhân tố tác động đến dòng vốn FDI tại các quốc gia đang phát
triển. Bài viết sử dụng mẫu 30 quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình
và thấp trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012, ước tính bằng phương pháp
FGLS cho thấy quy mô thị trường, tổng dự trữ, cơ sở vật chất, chi phí lao
động và độ mở thương mại là những nhân tố tác động đến FDI chảy vào các
quốc gia đang phát triển.


2

1. GIỚI THIỆU
Trong những thập kỷ vừa qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có
sự gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới, từ mức trung bình hàng năm 142
tỷ USD trong những năm 1985 – 1990 lên hơn 385 tỷ USD năm 1996, đến
năm 2007, FDI đã đạt mức 1.9 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2009). Tuy nhiên,
năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khiến cho dòng vốn
FDI sụt giảm 14% (chỉ còn 1,7 nghìn tỷ USD) và 1.2 nghìn tỷ USD năm
2009. Cho đến năm 2010, đã đánh dấu sự gia tăng trở lại của FDI trên toàn
cầu với mức 1.2 nghìn tỷ USD tăng 15% so với năm 2009, FDI tiếp tục gia
tăng trong năm 2011 đạt mức 1.65 nghìn tỷ USD (UNCTAD, 2012). Tuy
nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu giảm 18% trong năm 2012, giảm
từ mức 1.65 nghìn tỷ USD năm 2011 xuống 1.35 nghìn tỷ USD. Năm 2013,
FDI dự kiến vẫn giữ mức tương đương với năm 2012, khoảng 1.45 nghìn tỷ
USD. Nếu điều kiện kinh tế vĩ mô tiếp tục được cải thiện và nhà đầu tư lấy lại
niềm tin trong trung hạn, các công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi lượng tiền
mặt họ đang nắm giữ thành những khoản đầu tư mới, giúp cho FDI có thể đạt
mức 1.6 nghìn tỷ USD vào năm 2014 và 1.8 nghìn tỷ USD trong năm 2015.


chủ yếu đến dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển có thu nhập trung
bình và thấp trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới.
Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Ab Quyoom Khachoo và
Mohd Imran Khan (2012), câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Liệu các yếu tố như
quy mô thị trường, tổng dự trữ, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng, độ mở thương
mại có tác động đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những nước
đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp hay không ?
Luận văn sử dụng dữ liệu bảng bao gồm 30 quốc gia đang phát triển có
thu nhập trung bình và thấp trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012, ước tính
bằng phương pháp FGLS để có thể xử lý tốt hiện tượng phương sai thay đổi
của mô hình.


5

Phần còn lại của bài viết được phân chia như sau:
Phần 2: Tổng quan những nghiên cứu trước đây: gồm những nghiên
cứu về mặt lý thuyết và thực nghiệm về các nhân tố tác động đến đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại những nước đang phát triển.
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu: gồm có mô hình nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
Phần 5: Kết luận.


6

2. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN FDI

hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của các sản
phẩm này bao gồm ba giai đoạn chủ yếu: giai đoạn sản phẩm mới, giai đoạn
sản phẩm chín muồi, giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.
Theo ông, khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong
chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có nhiều nhà
cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các
nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá, do đó dẫn tới quyết định cắt giảm
chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm
sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn.
Lý thuyết OLI của Dunning về FDI, đây là minh chứng thuyết phục
nhất về động cơ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được đưa ra bởi Dunning
(1980). Ông đã giải thích các nhân tố tác động đến FDI bao gồm: lợi thế về
quyền sở hữu (Ownership), về quốc gia (Location) và lợi thế quốc tế hóa
(Internalization) được xem như là khuôn khổ lý thuyết OLI.
Thứ nhất, các công ty nên có lợi thế về quyền sở hữu cho phép họ cạnh
tranh hiệu quả trong thị trường nội địa, ví dụ, quy trình sản xuất của công ty,
công ty có lợi thế cạnh tranh hơn các công ty trong nước, và nó cũng bao gồm
thương hiệu, bản quyền, công nghệ và kỹ năng quản lý.
Thứ hai, nước chủ nhà nên sở hữu những lợi thế cạnh tranh quốc gia,
điều này sẽ khuyến khích công ty nước ngoài đến trực tiếp sản xuất phục vụ


8

thị trường trong nước thay vì xuất khẩu vào nước đó, ví dụ, chi phí sản xuất
và vận chuyển thấp, ưu đãi thuế, rủi ro thấp, …
Và cuối cùng, lợi thế quốc tế hóa ( lợi thế công ty tự sản xuất ra sản
phẩm chứ không phải thông qua việc hợp tác với công ty tại nước chủ nhà )
giúp công ty xây dựng và khai thác năng lực của mình như chi phí vận chuyển
thấp, quản lý hiệu quả và kiểm soát chất lượng tốt, để sản xuất hơn là phụ

nhu cầu tiêu dùng tự nhiên và chính sách vĩ mô, vi mô của chính phủ đóng vai
trò quan trọng hơn.
Và cuối cùng, FDI tìm kiếm tài sản chiến lược, đối với hình thức này,
các nhà đầu tư sẽ mua lại tài sản của công ty nước ngoài để thúc đẩy mục tiêu
chiến lược trong dài hạn của họ, đặc biệt là giữ vững hoặc gia tăng khả năng
cạnh tranh trên toàn cầu.
2.2. Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến

FDI
Có nhiều bằng chứng thực nghiệm nhằm xác định các nhân tố tác động
lên dòng vốn FDI. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố được coi là nhân tố tác động
đến FDI trong mỗi nghiên cứu ở mỗi quốc gia. Vì vậy, rất khó để liệt kê các
nhân tố tác động, đặc biệt là theo thời gian một số nhân tố có thể có hoặc
không có ý nghĩa thống kê.
Do đó, phần xem xét lại bằng chứng thực nghiệm này sẽ tập trung vào
những nghiên cứu về các nhân tố tác động lên FDI tại các nước đang phát
triển, các nền kinh tế mới nổi và những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.


10

 Nghiên cứu của Agarwal (1980): Determinants of foreign direct
investment: A survey
Trong nghiên cứu của mình, Agarwal (1980) thực hiện khảo sát các
nhân tố tác động đến FDI tại các quốc gia đang phát triển đã phát hiện ra ba
nhân tố quan trọng bao gồm: sự bất ổn chính trị - nhân tố ngăn cản FDI, sự ưu
đãi dành cho đầu tư trực tiếp nước ngoài – nhân tố khuyến khích FDI, chi phí
lao động rẻ - lợi thế so sánh của các nước đang phát triển so với các nước phát
triển.
 Nghiên cứu của Shamsuddin (1994): Economic Determinants of

Kết quả cho thấy, một số biến có ý nghĩa thống kê thay đổi qua các năm.
Cụ thể là, biến rủi ro quốc gia có ý nghĩa thống kê trong năm 1982 nhưng
không có ý nghĩa thống kê trong năm 1977, điều này có thể do các nhà đầu tư
Mỹ trở nên thận trọng hơn đối với sự ổn định của quốc gia đó bởi vào đầu
những năm 1980 khi kinh tế thế giới đang trong giai đoạn suy thoái tồi tệ kể
từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và quy mô nợ công của các quốc gia
đang phát triển tăng lên mạnh mẽ. Biến khác biệt văn hóa và GDP/ người có ý
nghĩa thống kê trong năm 1977 nhưng không có ý nghĩa thống kê trong năm
1982.
Ngược lại các biến đại diện cho cơ sở hạ tầng như thông tin liên lạc và
giao thông vận tải có tương quan dương với FDI và có ý nghĩa thống kê trong
cả hai năm.
Đồng thời, do mẫu dữ liệu của các tác giả bao gồm cả những ngành công
nghiệp tìm kiếm lương thấp và kỹ năng thấp với những ngành đòi hỏi kỹ năng


12

cao tương ứng với mức lương cao, khiến cho tác động cuối cùng của lương có
thể bị xóa bỏ, do đó, hệ số của biến lương đại diện cho chi phí lao động không
có ý nghĩa thống kê trong hai năm nghiên cứu.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng phát hiện ra các biến thuộc về chính sách
như ưu đãi đầu tư (hệ số mang dấu dương), những quy định về hoạt động kinh
doanh (hệ số mang dấu âm), thuế suất có hiệu lực của nước chủ nhà (hệ số
mang dấu âm) có ý nghĩa thống kê và khác biệt khá lớn giữa những nước
đang phát triển với nước phát triển, giữa năm 1977 và năm 1982.
 Nghiên cứu của Beven và Estrin (2000): The Determinants of
Foreign Direct Investment in Transition Economies
Tương tự, Beven và Estrin (2000) sử dụng phương pháp dữ liệu bảng
và hồi quy hai bước để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến FDI tại các nền

EBRD), rào cản đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, tình trạng quan liêu của
chính phủ (liên quan đến vấn nạn tham nhũng ở nước nhận đầu tư).
Tuy nhiên, tác giả lại không tìm thấy tác động của lương lên dòng vốn
đầu tư trực tiếp trong mẫu của mình.
Ngoài ra, ngoại trừ biến tài nguyên thiên nhiên, những biến đại diện
cho điều kiện ban đầu như thời gian dưới chế độ cộng sản hay nỗ lực tự do
hóa trước chuyển đổi dường như cũng không có ảnh hưởng đến quyết định
của các nhà đầu tư nước ngoài.


14

Hơn nữa, các tác giả cũng nhận thấy, một quốc gia được các tổ chức
xếp hạng cao thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn các quốc gia còn lại.
 Nghiên cứu của Peter Nunnenkamp (2002): Determinants of FDI in
developing countries: Has globalization changed the rules of the
game?
Người ta tin rằng xu hướng toàn cầu hóa sản xuất và marketing có ý
nghĩa to lớn giúp các nước đang phát triển thu hút nguồn vốn FDI vào nước
mình. Sự bùng nổ của dòng vốn FDI vào những nước này bắt đầu từ những
năm 1990 đã cho thấy quan điểm của các công ty quốc gia xem đây là khu
vực tìm kiếm lợi nhuận tiềm năng.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng yếu tố quyết định và động lực
thúc đẩy FDI tại các nước đang phát triển sẽ thay đổi trong tiến trình toàn cầu
hòa. Do đó, các nước này sẽ không còn khả năng duy trì sự hấp dẫn kích thích
dòng vốn FDI vào nước mình.
Để kiểm định điều này, Peter Nunnenkamp (2002) đã thực hiện bài
nghiên cứu “ Các nhân tố tác động FDI tại các nước đang phát triển: Liệu
toàn cầu hóa có làm thay đổi luật chơi?” tại 28 quốc gia đang phát triển
được khảo sát trong ERT (2000) từ những năm cuối 1980 nhằm xem xét tác

SSA, trong công trình nghiên cứu của mình, Elizabeth Asiedu sử dụng
phương pháp dữ liệu bảng với tác động cố định.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status